- 1 -
ĐẶT VẤN ĐỀ
Qua nghiên cứu các tài liệu sách tham khảo phục vụ cho học sinh và rút kinh
nghiệm từ các kì thi học sinh giỏi, thi vào các trường chuyên của học sinh. Bản thân
tôi nhận thấy hầu hết các tài liệu, bài tập biên soạn đã chú ý đến nội dung chương
trình, có hướng dẫn phương pháp giải bài tập, nhưng chưa có hệ thống các kiến thức
hỗ trợ để cho học sinh có thể tự tham khảo, học tập thuận lợi.
- Các bài tập thường ít khai thác hiện tượng thực nghiệm hoặc hiện tượng xảy
ra trong thực tế đời sống, sản xuất. Vì vậy, kỹ năng giải thích, vận dụng thực tế của
học sinh còn yếu.
- Trong thực tế, nhiều giáo viên qua tích luỹ được vốn kiến thức, kinh nghiệm
và tiếp cận được các đề thi học sinh giỏi mới có thể xây dựng bài tập và bồi dưỡng học
sinh giỏi có kết quả tương đối cao. Do đó, giáo viên mới vào nghề rất lúng túng trong
việc xây dựng một hệ thống bài tập phân hoá và cách giải. Điều đó làm ảnh hưởng lớn
đến chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi.
Nhiều đề thi học sinh hàng năm không bám sát nội dung chương trình THCS
gây khó khăn cho giáo viên khi xác định nội dung ôn tập.
Nhiều bài tập hoá học trong
một số tài liệu chưa chú đến bản chất các hiện tượng hoá học, gây khó khăn cho giáo
viên và học sinh khi dạy và học. Nhiều khi các bài tập lại có tính chất tương đối làm
ảnh hưởng đến tư duy logic, khả năng liên hệ thực tế của học sinh chương trình hoá
học lớp 9 đổi mới đòi hỏi nội dung và phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi cũng cần
có sự thay đổi cho phù hợp. Nguồn tài liệu tham khảo cần cho việc dạy học của giáo
viên, học sinh trung học cơ sở còn hạn chế. Thăm dò việc học tập, bồi dưỡng học sinh
giỏi môn hoá học của học sinh - giáo viên trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
cũng như nhiều địa phương khác chúng tôi nhận thấy rằng: các em học sinh học tập
chủ yếu dựa vào sách giáo khoa, nội dung sách giáo khoa chứa đựng những bài tập cơ
bản cô đọng. Giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi tự mày mò xây dựng bài tập và tham
khảo một số tài liệu thường phân loại bài tập theo nội dung chương trình học.Là giáo
viên trực tiếp giảng dạy lớp 9 THCS và qua thực tế dạy học bồi dưỡng học sinh giỏi và
dạy học sinh thi vào trường chuyên, tôi chọn đề tài “Tuyển chọn và xây dựng hệ
hiện kiến thức cũ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự vật và hiện tượng; phải phán
đoán, suy luận để tìm ra lời giải.
• Bài tập hoá học là phương tiện để phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động,
tính thông minh, sáng tạo của học sinh. Học sinh tự tìm kiếm lời giải, tìm ra được các
cách giải khác nhau và cách giải nhanh nhất cho từng bài tập cụ thể.
• Bài tập hoá học là công cụ hữu hiệu để kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng
của học sinh. Việc giải bài tập của học sinh giúp giáo viên phát hiện được trình độ học
sinh, thấy được những khó khăn, sai lầm học sinh thường mắc phải; đồng thời có biện
pháp giúp họ khắc phục những khó khăn, sai lầm đó.
- 3 -
• Bài tập hoá học còn có tác dụng mở mang vốn hiểu biết thực tiễn cho học
sinh; giáo dục đạo đức, tư tưởng, giáo dục kỹ thuật tổng hợp, rèn luyện tác phong
người lao động mới: làm việc kiên trì, khoa học, đặc biệt là tính cẩn thận, trung thực,
tiết kiệm, độc lập, sáng tạo trong các bài tập thực nghiệm.
3. Phân loại bài tập hoá học.
Trong những tài liệu phương pháp dạy học hoá học, các tác giả phân loại bài
tập hoá học theo những cách khác nhau dựa trên các cơ sở khác nhau :
- Theo mức độ huy động kiến thức, bài tập hoá học được chia thành: bài tập
định tính và bài tập định lượng (bài toán hoá học) và bài tập tổng hợp.
- Theo cách giải có sử dụng thực nghiệm hay không thực nghiệm: Bài tập lý thuyết
(định tính và định lượng) và bài tập thực nghiệm (định tính và định lượng).
- Theo mục đích dạy học : Bài tập hình thành kiến thức mới ; bài tập rèn luyện,
củng cố kỹ năng, kỹ xảo ; bài tập kiểm tra, đánh giá.
- Theo cách tiến hành giải bài tập: Bài tập giải bằng lời nói, bài tập giải bằng
cách viết (tự luận và trắc nghiệm khách quan) và bài tập giải bằng thực nghiệm.
- Căn cứ vào mức độ hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình tìm kiếm
lời giải : Bài tập cơ bản (BTCB) và bài tập phân hoá (BTPH). Trong lý luận dạy học
chưa có một định nghĩa nào về hai loại bài tập này nhưng theo chúng tôi, đó là hai khái
niệm mang tính chất tương đối.
BTCB là những bài mà khi giải học sinh chỉ huy động một vài đơn vị kiến thức
- Dựa vào nội dung cụ thể của bài tập.
- Dựa vào tính chất đặc thù của vấn đề nghiên cứu.
- Dựa vào mục đích dạy học.
Do đó, có thể coi hệ thống bài tập hoá học gồm:
Có thể nói rằng: quyết định phần lớn chất lượng dạy học là thầy giáo. Thầy giáo
phải thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, thu hút, kích
thích hứng thú học tập bộ môn, tạo động cơ, phương pháp học tập đúng đắn cho học
sinh. Có động cơ, hứng thú, phương pháp học tập tốt, học sinh sẽ phát huy tốt tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của mình và nhất định sẽ đạt kết quả học tập cao. Ngay từ khi
học sinh mới bắt đầu vào học bộ môn, thầy giáo là người đặc biệt tạo sự chú ý, hấp
dẫn, thu hút lòng yêu thích môn học, để lại cho học sinh ấn tượng sâu sắc nhất. Thực
tế cho thấy, nhiều học sinh học giỏi bộ môn là do thầy giáo đã phát huy tốt vai trò tích
cực, chủ động, sáng tạo của các em, khơi dậy nội lực của chính họ, biết động viên họ
vượt qua trở lực trong nhận thức. Thầy giáo truyền cho học sinh phương pháp học tập
mà quan trọng nhất là phương pháp tự học, tìm kiếm nguồn tài liệu tham khảo, sách
bài tập phù hợp với trình độ, năng lực của các em.
Ngoài thầy giáo, gia đình, môi trường xã hội cũng ảnh hưởng đến việc xây
dựng động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho các em.
BTHH
BTCB
BTĐT
BTĐL
NCTL
mới
Hoàn
thiện
KT- KN
KTĐG
KT-KN
1M và HCl
1M thì phản ứng vừa đủ.
a- Tính thể tích H
2
thoát ra.
b- Cô cạn dung dịch được bao nhiêu gam muối khan?
Lời giải.
mol2,0n;mol2,0n
HClSOH
42
==
Các PTHH xảy ra: Mg + 2 HCl → MgCl
2
+ H
2
↑
Mg + H
2
SO
4
→ MgSO
4
+ H
2
↑
Fe + 2 HCl → FeCl
2
+ H
2
↑
m
↔
m
muối
= 12,0 + 0,2.(98 + 36,5) – 0,3. 2 = 38,3 (gam)
2/ Hỗn hợp A gồm FeO, Fe
2
O
3
, Fe
3
O
4
. Nung nóng m (g) hỗn hợp A trong ống
sứ rồi cho luồng CO đi qua. Sau khi kết thúc thí nghiệm, người ta thu được20,4 g chất
rắn B và 8,96 lit khí D ở đktc, có tỉ khối so với H
2
là 20. Tính giá trị của m.
Lời giải.
)g(40220M;)mol(4,0
4,22
96,8
n
DD
=×===
m
D
= 0,4 40 = 16 (g)
Fe + CO
2
B có thể có cả 4 chất Fe, FeO, Fe
3
O
4
, Fe
2
O
3
hoặc ít hơn. Khí C gồm CO, CO
2.
Theo phương trình phản ứng: n
CO(pứ)
=
2
CO
n
⇒
n
CO (ban đầu)
= n
D
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có:
m + 0,4 28 = 20,4 + 16,0
m = 20,4 + 16 - 11,2 = 25,2 (g).
2.1.2. Phương pháp tăng - giảm khối lượng.
• Nguyên tắc của phương pháp: Khi chuyển từ chất A sang chất B, khối lượng
mol thay đổi. Do đó, khối lượng chất này so với chất khác tăng hay giảm tỷ lệ với số
muối
= 12 + 26,3 = 38,3 (g).
2/ Đề bài như ví dụ 2/(2.1.1).
Giải. n
C
= 0,4 mol; m
C
= 0,4 40 = 16 (g). Gọi a, b là số mol của CO,CO
2
.
Ta có hệ phương trình :
=
=
⇔
=+
=+
3,0
1,0
4,0
164428
b
a
ba
ba
2
Cứ 1 mol CO phản ứng, khối lượng A bị giảm 16g.
- 8 -
0,3 mol CO phản ứng, khối lượng A bị giảm 16 0,3 = 4,8g
m = 20,4 + 4,8 = 25,2 (g).
3/ Cho 47,15g hỗn hợp BaCl
2
và CaCl
2
vào 200 ml dung dịch Na
2
CO
3
1M và
K
2
CO
3
0,5M xuất hiện 44,4g kết tủa X và dung dịch Y. Tìm khối lượng các chất trong
X và khối lượng các chất tan trong Y.
Giải
( )
( )
mol1,05,02,0n
mol2,012,0n
32
32
COK
CONa
=×=
+ K
2
CO
3
→ CaCO
3
↓ + 2 KCl
Cứ 1mol BaCl
2
hoặc CaCl
2
chuyển thành 1mol BaCO
3
hoặc CaCO
3
giảm
11gam
Thì n mol hỗn hợp giảm 47,15-44,4 = 2,75gam
)mol(25,0
11
75,2
n ==
Giải tìm khối lượng các chất trong X: Đặt số mol của BaCO
3
, CaCO
3
lần lượt
x,y
Ta có hệ phương trình :
m
Y
= 82,15 – 44,4 = 37,75 (gam)
2.1.3. Phương pháp dùng khối lượng mol trung bình (
M
).
• Nguyên tắc của phương pháp:
M
là khối lượng của 1 mol hỗn hợp.
VVV
MVMVMV
M
nnn
MnMnMn
n
m
M
321
332211
khihh
321
332211
hh
hh
+++
+++
=
+++
+++
==
V
1
, V
2
, V
3
…: thể tích các khí trong hỗn hợp khí.
x
1
, x
2
, x
3
…: số phần mol của các chất trong 1 mol hỗn hợp.
Khi hỗn hợp gồm 2 chất: M
1
<
M
< M
2
.
V
MVVMV
M
n
MnnMn
M
21112111
)(
;
.
M
M
2
M
1
-
M
n
2
, V
2
, x
2
.
• Phạm vi áp dụng: Phương pháp này thường áp dụng giải bài toán hỗn hợp hai
hay nhiều chất khí hoặc các chất rắn (kim loại, bazơ, muối ) cùng loại (có cùng một số
phản ứng, cùng hoá trị,…)
Ví dụ:
1/ Hoà tan 5,4g hỗn hợp 2 kim loại cùng nhóm I ở 2 chu kỳ liên tiếp nhau vào
nước thu được thu được 2,24 lit khí (đktc). Xác định tên 2 kim loại.
Giải. Đặt ký hiệu chung của 2 kim loại là R.
Phương trình phản ứng : 2 R + 2 H
2
O → 2 ROH + H
2
↑
0,2 mol 0,1 mol
↑
x x
MHCO
3
+ HCl → MCl + H
2
O + CO
2
↑
- 10 -
y y
2
CO
n
= n
hh muối
= x + y =
)mol(03,0
4,22
672,0
=
M
muối
=
238
03,0
14,7
=
. Vì M + 61 <
M
2
↑
z z z
Ta có hệ phương trình:
=++
=++
)2(0,531275,13395
)1(5,0
2
3
zyx
zyx
Với 3 ẩn, có 2 phương trình. Tìm khối lượng 3 kim loại tức là tổng :
24x + 27y + 56z.
Tách (2) ta được: 24x + 27y + 56z + 71(x + 1,5y + z) = 53.
→←
24x + 27y + 56z = 53,0 - 0,5 71 = 17,5 (g).
2/ Xem ví dụ cách giải thông thường trong mục (1.2.5.b trang 17)
2.1.5. Phương pháp giải bài tập tự chọn lượng chất.
• Nguyên tắc của phương pháp: Phần trăm lượng chất trong dung dịch hoặc
trong hỗn hợp nhất định là một đại lượng không đổi.
- 11 -
• Phạm vi áp dụng: Trong bài toán người ta cho lượng chất dưới dạng tổng quát
hoặc không nói đến lượng chất thì có thể chọn lượng chất có một giá trị nhất định để
tiện việc giải. Có thể chọn lượng chất là một mol hay một số mol theo hệ số tỷ lượng
cần lấy là n mol hay 98n (g).
Khối lượng dd cần lấy:
( )
gn1000
8,9
100n98
m
=
×
=
Khối lượng dd thu được: 1000n + 2M + 16n = 2M + 1016n (g).
Khối lượng muối thu được: 2M + 96n (g).
Nên C% =
nnMM
nM
nM
9600)10162(18,1420018,14
10162
100)962(
−+=⇒=
+
×+
n28Mn88,4806M64,171
=⇒=⇒
Với n = 1, 2, 3 thì chỉ có giá trị n = 2, M = 56 là phù hợp. Vậy oxit đó là FeO.
Cách 2: Có thể chọn khối lượng dung dịch H
2
SO
4
3
+ CO
2
↑ + H
2
O (1)
2 mol 1 mol
NaHCO
3
+ HCl
→
NaCl + CO
2
↑ + H
2
O (2)
2 mol 2 mol
Na
2
CO
3
+ 2 HCl
→
2 NaCl + CO
2
↑ + H
2
O (3)
x mol x mol
Chọn số mol của NaHCO
×+
××
=
Cũng có thể chọn số mol NaHCO
3
(hoặc Na
2
CO
3
) trong hỗn hợp bằng 1 và số
mol của Na
2
CO
3
(hoặc NaHCO
3
) là x. Giải tương tự ta cũng tìm được %
32
CONa
m
.
3/ Cho m (g) hỗn hợp A gồm Mg, Zn vào dung dịch FeCl
2
dư. Khi phản ứng
xảy ra hoàn toàn thu được m (g) chất rắn. Tìm % khối lượng Mg trong A.
Giải. PTHH: Mg + FeCl
2
→ MgCl
2
+ Fe↓
phương trình vô định hoặc theo kết quả bài toán, theo khả năng phản ứng.
Ví dụ:
1/ Hoà tan 12g hỗn hợp Fe và kim loại M (hoá trị II) vào dung dịch HCl dư thu
được 6,72 l khí (đktc). Mặt khác, cho 3,6g M tác dụng với 400 ml H
2
SO
4
1M thấy axit
còn dư. Xác định tên M ?
Giải.
)mol(4,014,0n;)mol(3,0
4,22
72,6
n
422
SOHH
=×===
Đặt ký hiệu chung của Fe và M là R.
PTHH: R + 2 HCl → RCl
2
+ H
2
↑
0,3 mol 0,3 mol
- 13 -
.40
3,0
12
6,3
M =>⇒
Vậy 9 < M < 40 M chỉ có thể là Mg.
2/ Hoà tan 4,8g kim loại R vào H
2
SO
4
đặc, nóng thu được 1,68 lít
SO
2
(đktc).Tìm R.
Giải.
)mol(075,0
4,22
68,1
n
2
SO
==
;
PTHH: 2R + 2n H
2
SO
4
→ R
2
(SO
4
)
n
2.2. Phân loại bài tập phân hoá của hoá học vô cơ 9.
Trong phạm vi tài liệu này, tôi chỉ đề cập đến loại bài tập lý thuyết. Có thể chia
loại này thành 2 loại lớn :
- Bài tập lý thuyết định tính.
- Bài tập lý thuyết định lượng.
2.2.1. Bài tập lý thuyết định tính gồm các dạng trong các chương:
- Viết phương trình phản ứng giữa các chất.
- Bài tập nhận biết các chất rắn, lỏng, khí, dung dịch.
- Bài tập điều chế các chất.
- Bài tập tách - loại hay tinh chế các chất.
- Dự đoán, giải thích hiện tượng thực tế; tính chất, vị trí nguyên tố trong
HTTH.
2.2.2. Bài tập lý thuyết định lượng.
- Xác định tên nguyên tố, lập công thức phân tử các chất.
- 14 -
- Tính theo công thức hoá học, phương trình hoá học:
+ Tính theo công thức hoá học.
+ Tính theo phương trình hoá học, gồm tính toán các chất trong hỗn hợp: %V
khí, n, m, loại bài tập có sản phẩm phản ứng tuỳ thuộc tỉ lệ các chất tham gia, nồng độ
dd, bài toán hiệu suất phản ứng,
- Bài tập tổng hợp.
2.3. Sử dụng hệ thống bài tập trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi hoá học lớp 9
2.3.1. Sử dụng hệ thống bài tập nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học
sinh:
Việc tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập cũng như việc bồi dưỡng học sinh
giỏi nhằm giúp học sinh nắm chắc kiến thức hoá học, vận dụng linh hoạt các kiến thức
vào tình huống thực tế, rèn luyện kỹ năng, phát huy được tính tích cực, sáng tạo trong
hoạt động nhận thức, từ đó hình thành nên nhân cách của người lao động trong thời đại
mới. Trong giảng dạy, giáo viên phải đưa học sinh vào vai trò chủ thể, sử dụng
phương pháp nêu vấn đề để gây hứng thú nhận thức, thúc đẩy quá trình tìm tòi sáng
2
O
3
, CuO. Khi hướng dẫn học sinh giải bài tập sau cần tìm mối liên hệ với bài tập
trước để thấy được cách thức tháo gỡ các vấn đề; biết chuyển từ dạng bài đơn giản
sang dạng bài phức tạp; biết kết nối các lý thuyết đã học cũng như phương pháp giải
bài tập.
2. Từ hệ thống bài tập bảo đảm kiến thức cơ bản, giáo viên biến đổi để được
những bài tập tương đương cho học sinh giải. Từ bài tập đã giải, thay đổi, thêm, bớt
các dữ kiện thành bài tập mới. Dần dần khuyến khích, yêu cầu học sinh tự biến đổi
thành bài tập mới. Như vậy, học sinh vừa được làm quen với phương pháp giải bài tập,
vừa biết được phương pháp đó áp dụng trong những tình huống nào.
3. Thường xuyên cho học sinh biết sử dụng đúng ngôn từ trong bài tập để xác
định chính xác chất tham gia, chất tạo thành tuỳ thuộc điều kiện phản ứng, thời gian
phản ứng,… Luôn chú ý giúp học sinh rút ra được những nhận xét có tính quy luật
trong từng tình huống để vận dụng vào giải bài tập một cách linh hoạt: Ví dụ, hệ số tỉ
lượng các chất tham gia, điều kiện bảo toàn khối lượng các chất phản ứng… để tìm ra
“mấu chốt” của bài toán.
- 15 -
4. Chọn những bài tập có tình huống học sinh thường mắc sai lầm để củng cố
khắc sâu kiến thức. Thường xuyên gắn liền hoá học với thực tế: phát huy vai trò tích
cực, chủ động của học sinh, hướng học sinh nhìn nhận các sự vật, hiện tượng hoá học
sát đúng với thực tế, thường xuyên liên hệ với đời sống, sản xuất và vận dụng vào thực
tế. Từ đó, giúp các em hiểu sâu sắc quá trình hoá học và giải quyết được bài tập dễ dàng
và chính xác hơn, tránh được những sai lầm đáng tiếc.
5. Giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ để học sinh có thể giải bài tập một cách tốt
nhất trong thời gian nhanh nhất. Thường tiến hành giải theo quy trình 4 bước:
- Nghiên cứu đề bài: tìm hiểu nội dung bài tập, xác định điểm “mấu chốt” và
đưa ra grap định hướng.
- Xác định hướng giải: đề ra các bước giải.
, SiO
2
. Lần lượt cho các oxit đó vào nước, vào dung dịch H
2
SO
4
, dung dịch NaOH
sẽ có phản ứng nào xảy ra? Viết các phương trình phản ứng đó.
- Nghiên cứu đề : SO
3
, N
2
O
5
(tạo Ax mạnh)
Oxit axit CO
2
, SiO
2
(tạo Ax yếu) dd NaOH
Các oxit Oxit lưỡng tính Al
2
O
3
H
2
O
Oxit bazơ BaO, K
2
O (tạo kiềm) dd H
+ H
2
O ↔ H
2
CO
3
(3)
K
2
O + H
2
O → 2 KOH (4) BaO + H
2
O → Ba(OH)
2
(5)
+ Với H
2
SO
4
:
K
2
O + H
2
SO
4
→ K
2
SO
2
O
3
+ 3H
2
SO
4
→ Al
2
(SO
4
)
3
+ 3 H
2
O
+ Với NaOH:
SO
3
+ 2 NaOH
→ Na
2
SO
4
+ H
2
O N
2
O
3
+ 2 NaOH →2 NaAlO
2
+ H
2
O
- Kiểm tra, đánh giá kết quả:
+ Phương trình phản ứng đã đúng chưa ?
+ Các phản ứng đã được mô tả hết chưa ? Trong nước ?Trong dung dịch axit ?
Trong dung dịch NaOH ?
Nhờ bước kiểm tra này, giáo viên giúp học sinh không bỏ sót các phương trình
phản ứng của nước trong dung dịch axit với oxit axit là SO
3
, N
2
O
5
. Do đó, trong dung
dịch H
2
SO
4
ngoài 5 phương trình phản ứng trên còn có thêm phản ứng (1) và (2); chỉ
còn CO
2
và SiO
2
là không phản ứng. Trong dung dịch NaOH còn có phản ứng của
nước trong dung dịch kiềm với oxit bazơ là BaO, K
2
2
O)
muối rắn: CaCO
3
, BaSO
4
- Xác định hướng giải: Viết phương trình phản ứng của các chất trên với nhau,
với nước trong dung dịch và có thể cả với sản phẩm mới sinh ra.
- Trình bày bài giải:
HCl + KOH → KCl + H
2
O 2 KOH + MgCl
2
→ Mg(OH)
2
↓ + 2 H
2
O
2HCl + CaO → CaCl
2
+ H
2
O 2HCl + CaCO
3
→ CaCl
2
+ CO
2
↑ + H
+MgCl
2
→ Mg(OH)
2
↓ + CaCl
2
Ca(OH)
2
+ Na
2
CO
3
→ CaCO
3
↓ + 2 NaCl
Tính tích cực của học sinh trong bài tập này được tiếp tục củng cố và nâng lên ở
mức độ cao hơn bài trước. Từ đó, các em đỡ mắc sai lầm khi xác định các phản ứng trong
dung dịch, đặc biệt phản ứng của kim loại kiềm với dung dịch muối.
Ví dụ 3. (Bài tập II.84): Hãy nhận biết các chất bột riêng biệt: Al, Fe, Mg, Cu,
Ba.
a) Với thuốc thử tuỳ ý chọn.
b) Chỉ dùng dung dịch H
2
SO
4
loãng.
Giáo viên yêu cầu học sinh nhận biết, hướng dẫn bổ sung chính xác hoá cách
nhận biết. Ba dùng H
2
O tan, H
loại nhôm. PTHH: 2 Al + 2 NaOH + 2 H
2
O → 2 NaAlO
2
+ 3 H
2
↑
+ Cho vào dung dịch HCl, thấy không tan là Cu; tan là Fe và Mg thu được 2
dung dịch muối. Cho NaOH vào một trong 2 dung dịch muối đó, nếu thấy kết tủa trắng
không đổi màu trong không khí thì kim loại tương ứng là Mg; còn nếu kết tủa trắng,
xanh nhạt hoá đỏ nâu thì kim loại tương ứng là Fe. Phương trình phản ứng:
Mg + 2 HCl → MgCl
2
+ H
2
↑ MgCl
2
+ 2 NaOH → Mg(OH)
2
↓ + 2 NaCl
Fe + 2 HCl → FeCl
2
+ H
2
↑ FeCl
2
+ 2 NaOH → Fe(OH)
2
↓
tr-x
4
)
3
FeSO
4
- 18 -
Ba(OH)
2
dư ↓trắng ↓keo,tanbớt ↓tr-x→đỏ nâu
- Xác định hướng giải:
Dùng dd H
2
SO
4
loãng phản ứng với 4 chất bột, còn Cu không phản ứng.
Bari phản ứng cho dấu hiệu khác biệt Al, Fe, Mg nên nhận tiếp được nó. Cho
Ba dư vào dung dịch H
2
SO
4
sẽ có phản ứng của Ba với H
2
O sinh ra Ba(OH)
2
làm thuốc
thử nhận ra các dung dịch muối của 3 kim loại còn lại.
- Trình bày bài giải: Lấy 5 ống nghiệm đựng dung dịch H
2
SO
4
+ 3H
2
↑ Mg + H
2
SO
4
→ MgSO
4
+ H
2
↑
Fe + H
2
SO
4
→ FeSO
4
+ H
2
↑
Dùng dd Ba(OH)
2
nhỏ đến dư vào các dd muối, sẽ nhận ra kim loại ban đầu:
+ Là nhôm: Al
2
(SO
4
)
3
+ 3 Ba(OH)
↓
trắng
+ Là sắt: FeSO
4
+ Ba(OH)
2
→ Fe(OH)
2
↓
tr-xanh
+ BaSO
4
↓
trắng
4 Fe(OH)
2
+ O
2
+ 4 H
2
O → 4 Fe(OH)
3
↓
đỏ nâu
- Kiểm tra, đánh giá kết quả:
+ Các thao tác nhận biết đã chính xác chưa ? Có cách nào khác không ?
+ Sau đó, nâng dần bằng các tình huống:
• Chỉ dùng dd H
2
SO
- Xác định hướng giải: Hoàn chỉnh sơ đồ điều chế:
- 19 -
FeCl
2
Fe(OH)
2
FeO FeCl
2
FeCl
3
Fe(OH)
3
Fe
2
(SO
4
)
3
Fe FeCl
3
- Trình bày bài giải: Viết các phương trình phản ứng:
+ Cách 1: FeO + 2 HCl → FeCl
2
+ H
2
O
FeCl
2
+ 2 NaOH → Fe(OH)
2
4
→ Fe
2
(SO
4
)
3
+ SO
2
↑ + 4 H
2
O
Fe
2
(SO
4
)
3
+ 6 NaOH → 2 Fe(OH)
3
↓ + 3 Na
2
SO
4
+ Cách 4: FeO + CO
→
0
t
Fe + CO
2
Ở bài tập này, học sinh vừa phải tổng hợp kiến thức về FeO vừa là oxit bazơ,
vừa là chất có thể bị oxi hoá (bởi oxi, H
2
SO
4
đặc nóng) lên Fe(III), lại vừa liên hệ điều
chế Fe và tính chất hoá học của Fe, Fe(II), của muối và điều chế bazơ,… Như vậy đòi
hỏi học sinh tái hiện kiến thức, vừa phải tự tìm tòi, nghiên cứu thêm về hợp chất Fe(II)
và đề ra những cách điều chế khác nhau, đầy tính sáng tạo.
Ví dụ 5. (bài II.102): Một mẫu Cu lẫn Ag, Fe, S. Làm thế nào để tinh chế Cu?
- Nghiên cứu đề: muối Fe(dd)
Hỗn hợp rắn Cu, Ag (rắn) muối Cu(dd) Cu (rắn)
SO
2
↑ Ag (rắn)
- Xác định hướng giải: Có thể tinh chế theo các sơ đồ:
- 20 -
Hoặc:
Cu,Ag
Fe, S
O
2
,t
0
CuO,Ag
Fe
3
O
4
+HCl CuCl
Fe, Cu,
Ag, S
+ HCl
Ag,S
Cu
Ag
CuO
+HCl
+O
2
,t
0
CuCl
2
+Fe
Cu
- Trình bày bài giải: Học sinh viết các phương trình phản ứng và nêu cách tách:
+ Cách 1:
(1). Đốt cháy hoàn toàn hỗn hợp trong không khí, loại được S:
S + O
2
→ SO
2
↑ 2 Cu + O
2
→ 2 CuO
3 Fe + 2 O
2
→ Fe
3
FeCl
2
+2 NaOH → Fe(OH)
2
↓+2 NaCl
4Fe(OH)
2
+ O
2
→ 2Fe
2
O
3
+ 4H
2
O
FeCl
3
+3 NaOH → Fe(OH)
3
↓ + 3 NaCl
2 Fe(OH)
3
→ Fe
2
O
3
+ 3 H
2
O
2
SO
4
cho tác dụng với các đơn chất,
hợp chất khác nhau ta có thể thu được:
- 21 -
a. 0,25 mol SO
2
d. 1mol SO
2
f.
3
4
mol SO
2
.
b. 0,5 mol SO
2
. e. 1,5 mol SO
2
. g. 2 mol SO
2
.
c.
3
1
mol SO
2
.
Hãy viết các phương trình phản ứng cho các trường hợp trên.
2
SO
4
phản ứng oxi hoá các chất, phần dư nguyên tố S chuyển
vào gốc SO
4
dưới dạng muối. Do đó, H
2
SO
4
sẽ oxi hoá các đơn, hợp chất kim loại.
+ Khi n
SO2
= 1, H
2
SO
4
có thể trao đổi với muối sunfit như Na
2
SO
3
hoặc oxi hoá
các phi kim (trừ S) như C, P hoặc chất không chứa S và không tạo gốc sunfat.
+ Khi n
SO2
>1, H
2
SO
4
phải oxi hoá các chất chứa S.
2
↑ + 4 H
2
O + 3… (SO
4
)?
↔ 4 H
2
SO
4
+ 2 FeO → SO
2
+ Fe
2
(SO
4
)
3
+ 4 H
2
O
b. Tỉ lệ số mol H
2
SO
4
và SO
2
là 2:1 1(SO
4
) và 2H
là 3:1.
3 H
2
SO
4
+ ? (O) → SO
2
↑ + ? 2(SO
4
) + 3 H
2
O
↔ 3 H
2
SO
4
+ Cu
2
O → 2 CuSO
4
+ SO
2
↑ + 3 H
2
O
d. Tỉ lệ số mol H
2
SO
4
và SO
e. Tỉ lệ là 2: 3. 2 H
2
SO
4
+ ? (S) → 3 SO
2
↑ + 2 H
2
O
↔ 2 H
2
SO
4
+ S → 3 SO
2
↑ + 2 H
2
O
f. Tỉ lệ là 3 : 4. 3 H
2
SO
4
+ ? (S) → 4 SO
2
+ 3 H
2
O + ? (O)
↔ 3 H
2
SO
3
PO
4
2M tác dụng với 500 ml dung
dịch NaOH. Cô cạn dung dịch thu được 61,2g muối khan. Tìm nồng độ mol của dung
dịch NaOH.
- Nghiên cứu đề: H
3
PO
4
(n= 2.0,2) 61,2g muối
NaOH PTHH Muối? n
NaOH
C
M
- Xác định hướng giải: Tính n
axit
, PTHH n
muối
n
NaOH
C
NaOH
- Giải:
)mol(4,022,0n
43
POH
=×=
.
Phương trình hoá học. NaOH + H
2
O (3)
+ Cách 1: Nhận xét: n
muối
= n
axit
; n
NaOH
= n
nước
Gọi số mol NaOH là x, áp dụng định luật bảo toàn khối lượng ta có:
98
×
0,4 + 40x = 61,2 + 18x x = 1,0 (mol)
C
NaOH
=
)(2
5,0
1
M=
.
+Cách 2: Nhận xét: số mol muối bằng số mol axit. Mà
M
muối
=
.153
4.0
2,61
4
+ 3 H
2
O
3y y y
Ta có hệ:
=
=
⇒
=+
=+
)mol(2,0y
)mol(2,0x
2,61y164x142
4,0yx
Nên n
NaOH
= 2x + 3y = 2 0,2 + 3 0,2 = 1 (mol).
⇒
C
NaOH
=
)(2
5,0
2
1
tăng 9b gam
- Xác định hướng giải:
( )
6,1716M2b
2
1
aM
=++
Có thể lập được hệ phương trình: 17a + 9b = 22,4 – 17,6 = 4,8
Bài toán có 3 ẩn số > số dữ kiện là 2 (= số phương trình), do đó phải giải bằng
cách biện luận để tìm tên kim loại. Từ M
M
→ M
MOH
→ n
MOH
→ n
axit
→ V
dd axit
- Trình bày bài giải:
a) Gọi số mol M và M
2
O trong hỗn hợp là a và b.
Phương trình phản ứng:
2 M + 2 H
2
O → 2 MOH + H
4
+ 2 H
2
O
Số mol KOH là: n
KOH
=22,4:56=0,4(mol). Số mol H
2
SO
4
là 0,4:2 =0,2(mol)
Thể tích dung dịch H
2
SO
4
là: V = 0,2 : 0,5 = 0,4(lít).
- Kiểm tra, đánh giá: + Bài toán có số phương trình ít hơn số ẩn phải giải bằng
cách biện luận. Tìm nguyên tố phải tìm nguyên tử khối hoặc số thứ tự nguyên tố. Ở
đây là tìm khoảng giá trị của M để xác định tên nguyên tố. Có cách biện luận khác?
+ Trường hợp này có thể giải bài toán bằng phương pháp M
TB
được không?
Ví dụ 9. (bài tập II.117): Hoà tan 5,91g hỗn hợp NaCl, KBr vào 100 ml dung
dịch hỗn hợp Cu(NO
3
)
2
0,1M và AgNO
3
chưa biết nồng độ, thu được kết tủa A và dung
NaCl + Cu(NO
3
)
2
+ Zn dư
KBr AgNO
3
tỉ lệ C
%
- Xác định hướng giải: - Trình bày bài giải:
a). Tính khối lượng kết tủa A: n
Cu(NO3)2
= 0,1. 0,1 = 0,01(mol).
+ Tính số mol các chất đã cho xmol NaCl+AgNO
3
→ AgCl↓ + NaNO
3
Viết phương trình hoá học ymol KBr + AgNO
3
→ AgBr↓ + KNO
3
5,91 gam (kết tủa A)
+ Tìm tỉ lệ số mol các chất: Từ: C
%
NaNO
3
: C
%
KNO
)
2
+ Cu↓ (4)
Cứ 1mol Zn pư với AgNO
3
m tăng 151g
1mol Cu(NO
3
)
2
m giảm 1g
Mà pư xong m
Zn
tăng chứng tỏ AgNO
3
dư
+ Tính khối lượng kết tủa A Và NaCl, KBr hết sau 2 pư đầu, số mol x,y.
Ta có hệ:
3
4
y
x
=
x=0,04
58,5x + 119y =5,91 y=0,03
→m
A
=0,04.143,5+0,03.188=11,38(gam)
b). Tính nồng độ AgNO
3
C
==
- Kiểm tra, đánh giá:
- 25 -
+ Cái khó của bài là gì ? kết tủa A và dung dịch B có chất gì; tỉ lệ C
%
.
+ Khối lượng lá kẽm tăng khi nào ? Khi chắc chắn có Ag tạo ra hay AgNO
3
dư.
+ Có khi nào có Ag↓ mà khối lượng là kẽm giảm không ? Có.
Khi m
tăg(3)
< m
giảm (4)
= 0,01.1,0 = 0,01(gam). Do đó khối lượng lá kẽm giảm
<0,01g.
Ví dụ 10. (Bài III.180). Cho 44 gam hỗn hợp muối NaHSO
3
và NaHCO
3
phản
ứng hết với dung dịch H
2
SO
4
trong điều kiện không có không khí, thu được hỗn hợp
khí A và 35,5gam muối Na
2
SO
A:SO
2
,CO
2
m
A
n
A
M
C
d
B/H2
M
B
n
O2
m
B
= m
C
- Xác định hướng giải:
Từ PTHH, n
Na2SO4
→ n
A
, m
A
→ n
→
Na
2
SO
4
+ 2SO
2
↑ + 2 H
2
O (1)
2NaHCO
3
+ H
2
SO
4
→
Na
2
SO
4
+ 2CO
2
↑ + 2 H
2
O (2)
Số mol Na
2
SO
+ O
2
→
52
OV
2SO
3
(3)
Gọi số mol SO
2
phản ứng là a. Theo (3), ta có: số mol O
2
phản ứng là 0,5a.
Trong hỗn hợp B có (0,1 – a) mol SO
2
(chưa phản ứng); (0,3 – 0,5a) mol O
2
(chưa phản ứng) ; 0,4 mol CO
2
(không phản ứng); a mol SO
3
(tạo ra).
n
C
n
SO3