SKKN Phát huy tính tích cực của học sinh trong giảng dạy môn tiếng anh 8, 9 - Pdf 24

1
Tên đề tài: PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH
TRONG GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG ANH 8, 9
Tác giả: Trần Thanh Dũng
Đơn vị: Trường THCS Hoài Hương-Hoài Nhơn-Bình Định

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ :
1. Thực trạng:
Qua thực tế giảng dạy và dự giờ nhiều giáo viên tôi nhận thấy học sinh
ở các lớp 8, 9 học rất trầm, ít phát biểu, trình độ các em khá chênh lệch, trong
những tiết học đầu tiên, chỉ những em khá trở lên hay phát biểu xây dựng bài
còn lại thì không tham gia các hoạt động, vì vậy giờ dạy không đạt được mục
tiêu như mong muốn. Qua quá trình tìm hiểu học sinh khối 8, 9 tôi đã tìm ra
một số nguyên nhân:
1.1. Sự thay đổi về cấu trúc, nội dung sách giáo khoa.
Cấu trúc sách giáo khoa lớp 8, 9 có nhiều thay đổi. Trước đó, ở lớp 6, 7
các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết được phối hợp thường xuyên trong các tiết
học; lượng kiến thức còn ít, đơn giản (từ vựng và ngữ pháp), các em ít gặp
khó khăn khi thực hiện các yêu cầu học tập của giáo viên. Đối với lớp 8, 9 các
kỹ năng này bắt đầu được rèn luyện chuyên sâu hơn qua các kĩ năng nghe,
nói, đọc, viết. Tuy bài khóa trong chương trình sách giáo khoa tiếng Anh 8, 9
được xây dựng theo các chủ điểm có nội dung gần gũi với cuộc sống hằng
ngày của học sinh, nhưng cũng có một số bài nội dung chưa thật sự phù hợp
hoặc một số bài khóa tương đối dài, chứa đựng một lượng lớn từ mới, một số
bài bài tập tương đối khó với học sinh; một số bài tập trong sách giáo khoa
thiết kế quá dễ không phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh. Điều này đòi
hỏi giáo viên linh hoạt thiết kế các bài tập, các hoạt động luyện tập sao cho
phù hợp với đối tượng học sinh hơn.
1.2. Về phía học sinh :
2

-Một số giáo viên dạy theo lối mòn rập khuôn không sáng tạo, một số
chưa chịu khó thiết kế các hoạt động giúp học sinh thực hành hoặc áp đặt kiến
thức làm cho học sinh không có cơ hội để thể hiện ý kiến của mình. Bên cạnh
đó giáo viên còn chưa quan tâm đến các đối tượng yếu-kém vì sợ không hoàn
thành các nội dung bài trong một tiết dạy. Việc hướng dẫn học sinh học ở nhà
của giáo viên chưa thực sự chú trọng nên dẫn đến tình trạng học sinh không
biết làm gì hoặc khó quá làm không ra.
-Ít tổ chức các hoạt động cặp, nhóm dẫn đến học sinh không có cơ hội
để rèn luyện và vận dụng sáng tạo vào các tình huống giao tiếp.
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:
Tăng cường sự tham gia tích cực của học sinh vào các hoạt động học
tập, từ đó học sinh chủ động tiếp thu kiến thức và vận dụng kiến thức trong
các tình huống giao tiếp cũng như huy động kiến thức để làm các bài kiểm tra,
các bài thi đạt kết quả cao nhất.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Tìm hiểu, vận dụng các phương pháp dạy học tích cực qua quá trình
giảng dạy môn Tiếng Anh 8, 9 tại trường THCS Hoài Hương.
II. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:
1. Cơ sở lý luận và thực tiễn:
1.1. Cơ sở lý luận:
Mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển
tính năng động , sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận
biết và giải quyết vấn đề cho học sinh. Để đạt được mục tiêu này, việc đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh là chủ thể hoạt động,
khuyến khích các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của các em
trong quá trình dạy học là rất cần thiết.
Hiện nay trong nhà trường phổ thông, cũng giống như các bộ môn
khác, việc dạy và học tiếng Anh đang diễn ra cùng với sự đổi mới phương
pháp giảng dạy, áp dụng các kĩ thuật dạy học mới, thực hiện giảm tải nội
4

-Học sinh phải tự giác, chủ động, độc lập trong học tập, có nhu cầu nhận
thức cao. Điều đó có nghĩa là học sinh phải luôn thực hiện tốt nhiệm vụ học
tập của mình, hăng hái tham gia vào các hoạt động học tập, chủ động tiếp thu
kiến thức, chỉ tìm đến sự giúp đỡ của giáo viên khi thực sự bế tắc.
-Có động cơ học tập đúng đắn: học để chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
và hoàn thiện nhân cách theo yêu cầu xã hội.
-Chăm chú nghe giảng, hăng hái xây dựng phát biểu bài; đào sâu suy
nghĩ, đặt ra những câu hỏi, lật lại vấn đề nếu chưa thấy hài lòng với những
kiến thức giáo viên truyền đạt; học sinh luôn luôn có óc hoài nghi khoa học,
thích tìm hiểu, khám phá, không thụ động chấp nhận một cách máy móc
những gì thầy cô dạy; vì “hỏi một câu chỉ dốt trong chốc lát, nhưng nếu không
hỏi sẽ dốt suốt đời” (ngạn ngữ phương Tây).
-Học sinh phải biết lập ra kế hoạch học tập phù hợp: phải đặt cho mình
một chương trình làm việc hàng ngày, hàng tuần, tháng, năm. Có những hình
thức tự học phù hợp (ngoài yêu cầu tự học của giáo viên), tích cực tham gia
các hoạt động học tập tích cực như: hoạt động cặp, nhóm, thảo luận, nghiên
cứu …
-Có ý chí vượt qua những khó khăn bên ngoài và khó khăn bên trong;
biết chủ động tìm ra cái mới, thiết lập mối quan hệ giữa tri thức cũ và tri thức
mới bằng cách: lập đề cương, hệ thống hóa kiến thức, tóm tắt… để từ đó có
thể dễ dàng vận dụng một cách linh hoạt trong việc giải quyết các tình huống,
nhiệm vụ lý luận, thực tiễn trong học tập cũng như cuộc sống hằng ngày.
-Bên cạnh đó, một điều quan trọng là học sinh phải luôn biết tự kiểm tra
đánh giá việc học của mình để có hướng phấn đấu và rèn luyện.
Mỗi học sinh thể hiện tính tích cực khác nhau, tuy nhiên nếu huy động
hết khả năng và mức độ tích cực tối đa của bản thân thì chắc chắn sẽ đạt được
những kết quả tốt đẹp.
Để phát huy tốt tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học
tập, thì chúng ta cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt
6

B. NỘI DUNG
I. Mục tiêu:
Đề tài này tập trung vào một số giải pháp cơ bản mà giáo viên cần thực
hiện nhằm kích thích học sinh tham gia luyện tập trên lớp một cách tích cực
và chủ động để giúp học sinh cảm thấy thoải mái, hứng thú hơn, tự tin hơn
trong việc thực hành ngôn ngữ tại lớp và chủ động huy động vốn kiến thức đã
tích luỹ được để bắt chước, tìm tòi cách ứng xử và ứng xử sáng tạo trong các
tình huống giao tiếp cũng như vận dụng trong kiểm tra, thi cử.
II. Mô tả giải pháp của đề tài:
1. Thuyết minh tính mới:
1.1. Để tăng cường tính tích cực của học sinh, giáo viên cần phải tích cực:
Để phát huy được tính tích cực của học sinh trong giảng dạy, trước hết
giáo viên phải có tâm huyết, phải tích cực. Tính tích cực của giáo viên thể
hiện ở các việc làm sau:
- Tạo ra các tình huống dạy học hợp lí. Giáo viên không phải truyền
giảng nữa mà là dẫn dắt học sinh vào các tình huống dạy học để học sinh tự
giải quyết vấn đề học tập.
- Luôn gợi ý cho học sinh tranh luận, suy nghĩ, phải đặt vấn đề cho
chính học sinh là người tự phát hiện ra tri thức cần chiếm lĩnh thông qua việc
giải quyết vấn đề. Do đó, để thực hiện được tính tích cực này, giáo viên phải
đầu tư nhiều thời gian xây dựng các hệ thống câu hỏi, các hoạt động học tập
kích thích tư duy, tính tích cực của học sinh.
- Trong quá trình tranh luận để giải quyết vấn đề thì giáo viên phải luôn
tôn trọng các ý kiến của học sinh; không coi mình là nhất, luôn luôn đúng.
Giáo viên chỉ là người bên cạnh học sinh trong lúc giải quyết vấn đề cũng như
tranh luận, không phê phán bất kì ý kiến nào của học sinh mà chỉ nhẹ nhàng
dẫn dắt học sinh đi đúng hướng.
- Giáo viên phải luôn tìm tòi những ví dụ minh họa thực tiễn, dễ hiểu,
gần gũi với cuộc sống học sinh. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải sưu tầm sách
8

sung và mở rộng kiến thức của mình về nội dung cần giảng, chuẩn bị một số
đồ dùng dạy học theo hướng mà giáo viên muốn phát triển bài. Ngoài ra, giáo
viên có thể sử dụng các phương tiện khác dễ tìm kiếm trong học đường, gia
đình hay có thể tự làm để dùng vào việc dạy học. Có như vậy thì giáo viên
mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động
viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi
của học sinh.
1.2. Tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa giáo viên và học sinh:
Việc quan trọng mà người giáo viên cần phải làm đó là: luôn tìm hiểu
tâm lý, khả năng tiếp thu và trình độ phát triển của học sinh, kể cả hoàn cảnh
của các em. Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh cần được cải thiện một
cách gắn bó, thân mật để giáo viên có thể hiểu học sinh hơn. Bởi mỗi học sinh
là một chủ thể khác nhau về tâm–sinh lý, trình độ và hoàn cảnh, nên giáo viên
không thể áp dụng mọi hình thức dạy học giống nhau. Cũng thông qua mối
quan hệ gắn bó này mà giáo viên dễ dàng thu được các tín hiệu ngược từ học
sinh, biết được các em tiếp thu kiến thức ở mức độ nào, từ đó điều chỉnh nội
dung, phương pháp dạy học,… phù hợp hơn.
Thêm vào đó giáo viên phải luôn rèn luyện nhân cách của mình để làm
gương tốt cho học sinh: từ tác phong, ngôn từ cho đến tính cách… Bởi mối
quan hệ gắn bó, nhân cách tốt sẽ tạo cho các em niềm tin tưởng và hứng thú
để tích cực học tập. Cần phải tạo một không khí lớp học thân thiện và hợp tác
lấy “động viên, khuyến khích” làm trọng. Giáo viên cần có thái độ tích cực
đối với lỗi ngôn ngữ của học sinh, giúp học sinh học tập từ chính lỗi học sinh
và bạn bè.
1.3. Điều chỉnh một số bài tập trong sách giáo khoa, bổ sung các bài tập
thực hành phù hợp với chương trình nhằm đáp ứng các đối tượng học
sinh đang giảng dạy:
Một số bài tập trong sách giáo khoa được thiết kế quá dễ hoặc quá khó
đối với học sinh. Vì vậy, khi chuẩn bị cho một tiết dạy giáo viên cần điều
10

1.4. Tạo môi trường tiếng Anh trong lớp học:
Tạo môi trường học tiếng Anh trong trường và lớp học để học sinh có
nhiều cơ hội luyện tập sử dụng ngôn ngữ trong các giờ học. Để dạy, học và sử
dụng tiếng Anh có hiệu quả cần phải có “môi trường sử dụng”. Nếu học tiếng
Anh mà không có môi trường sử dụng thì tiếng Anh như là một ngôn ngữ
chết. Muốn tạo được một môi trường học tập năng động và hấp dẫn, trong đó
có sự phối hợp tích cực giữa thầy và trò, vai trò của giáo viên là phải tạo ra
mọi tình huống, mọi khả năng để hướng dẫn các hoạt động của học sinh trong
giờ học tùy theo mục tiêu, nội dung bài học. Thường xuyên sử dụng tiếng
Anh trong lớp học để đặt học sinh vào tình huống bắt buộc phải sử dụng tiếng
Anh. Đồng thời, giáo viên cần vận dụng mọi thao tác, phương tiện và cử chỉ
điệu bộ để tăng cường thúc đẩy các hoạt động giao tiếp. Bên cạnh đó phải biết
cách phát huy triệt để các phương tiện dạy học.
1.5. Thường xuyên tổ chức các hoạt động cặp, nhóm:
Hoạt động cặp, nhóm làm tăng sự tham gia của học sinh, sự tham gia
nhiều không những cuốn hút được những học sinh tích cực mà còn cả những
học sinh rụt rè nữa. Học sinh sẽ thấy thoải mái hơn khi giao tiếp trong các
nhóm nhỏ vì vậy, có thể tự diễn đạt ngôn ngữ một cách tự nhiên hơn.
Thông thường học sinh thích hoạt động theo nhóm hơn là phải trả lời
giáo viên trước lớp bởi vì khi giao tiếp trong nhóm nhỏ kiểu ngôn ngữ các em
dùng để diễn đạt thường cụ thể, thân mật và các em có điều kiện để thử
nghiệm ngôn ngữ mà không bị áp lực từ bên ngoài.
Mặc khác khi được hoạt động cặp, nhóm học sinh có nhiều điều kiện để
giúp đỡ nhau hơn, các em sẽ học nhau một cách hữu thức hay vô thức thông
qua việc chữa lỗi cho nhau và bổ sung kiến thức cho nhau và cùng nhau phát
triển các kĩ năng.
Khi tổ chức cho học sinh hoạt động cặp, nhóm, giáo viên cần lưu ý một
số vấn đề sau:
12
-Thứ nhất, giáo viên cần chuẩn bị kỹ nội dung để học sinh thảo luận

khi cho học sinh thảo luận theo nhóm hoặc cặp sau đó so sánh kết quả với
những cặp, nhóm khác để đi tới đáp án đúng nhất.
1.6. Phát huy tính tích cực của học sinh trong giảng dạy các kĩ năng.
1.6.1. Giới thiệu ngữ liệu mới.
Giới thiệu ngữ liệu có thể là giới thiệu nội dung có liên quan chủ đề bài
học, có thể là giới thiệu từ vựng, ngữ pháp, hay chức năng ngôn ngữ thông
qua bài hội thoại, đoạn văn. Giáo viên cần phối hợp với tranh, giáo cụ trực
quan để làm rõ tình huống, ngữ cảnh của bài hội thoại, chủ đề đoạn văn thông
qua đó làm rõ nghĩa của từ mới hay chức năng, cách sử dụng của cấu trúc
mới. Chú ý tạo điều kiện cho học sinh tự khám phá thông tin mới qua các thủ
thuật gợi mở nhằm giúp học sinh hiểu bài một cách chủ động và tích cực hơn.
Tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu ngữ liệu mới
Như đã đề cập, điểm nổi bật ở phương pháp mới là tạo cho học sinh
được tham gia vào quá trình giới thiệu ngữ liệu mới.
Trong giai đoạn giới thiệu ngữ liệu mới, thông thường giáo viên đóng
vai trò chính, vai trò truyền thụ, học sinh đóng vai tiếp nhận, thụ động là chủ
yếu. Tuy nhiên, nếu giáo viên tạo được điều kiện cho học sinh tham gia vào
quá trình này, kết quả tiếp thu bài của các em sẽ tốt hơn nhiều.
Để làm được điều đó, giáo viên cần tìm kiếm và sử dụng những thủ
thuật phát huy sự chủ động suy đoán, tự phát hiện của học sinh. Ví dụ, phát
hiện và nhận biết cấu trúc hay từ mới và tự rút ra mẫu cấu trúc của các mục
ngữ pháp, hoặc đoán nghĩa từ trong ngữ cảnh, tự giải thích nghĩa từ bằng vốn
từ có sẵn, cho từ đồng nghĩa, hoặc trái nghĩa,v.v.
Sử dụng phối hợp các kỹ năng trong khi giới thiệu ngữ liệu mới
Trong quá trình giới thiệu ngữ liệu, giáo viên nên phối hợp nhiều các
kỹ năng với nhau để giới thiệu mục dạy về từ vựng, cấu trúc , ví dụ giới thiệu
qua nói, sau đó học sinh nghe và nhắc lại; học sinh nhìn mẫu được viết trên
bảng, học sinh tái tạo qua nói, nghe, viết, đọc; học sinh xây dựng các bài hội
14
thoại theo mẫu qua nói nghe trong nhóm sau đó viết lại hoặc ngược lại, chuẩn

15
Tôi đã gợi mở cho học sinh nêu các nguyên nhân làm ô nhiễm đại
dương theo ý kiến riêng của các em (có thể nói bằng Tiếng Việt nếu cần), sau
đó tôi cung cấp cho các em một số từ mới cần thiết. Với sự chuẩn bị này, học
sinh có thể biết nội dung bài học hôm nay là gì và lôi cuốn các em ngay vào
bài mới một cách nhẹ nhàng.
1.6.3. Dạy kĩ năng nói (Speak)
Không giống như các kĩ năng khác, việc giúp học sinh rèn luyện kĩ
năng nói thường gặp một số khó khăn sau:
-Học sinh gặp khó khăn khi phải trình ý kiến bằng ngoại ngữ, lo lắng vì
sợ sai, sợ bị phê bình, cảm thấy ngượng
-Học sinh không biết nói gì vì vốn từ vựng quá ít.
-Một số học sinh tham gia hoạt động, số còn lại không nói gì cả.
Vì vậy khi dạy kĩ năng nói, giáo viên cần tổ chức các hoạt động nhằm
giúp học sinh ôn lại từ vựng cũng như cung cấp một số từ cần thiết để giúp
các em tự tin hơn khi luyện tập, đồng thời giáo viên cần phối hợp sử dụng
thường xuyên các hình thức luyện tập nói theo cặp (pairs) hoặc theo nhóm
(groups) để các em có nhiều cơ hội sử dụng tiếng Anh trong lớp. Tuy nhiên
khi tổ chức hoạt động cặp, nhóm giáo viên cần lưu ý những điều đã trình bày
ở trên. Ngoài ra, giáo viên cần tổ chức các hoạt động để có sự thi đua giữa các
nhóm, tạo không khí học tập sôi nổi. Với từ ngữ nào học sinh muốn diễn đạt
bằng tiếng Anh nhưng không được, có thể cho phép học sinh dùng tiếng Việt
đặc biệt khi học sinh nói sai, phát âm không đúng thì giáo viên không nên
ngắt lời cứ để học sinh nói tự nhiên, sau đó mới sửa lỗi, đối với học sinh trung
bình yếu, giáo viên cần đặt nhiều gợi ý, câu hỏi đơn giản hoặc chẽ nhỏ vấn đề
để học sinh không mất tự tin khi luyện tập.
Ví dụ: Phần Speak ở Unit 2- Anh 9
Vì kênh hình trong sách giáo khoa chỉ hạn chế một số loại quần áo nhất
định, vì vậy tôi đã sưu tầm thêm một số tranh ảnh và tên gọi về những loại
quần áo khác để giúp các em luyện tập đa dạng hơn và hiệu quả hơn.

-Giới thiệu bài đọc: Dùng các thủ thuật thích hợp để vào bài, giới thiệu
chủ đề bằng các câu hỏi gợi mở, hỏi để khai thác kiến thức sẵn có của học
sinh hay ôn lại bài cũ có liên quan tới bài mới rồi dẫn dắt vào bài mới.
-Trình bày, giới thiệu nội dung bài đọc thường kèm theo tranh minh
họa, đồng thời phối hợp giới thiệu cấu trúc mới, từ mới, sử dụng các thủ thuật
giới thiệu ngữ liệu mới Nếu bài đọc dài có thể phân thành từng phần nhỏ để
giải quyết.
-Hướng dẫn, yêu cầu học sinh rèn các loại kỹ năng đọc như đọc lướt, để
lấy thông tin, đọc kỹ để lấy thông tin chi tiết
-Đọc to để luyện phát âm một số từ vựng hoặc ngữ liệu nếu cần.
-Học sinh thực hành ngữ liệu mới tức là thực hành các tasks trong sách
giáo khoa sau khi được giáo viên hướng dẫn kỹ năng đọc.
-Củng cố, tóm tắt, xây dựng lại bài đọc như thiết kế thêm các tasks mới
có nội dung không trùng lặp với các tasks của sách giáo khoa dưới nhiều dạng
khác nhau sao cho phù hợp với đối tượng học. Đây là phần rất cần thiết và
quan trọng tuy nhiên phải lựa chọn các tasks mới phù hợp, vừa sức học sinh.
-Mở rộng các hoạt động, bài tập nối tiếp phối hợp với các kỹ năng khác
(follow-up activities with other skills) như nghe –nói- đọc- viết ở mức độ có
thể.
(Phương pháp dạy tiếng Anh-Nguyễn Hạnh Dung)
Khi hướng dẫn học sinh khai thác các tasks, giáo viên cần giúp học sinh
thường xuyên liên hệ với nội dung bài đọc để khẳng định ý kiến của mình, rèn
kĩ năng đọc hiểu cho học sinh, không nên áp đặt kiến thức cho học sinh.
1.6.5. Dạy kĩ năng viết (Write)
Nhìn chung các bài viết ở lớp 8,9 thường bắt đầu bằng một outline (dàn
ý), một bài viết mẫu, hoặc những từ, cụm từ gợi ý. Giáo viên giới thiệu từ
vựng hoặc tình huống thông qua tranh ảnh hoặc qua hoạt động đọc hiểu, học
sinh nắm bắt cách trình bày một bài viết theo mục đích hay yêu cầu nhất định.
Sau đó học sinh sẽ thực hiện bài viết theo yêu cầu đề ra, có hướng dẫn, gợi ý
18

S: I met my aunt, Mrs. Lien.
T: What have you visited?
S: I've visited magnificent caves, limestones and beautiful beaches.
etc.
- Viết bài mẫu với hệ thống câu trả lời trên, sử dụng mẫu viết thư đã
học ở lớp 8 và các từ nối cần thiết (giáo viên có thể gợi ý).
- Yêu cầu với từng đối tượng học sinh (chia nhóm):
+ Với học sinh yếu, trung bình: Use other words instead of the
underlined ones to write your letter.
+ Với học sinh khá giỏi: Write a similar letter to your family. Add more
information.
Hướng dẫn thông qua bài viết mẫu:
- Học sinh đọc yêu cầu của bài viết.
- Giáo viên giải thích yêu cầu của bài.
- Học sinh đọc bài viết mẫu (a).
- Giáo viên đặt câu hỏi kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh.
- Yêu cầu học sinh tìm những từ, câu có thể thay thế.
- Giải thích yêu cầu của bài viết (b).
- Phân đối tượng học sinh và yêu cầu viết bài.
Việc chữa lỗi bài viết đóng vai trò qua trọng trong việc phát triển kĩ
năng viết cho học sinh. Vì vậy giáo viên không nên chữa lỗi theo kiểu chấm
bài mà cần phải giúp học sinh tự chữa lỗi cho nhau về từ vựng, cấu trúc để
các em khắc phục trong các bài viết sau.
1.7. Thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh.
Học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động khi các em cảm thấy
hứng thú đối với môn học và thấy được sự tiến bộ của mình. Do vậy, ngoài
việc sử dụng các tình huống thách đố nhằm hấp dẫn, lôi cuốn học sinh vào
những hoạt động trên lớp, giáo viên còn phải biết khích lệ, động viên các em
trong học tập.
20

động vận động.
+ Luật chơi đơn giản để học sinh dễ nhớ, dễ thực hiện. Cần đưa ra các
trò chơi có nhiều học sinh tham gia để tăng cường kỹ năng học tập hợp tác.
+ Các dụng cụ chơi cần đơn giản, dễ làm hoặc dễ tìm kiếm tại chỗ
- Chọn quản trò chơi có năng lực phù hợp với yêu cầu của trò chơi.
- Tổ chức chơi vào thời gian thích hợp của bài học để vừa làm cho học
sinh hứng thú học tập vừa hướng cho học sinh tiếp tục tập trung các nội dung
khác của bài học một cách có hiệu quả.
Ví dụ: Bài 3 phần Speak lớp 8, tôi sử dụng trò chơi Kim's Games.

Tôi cho học sinh quan sát tranh sau đó tổ chức hai nhóm thi viết tên các
đồ vật trong tranh để giúp học sinh ôn lại vốn từ vựng. Vì vậy học sinh vận
dụng vào việc luyện tập nói đạt hiệu quả, lôi cuốn được tất cả các đối tượng
tham gia.
22
2. Khả năng áp dụng:
-Thời gian áp dụng: Từ năm học 2010-2011.
-Khả năng thay thế giải pháp hiện có: Phát huy tính tích cực của học sinh
trong giảng dạy từng kĩ năng.
-Khả năng áp dụng: Các giải pháp mà tôi đưa ra có thể sử dụng trong tất cả
các tiết dạy ở các lớp 8, 9. Tùy vào từng kĩ năng mà giáo viên phải biết cách
vận dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả.
3. Lợi ích kinh tế-xã hội:
-Giáo viên phát huy được vai trò thiết kế, tổ chức các hoạt động một cách
hiệu quả.
-Giáo viên tăng cường đổi mới phương pháp, áp dụng các kĩ thuật dạy học
mới kết hợp với việc ứng dụng công nghệ thông tin để có thể đạt được mục

học tập ở trên lớp, tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác;
cần kết hợp đánh giá của thầy với sự tự đánh giá của trò, hướng dẫn học sinh
phát triển năng lực tự đánh giá và tạo điều kiện để học sinh tham gia đánh giá
lẫn nhau. Có như vậy thì việc giảng dạy Tiếng Anh mới đạt được hiệu quả.
Qua quá trình đúc kết rút kinh nghiêm từ các bài dạy và một số kinh
nghiệm tích góp từ đồng nghiệp tôi đã có một số kinh nghiệm phát huy tính
tích cực học tiếng Anh cho học sinh lớp 8, 9 mà tôi đã áp dụng và đạt được
kết quả nhất định.
Kết quả học kì I năm học 2010-2011:
Khối lớp SL G K TB Y Kém
8 81 5
(6,2%)
16
(19,7%)

26
(32,1%)
29
(35,8%)
5
(6,2%)
9 121 12
(9,9%)
26
(21,5%)
35
(28,9%)
42
(34,7%)
6

-Cần tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, không ngừng trau dồi
kiến thức, phát huy tinh thần nhiệt tình vì học sinh thân yêu.
-Tích cực sử dụng đồ dùng dạy học, tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin để các tiết dạy sôi nổi hơn, hiệu quả hơn.
2. Đối với nhà trường:
-Tạo điều kiện về thời gian để giáo viên đầu tư sâu hơn vào việc chuẩn
bị cho các tiết dạy.
-Trang bị thêm các phương tiện dạy học để giáo viên có điều kiện ứng
dụng công nghệ thông tin.
-Cần tổ chức các hoạt động giúp học sinh có cơ hội sử dụng tiếng Anh
trong môi trường giao tiếp.
Tôi cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là do tôi viết, không sao chép
của người khác. Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hoài Hương, ngày 22 tháng 2 năm 2012
Người viết

Trần Thanh Dũng

25
ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TRƯỜNG:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status