THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG KINH DOANH của agribank quế võ bắc ninh - Pdf 24

ĐỀ TÀI :THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TRONG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VN CHI NHÁNH KCN HUYỆN
QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
LỜI MỞ ĐẦU
1: Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn nhưng
cũng không ít những thách thức. Các Ngân hàng thương mại Việt Nam phải nỗ lực
không ngừng để cải thiện về số lượng và chất lượng. Đặc biệt trong giai đoạn
2011-2014 khi nền kinh tế nói chung và ngân hàng nói riêng đã và đang gặp nhiều
khó khăn, để vượt qua giai đoạn đầy khó khăn và sóng gió này hệ thống Ngân hàng
Việt Nam đã và đang cố gắng thực hiện nhiều biện pháp tích cực. Trong đó Vốncó
vai trò hết sức quan trọng, Vốn được luân chuyển từ người thừa vốn tới người cần
vốn thông qua các trung gian tài chính, mà chủ thể nghiên cứu ở đây là ngân hàng
thương mại. Trong nhiều năm qua, ngân hàng thương mại đã có những chuyển biến
rõ rệt, không ngừng đổi mới, hoàn thiện căn bản hầu hết các nghiệp vụ. Hai nghiệp
vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất là nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ tín dụng cùng
một số nghiệp vụ khác như nghiệp vụ thanh toán…đang rất được chính phủ, ngành
Ngân hàng, cũng như các tổ chức kinh tế và cá nhân quan tâm.
Là một sinh viên kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng của trường Đại
học tài chính- quản trị kinh doanh, em đã thực tập tại Ngân hàng Công thương Việt
Nam – Chi nhánh KCN Quế võ . Sau thời gian thực tập tổng hợp, em đã được tìm
hiểu về tình hình hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP công thương VN –
chi nhánh KCN Quế Võ kết hợp với việc học tập và trau dồi kiến thức tại trường
em chọn đề tài “ Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng TMCP công thương
Việt Nam chi nhánh KCN huyện Quế võ ,tỉnh Bắc Ninh
2: Mục đích của đề tài nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến hoạt
động huy động vốn của ngân hàng ,cũng như sự cần thiết của hoạt động cho vay
.Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp mang tính khả thi giúp nâng cao hoạt động
chất lượng hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam.
3: Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

sự phát triển của ngân hàng, đến lượt mình sự phát triển của hệ thống ngân
hàng trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế.
Sản xuất phát triển dẫn đến lưu thông hàng hóa ngày càng được mở rộng,
khối lượng lưu thông ngày càng lớn, không chỉ trong mỗi địa phương, trong mỗi
quốc gia mà còn được lưu thông giữa các Quốc gia trong khu vực, giữa các khu
vực trên toàn thế giới. Tuy nhiên ở mỗi Quốc gia lại sử dụng những đồng tiền
khác nhau, với giá trị khác nhau, điều này gây rất nhiều khó khăn trong quá
trình lưu thông, trao đổi hàng hóa. Trước thực tế đó một số thương gia đã
chuyển sang kinh doanh hàng hóa đặc biệt, đó là đổi tiền và kinh doanh tiền tệ.
Công việc của các thương gia này đã góp phần quan trọng trong việc thu hẹp
khoảng cách giữa các đồng tiền khác nhau, giúp quá trình lưu thông hàng hóa
thuận tiện, tiết kiệm thời gian cho các nhà buôn, các thương gia. Mặt khác để
đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng lớn của thương gia, những người này
kiêm luôn việc giữ hộ và thanh toán hộ tiền, trong trường hợp cần thiết họ còn
tiến hành cho các nhà buôn vay tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán (với chi phí
thỏa thuận hay còn gọi là lãi suất).
Ngày nay, hệ thống ngân hàng phát triển hiện đại hơn, có nhiều loại hình
dịch vụ hơn rất nhiều so với thời kỳ sơ khai, tuy nhiên thì một số nghiệp vụ của
nó thì vẫn không thay đổi về bản chất, mà nó chỉ thuận tiện hơn, tiện lợi hơn về
hình thức, phục vụ đa dạng hơn. Hoạt động của hệ thống ngân hàng ngay từ khi
ra đời đã giữ vai trò quan trọng là huyết mạch và còn là thước đo sự hưng
thịnh, suy thoái, hay trì trệ của một nền kinh tế.
Tóm lại, có thể thấy rằng sự ra đời của hệ thống ngân hàng là kết quả của sự
phát triển kinh tế nói chung và lĩnh vực lưu thông hàng hóa nói riêng. Sự ra đời
đó có thể ví như một sáng kiến vĩ đại của nhân loại loài người.
Mặc dù trải qua lịch sử phát triển lâu dài nhưng cho đến nay, việc đưa ra
một khái niệm cụ thể về NHTM thì vẫn còn là điều gây nhiều tranh cãi của các
nhà Kinh tế, bởi tại mỗi một thời điểm khác nhau thì khái niệm lại có những
thay đổi, đây cũng là một đặc thù của lĩnh vực ngân hàng tài chính.
Theo các nhà Kinh tế học thế giới thì “NHTM là một loại hình doanh nghiệp

nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng
suất lao dộng, nâng cao hiệu quả kinh tế.
1.1.2.2.Ngân hàng thương mại góp phần tiết kiệm chi phí xã hội
Ngân hàng thương mại với hoạt động chuyên nghiệp trong cung cấp dịch vụ
thanh toán, dịch vụ ngân quỹ và các dịch vụ về tiền tệ khác cho nền kinh tế sẽ
giúp các đơn vị sản xuất kinh doanh tiết kiệm được thời gian và đẩy nhanh tốc
độ thanh toán.Điều đó giúp cho lưu thông hàng hoá tiền tệ diễn ra nhanh hơn,
góp phần phát triển kinh tế.
1.1.2.3. Ngân hàng thương mại là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô
nền kinh tế
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại hoạt
động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ
thực sự là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán của các ngân hàng thương mại trong
hệ thống, các ngân hàng đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong
lưu thông. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngân hàng trong nền kinh
tế, ngân hàng thương mại thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiến, tập hợp và
phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả và thực
thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô: “ Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng
dẫn dắt thị trường”.
1.1.2.4.Ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền
tài chính quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường khi các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng
được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các nưóc trên thế giới
ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển của mỗi quốc gia luôn
gắn với dự phát triển của nền kinh tế thế giới là một bộ phận cấu thành nên sự
phát triển đó.Vì vậy, nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập với nền tài
chính quốc tế và ngân hàng thương mại trong các hoạt động kinh doanh của
mình đã đóng một vai trò voo cùng quan trọng trong sự hoà nhập này.Với các
nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp

tránh rủi ro xảy ra và hoạt động của ngân hàng phải quán triệt các nguyên
tắc:
Nguyên tắc 1: Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích hiệu quả.
Nguyên tắc 2: Tiền vay phải được trả cả gốc và lãi.
Nguyên tắc 3: Đảm bảo tiền vay phải được thực hiện đúng quy định.
Các hình thức cụ thể của nghiệp vụ cho vay:
Cho vay ngắn hạn: Đây là hình thức sử dụng nhiều nhất ở các ngân hàng và
dưới các hình thức như cho vay bổ sung vốn huy động, cho vay theo giấy bảo
lãnh, cho vay theo nghiệp vụ thấu chi, cho vay chiết khấu giấy tờ có giá. Cho vay
ngắn hạn tạo được nguồn thu nhập đáng kể và tạo điều kiện cho ngân hàng
nâng cao vị thế của mình trong nền kinh tế.
Cho vay trung và dài hạn: là loại cho vay được thực hiện đối với những
chương trình dự án phát triển kinh tế xã hội, nó được thực hiện đưới các hình
thức sau: cho vay đầu tư, cho vay đồng tài trợ, cho thuê tài chính. Nghiệp vụ sử
dụng vốn có hiệu quả thì ngân hàng mới thu hút được nhiều khách hàng, tạo
điều kiện mở rộng nghiệp vụ huy động vốn.
Bảo lãnh là nghiệp vụ mà NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo
lãnh được thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh
ngân hàng khác bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận
bảo lãnh. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một
NHTM không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NHTM.
Chiết khấu của NHTM là hoạt động chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có
giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các
thương phiếu và các giấy tờ có gá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng
khác.
Cho thuê tài chính nghiệp vụ NHTM cho thuê tài chính nhưng phải thành lập
công ty cho thuê tài chính được thực hiện theo Nghị định Chính phủ về tổ chức
và hoạt động của công ty cho thuê tài chính,
1.1.3.3.Hoạt động cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Thực chất là các hoạt động cung cấp dịch vụ phục vụ khách hàng, nhằm thu

Tư vấn tài chính là việc mà các NHTM cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính,
tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty
tư vấn trực thuộc ngân hàng.
Bảo quản vật quý giá là việc NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật
giá, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo
quy định pháp luật.
1.2. Vốn và vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
thương mại
1.2.1.Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ
bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền.Để
thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và
có lợi nhuận thì đòi hỏi ngân hàng thương mại phải có một lượng vốn hoạt động
nhất định.
Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm về vốn của NHTM như sau: “Vốn của ngân
hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại
tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ
kinh doanh khác”.
Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của ngân hàng
thương mại. Về thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn
tiền tệ của chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn
rỗi. Họ chuyển tiền vào ngân hàng với các mục đích khác nhau: hoặc lấy lãi,
hoặc nhờ thu, nhờ chi hay là dùng các sản phẩm dịch vụ khác của ngân hàng.
Đây chính là họ chuyển quyền sử dụng vốn cho ngân hàng và số tiền mà ngân
hàng phải trả hay làm các dịch vụ chính là cái giá của quyền sử dụng các giá trị
tiền tệ đó. Nhờ việc có được nguồn vốn, các ngân hàng có thể tiến hành kinh
doanh: cho vay, bảo lãnh, cho thuê Nói chung vốn của ngân hàng chi phối toàn
bộ và quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của ngân hàng thương
mại.
1.2.2.Kết cấu của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

nhuận. Các quỹ này thuộc toàn quyền sử dụng của ngân hàng.
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần: Các khoản vay nợ trung và dài
hạn, ổn định có khả năng chuyển đổi thành cổ phần thì được coi là một bộ phận
vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng vốn theo các mục đích
kinh doanh của mình như có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và có thể không
phải hoàn trả khi đến hạn.
1.2.2.2.Vốn huy động.
Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương
mại. Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách
nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi. Ngân hàng có thể
huy động vốn từ dân cư, các tổ chức kinh tế – xã hội với nhiềuhình thức khác
nhau.
Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch): Đây là khoản tiền của các doanh
nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh
toán của ngân hàng. Khoản tiền gửi thanh toán này có thể được trả lãi (trả lãi
thấp) hoặc không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng. Người gửi tiền vào
ngân hàng để nhờ ngân hàng thu hộ tiền, trả hộ tiền với một mức phí thấp. Các
ngân hàng có thể sử dụng các số dư tiền gửi khách hàng vào các hoạt động của
mình.
Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội: Nhiều doanh nghiệp, tổ
chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ gửi tiền
vào ngân hàng để hưởng lãi. Tuy khoản tiền này không tiện lợi bằng tiền gửi
thanh toán (do khi cần tiền phải đến ngân hàng để rút) nhưng bù lại tiền gửi có
kỳ hạn lại có lãi suất cao hơn tuỳ theo độ dài của kỳ hạn được ghi trên hợp đồng.
Tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có
khoản tiền tạm thời nhàn rỗi. Họ gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các
mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó. Người gửi tiết kiệm
sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với
ngân hàng. Hiện nay tiền gửi tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồng thời là nơi
cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, để thu hút nguồn tiền này các ngân

mượn này phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, các
hình thức phát hành, chuyển đổi, thời hạn của các công cụ nợ
1.2.3.Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng Thương
Mại.
1.2.3.1.Đối với toàn bộ nền kinh tế.
Tiết kiệm và đầu tư là những cơ sở nền tảng của nền kinh tế. Tiết kiệm và đầu tư
có mối quan hệ nhân quả, tiết kiệm góp phần thúc đẩy, mở rộng phát triển sản
xuất kinh doanh, tăng cường đầu tư và đầu tư cũng góp phần khuyến khích tiết
kiệm. Nhưng trong nền kinh tế các khoản tiết kiệm thường nhỏ, lẻ và người tiên
phong trong việc tập hợp vốn hiệu quả nhất chính là các ngân hàng thương mại.
Thông qua các kênh huy động vốn, các khoản tiết kiệm chuyển thành đầu tư góp
phần làm tăng hiệu quả của nền kinh tế. Đối với những người có vốn nhàn rỗi:
Việc huy động vốn của ngân hàng trước hết sẽ giúp cho họ những khoản tiền lãi
hay có được các dịch vụ thanh toán đồng thời các khoản tiền không bị chết, luôn
được vận động, quay vòng. Đối với những người cần vốn: Họ sẽ có cơ hội mở
rộng đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của
ngân hàng. Việc huy động vốn của ngân hàng giúp cho nền kinh tế có được sự
cân đối về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Các cơ hội đầu tư luôn có điều
kiện để thực hiện. Quá trình tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện dễ dàng hơn
với việc huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Tuy việc huy động vốn có
thể thực hiện bằng nhiều kênh: thị trường chứng khoán, ngân sách nhà
nước nhưng trong điều kiện nước ta hiện nay thì huy động vốn qua các ngân
hàng thương mại vẫn là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất.
1.2.3.2. Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh: Để bước vào hoạt
động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng phải cần có vốn. Ngoài lượng vốn bắt
buộc phải có, ngân hàng phải huy động từ các nguồn khác. Ngân hàng đi vay để
cho vay. Vậy để có hoạt động cho vay thì phải có thứ để mà cho vay. Nguồn vốn
phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng. Đối với những ngân hàng lớn,
việc tham gia tài trợ cho những dự án lớn luôn dễ dàng hơn các ngân hàng nhỏ.

1.3.1.Khái niệm huy động vốn.
Huy động vốn của ngân hàng có thể hiểu là những công cụ, cách thức, phương
pháp và chương trình cụ thể nhằm thu hút sự chú ý của các cá nhân, các tổ chức
và từ đó gửi tiền vào ngân hàng trên cơ sở hai bên đều có lợi. Như vậy, có thể dễ
dàng nhận thấy công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại cũng là một
phần trong chính sách Marketing mà ngân hàng đang sử dụng, tuy nhiên nó
luôn được sự quan tâm chỉ đạo sát sao từ phía lãnh đạo ngân hàng.
1.3.2.Vai trò của nghiệp vụ huy động vốn đối với hoạt động kinh
doanh của ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt là “tiền
tệ’’ với đặc thù hoạt động kinh doanh là “đi vay để cho vay’’ nên nguồn vốn đối
với hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng có vai trò hết sức quan trọng, nó
phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh của mỗi ngân
hàng. Vốn là yếu tố quyết định đến khả năng sinh lời, khả năng cạnh tranh cũng
như khả năng phòng chống rủi ro của ngân hàng.
1.3.2.1. Vốn huy động là “nguyên vật liệu” đầu vào cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ doanh nghiệp nào muốn sản xuất kinh
doanh cũng cần có vốn, vốn quyết định đến khả năng kinh doanh của doanh
nghiệp. Đối với NHTM vốn là đối tượng kinh doanh chủ yếu, vốn là cơ sở để ngân
hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Nếu thiếu vốn NHTM không thể thực
hiện các hoạt động kinh doanh. Vì thế những ngân hàng có vốn lớn sẽ có thế
mạnh trong kinh doanh
1.3.2.2.Vốn huy động quyết định đến quy mô tín dụng của ngân hàng
Cụ thể, nếu ngân hàng có nguồn vốn lớn, dồi dào thì chắc chắn ngân hàng sẽ có
đủ khả năng để thực hiện đa dạng hoá sản phẩm của mình để đáp ứng tốt nhất
nhu cầu dịch vụ của khách hàng. Đồng thời nguồn vốn lớn còn có thể giúp ngân
hàng mở rộng mạng lưới chi nhánh, hiện đại hoá cơ sở vật chất…. Không những
vậy, với tiềm năng vốn lớn các NHTM có thể hoàn toàn tự quyết định lấy cơ hội
kinh doanh của mình, tự tạo ra một hình ảnh riêng cho ngân hàng, từ đó sẽ tạo

phân loại các hình thức huy động thì lại rất khác nhau. Điều này còn phụ thuộc
vào các tiêu chí được lựa chọn để phân loại.
1.3.3.1.Phân loại căn cứ theo thời gian.
Phân loại theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì nó liên quan
mật thiết đến tính an toàn và khả năng sinh lợi của nguồn vốn huy động cũng
như thời gian phải hoàn trả khách hàng. Theo thời gian, hình thức huy động
được chia thành:
Huy động ngắn hạn: Đây là hình thức huy động chủ yếu trong các ngân hàng
thương mại thông qua việc phát hành các công cụ nợ ngắn hạn trên thị trường
tiền tệ và các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngắn hạn, tiền gửi thanh toán Phần lớn
số nàyđược dùng để cho vay ngắn hạn (dưới 1 năm) hoặc được chuyển hoán kỳ
hạn để thực hiện cho vay trung hạn. Do thời gian ngắn nên lãi suất huy động
ngắn hạn thường thấp, tuy nhiên tính ổn định lại kém.
Huy động trung hạn: Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các
công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1
đến 5 năm). Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận
tiện. Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn.
Nguồn huy động trung hạn rất quan trọng và cần thiết để ngân hàng thực hiện
các hoạt động đầu tư, thay đổi công nghệ và cho vay trung, dài hạn với lãi suất
cao.
Huy động dài hạn: Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên
thị trường vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có
tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên). Do vậy lãi suất mà ngân hàng phải trả cũng
rất cao.
1.3.3.2.Phân loại căn cứ theo đối tượng huy động.
Huy động vốn từ dân cư: Đây là một khu vực huy động đầy tiềm năng cho các
ngân hàng. Ngân hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và
sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh.
Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn định .
Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội: Đây là nguồn huy động

Huy động tiền gửi không kỳ hạn: Đây là phần tiền huy động tương đối quan
trọng ở những nước phát triển có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt cao.
Mục đích của các khoản tiền gửi này không phải là để lấy lãi mà chủ yếu dùng để
thanh toán. Khách hàng gửi tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, các doanh
nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ liên
tục. Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào hoặc để trả cho người thứ
ba. Hình thức rút có thể là tiền mặt hay lấy qua hình thức thanh toàn bằng séc.
Đặc biệt người gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân hàng lấy mà có thể
rút qua các máy rút tiền tự động (máy ATM). Ngân hàng thường bảo quản loại
tiền gửi này trên hai tài khoản: tài khoản thanh toán và tài khoản vãng lai:
- Tài khoản thanh toán là loại tài khoản tiền gửi mà chủ tài khoản có toàn quyền
sử dụng số tiền trên tài khoản nhưng chỉ trong phạm vi số dư tiền gửi. Loại tài
khoản này luôn luôn có số dư có.
- Tài khoản vãng lai là tài khoản có thể dư có hoặc dư nợ, thường được sử dụng
cho các tổ chức kinh tế. Số dư có thể hiện tiền gửi của khách hàng còn số dư nợ
thể hiện khoản tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng vay.Với mục đích chủ
yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức lãi suất mà ngân
hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải trả lãi. Tuy nhiên ở
nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp (trong đó có Việt
Nam) và để tăng mức động viên tiền gửi, ngân hàng vẫn trả lãi cho tiền gửi này
(có những thời điểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm không
kỳ hạn). Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân hàng có các dịch vụ
đa dạng, sản phẩm ngân hàngchất lượng cao, hệ thống mạng lưới rộng rãi đáp
ứng tốt các nhu cầu của người gửi tiền.
Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức
lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí không phải
trả lãi. Tuy nhiên ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thấp
(trong đó có Việt Nam) và để tăng mức động viên tiền gửi,ngân hàng vẫn trả lãi
cho tiền gửi này (có những thời điểm được trả ngang bằng với lãi suất tiền gửi
tiết kiệm không kỳ hạn). Tỷ lệ huy động từ nguồn này sẽ là khá cao nếu ngân

doanh đầy biến động như hiện nay. Các ngân hàng thương mại có thểvay từ
nhiều nguồn:
- Vay từ các tổ chức tín dụng : Đó là các khoản vay thông thường mà các ngân
hàng vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ. Các
ngân hàng thường xây dựng các mối quan hệ tốt để khi thiếu hụt vốn có thể vay
lẫn nhau chứ không vay ngân hàng trung ương.
- Vay từ ngân hàng trung ương: Khi ngân hàng thương mại xảy ra tình trạng
thiếu hụt dự trữ bắt buộc hay mất khả năng thanh toán thì người cuối cùng mà
các ngân hàng có thể cầu cứu là ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương
cho vay dưới hình thức tái chiết khấu thương phiếu. Các ngân hàng thương mại
có thể mang các thương phiếu lên ngân hàng trung ương để vay. Tuy nhiên việc
vay này cũng có một số khó khăn do ngân hàng trung ương chỉ cho ngân hàng
thương mại một hạn mức tái chiết khấu và việc cho vay này lại nằm trong định
hướng của chính sách tài chính quốc gia. Dẫu sao đây cũng là một hình thức bổ
sung vốn cho ngân hàng thương mại cực kỳ quan trọng trong những thời điểm
nhất định.
c. Huy động qua phát hành các công cụ nợ.
Đây là hình thức huy động vốn có hiệu quả khá cao của các ngân hàng thương
mại. Trong qúa trình hoạt động, ở những thời điểm nhất định, ngân hàng thấy
cần phải huy động thêm vốn trước những cơ hội kinh doanh đầy hấp dẫn. Điều
đó có nghĩa là ngân hàng huy động vốn ở thế chủ động, có nghĩa là có đầu ra
mới tính đầu vào. Ngân hàng xác định rõ quy mô vốn huy động, loại tiền huy
động và đưa ra các mức chi phí hợp lý làm cho việc tạo vốn của ngân hàng
thành công nhanh chóng. Để vay trên thị trường, ngân hàng có thể phát hành kỳ
phiếu và trái phiếu.
Trái phiếu ngân hàng là một giấy tờ có giá, xác nhận khoản nợ của khách hàng
đối với người chủ ngân hàng với những cam kết như thanh toánmột số tiền xác
định vào một ngày xác định trong tương lai với thời hạn xác định cho trước.
Trái phiếu được phát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng,chủ yếu là để huy
động vốn trung và dài hạn.

trả lãi hấp dẫn hơn vì họ tin rằng ở đây đồng vốn của mình sẽ tuyệt đối an toàn.
-Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Trong một ngân hàng, nghiệp vụ huy động vốn chịu tác động trực tiếp từ các
hoạt động về sử dụng vốn. Mỗi ngân hàng đều có một chiến lược kinh doanh
riêng theo từng thời kỳ, tuỳ thuộc vào đặc điểm hoạt động của bản thân ngân
hàng và điều kiện môi trường kinh doanh. Từ đó, ngân hàng có thể đưa ra chiến
lược huy động vốn là thu hẹp hay mở rộng cho phù hợp với chính sách thu hẹp
hay mở rộng tín dụng của ngân hàng trong thời kỳ đó. Cơ cấu nguồn vốn có thể
thay đổi về tỷ lệ các khoản mục cấu thành, chi phí huy động có thể tăng hay
giảm. Nếu chiến lược kinh doanh được xây dựng đúng đắn phù hợp với điều
kiện bản thân ngân hàng, các nguồn vốn được khai thác tối đa và hợp lý thì
công tác huy động vốn phát huy hiệu quả.
- Chính sách lãi suất của ngân hàng
Lãi suất được coi là giá cả của các sản phẩm dịch vụ tài chính. Ngân hàng sử
dụng hệ thống lãi suất tiền gửi như một công cụ quan trọng trong việc huy động
tiền gửi và thay đổi quy mô nguồn vốn. Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn,
ngân hàng cần ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện những ưu đãi về giá
cho những khách hàng lớn, gửi tiền thường xuyên. Hơn nữa hệ thống lãi suất
cần linh hoạt, phù hợp với quy mô và cơ cấu nguồn vốn. Tuy nhiên, ngân hàng
cũng cần phải chú ý rất nhiều đến lãi suất tiền vay để có thể có các hoạt động
kinh doanh hợp lý, đem lại các khoản thu nhập cao nhất cho ngân hàng để bù
đắp được các khoản chi phí đã bỏ ra và vẫn mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
- Mạng lưới huy động vốn của ngân hàng
Mạng lưới hoạt động của ngân hàng và các hình thức huy động vốn càng đa
dạng, phong phú thì kết quả huy động vốn càng nhiều về số lượng do việc thực
hiện được dịch vụ trọn gói và mở rộng dịch vụ ngân hàng. Các khoản tiền tiết
kiệm của dân cư thường là các khoản tiền nhỏ. Vì vậy, nếu việc tiếp cận với ngân
hàng khó khăn sẽ tạo ra cho khách hàng tâm lý ngại đến ngân hàng. Với một
mạng lưới rộng khắp, tạo ra sự dễ dàng trong việc tiếp cận ngân hàng của
người dân thì ngân hàng sẽ dễ dàng thu hút được các khoản tiền gửi đó một

lực, được đào tạo một cách bài bản, có chuyên môn nghiệp vụ cao, đồng thời
phải nắm bắt được những kiến thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Ngoài những
yêu cầu về nghiệp vụ thì một cán bộ tín dụng phải có tư cách phẩm chất đạo đức
tốt, liêm khiết và tuân thủ pháp luật, các quy định của ngân hàng. Mặt khác, tổ
chức nhân sự không hợp lý tạo nên một chi phí bất hợp lý đối với nguồn nhân
lực như vậy, hiệu quả huy động vốn của ngân hàng sẽ giảm sút.
- Mạng lưới chi nhánh
Ngoài việc quan tâm đến lãi suất, dịch vụ tiện ích của ngân hàng, người gửi
tiền còn quan tâm đến vấn đề thuận tiện trong việc gửi tiền. Nhất là các khoản
tiết kiệm của dân cư thường là những khoản không lớn nên người dân rất ngại
đi một quãng đường xa đến vài cây số để gửi tiền chẳng thà để cất giữ ở nhà còn
hơn. Vì vậy, để huy động được khoản tiền gửi của dân chúng thì nhất thiết ngân
hàng phải mở rộng mạng lưới chi nhánh và thực hiện tốt công tác tổ chức mạng
lưới phục vụ.
1.3.4.2. Nhân tố khách quan
Bên cạnh các yếu tố chủ quan bên trong ngân hàng, thì công tác huy động vốn
của NHTM còn chịu sự ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố khách quan nằm bên
ngoài sự kiểm soát của ngân hàng.
-Yếu tố tâm lý khách hàng
Đây là một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động huy động vốn
của ngân hàng. Thông thường ở các nước phát triển tiên tiến, người dân
thường sử dụng các dịch vụ tiện ích của ngân hàng, mà ít khi dùng tiền mặt, do
vậy lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế là rất nhỏ, điều này sẽ tạo điều
kiệm thuận lợi cho hoạt động huy động vốn của NHTM. Nhưng ngược lại, ở các
nước đang phát triển, người dân vẫn giữ thói quen tiêu dùng tiền mặt trong
thanh toán, vì vậy hoạt động huy động vốn của các ngân hàng tại đây sẽ gặp khó
khăn.
-Môi trường kinh tế
Nền kinh tế có ổn định, phát triển bền vững, thu nhập bình quân đầu
người có cao, trình độ dân chí của dân cư có cao, thì khả năng huy động vốn của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status