1
Chuyên đề
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỊNH MỨC VÀ LẬP DỰ TOÁN
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1. Những vấn đề chung về định mức kinh tế kỹ thuật
Định mức kinh tế kỹ thuật là các tiêu chuẩn, các chỉ tiêu được quy định thống
nhất đối với việc sản xuất, dự trữ, sử dụng, lưu thông các loại nguyên vật liệu, máy
móc thiết bị, phụ tùng và các sản phẩm hàng hoá trong nền kinh tế quốc dân. Trong
đó có cả mức tiêu dùng nguyên vật liệu (thường gọi là định mức tiêu dùng vật tư) và
mức sử dụng máy móc thiết bị, các tiêu chuẩn về nguyên vật liệu và sản phẩm, các
tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm và quản lý chất lượng như ISO, HACCP, SA
800…Hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân bao gồm nội
dung kinh tế-kỹ thuật sau:
- Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu, bao gồm định mức tiêu dùng kim loại,
định mức tiêu dùng gỗ, định mức tiêu dùng vật liệu xây dựng, định mức tiêu dùng
bông, sợi, hàng dệt,…
- Định mức tiêu dùng nhiên liệu, điện năng, bao gồm định mức tiêu dùng điện
năng, định mức tiêu dùng xăng dầu, định mức tiêu dùng than,…
- Định mức tiêu dùng các sản phẩm hoá chất, bao gồm định mức tiêu dùng
axit, định mức tiêu dùng bazơ, định mức tiêu dùng sơn, định mức tiêu dùng chất
dẻo,…
- Định mức sử dụng máy móc thiết bị, bao gồm định mức sử dụng thời gian,
định mức sử dụng theo công suất
- Tiêu chuẩn kỹ thuật sản phẩm, bao gồm tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), tiêu
chuẩn cơ sở,…
- Quản lý chất lượng sản phẩm bao gồm quản lý chất lượng theo ISO-9000,
quản lý chất lượng theo HACCP, quản lý chất lượng theo SA 8000, quản lý chất
lượng theo TQM,…
những sản phẩm (công việc) khi chưa có định nức Nhà nước, định mức ngành (đối
với xí nghiệp quốc doanh trung ương), định mức địa phương (đối với xí nghiệp quốc
doanh địa phương); khi cần cụ thể hoá định mức của cấp trên; hoặc cho những sản
phẩm (công việc) của đơn vị cơ sở sản xuất được phân cấp quản lý.
Định mức là căn cứ pháp lý để tiến hành các công việc sau đây;
- Xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch;
- Phân phối và cung ứng vật tư, lao động, tiền vốn ;
- Xác định giá thành và giá chỉ đạo của Nhà nước;
- Đánh giá việc thực hiện kế hoạch; xem xét chất lượng sản phẩm (công việc);
xét thưởng hoặc phạt đối với các đơn vị hoặc cá nhân trong việc thực hiện kế hoạch.
Đối với lĩnh vực xây dựng cơ bản: Định mức dự toán xây dựng cơ bản (gọi tắt
là định mức dự toán) là định mức kinh tế - kỹ thuật xác định mức hao phí cần thiết về
vật liệu, lao động và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây
lắp tương đối hoàn chỉnh như 1m3 tường gạch, 1m2 lát gạch, 1m2 mái nhà v.v từ
khâu chuẩn bị đến khâu kết thúc công tác xây lắp (kể cả những hao phí cần thiết do
3
yêu cầu kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thi công xây lắp liên tục, đúng
quy trình, quy phạm kỹ thuật)
Căn cứ để lập định mức dự toán là các định mức sản xuất (còn gọi là định mức
thi công) về sử dụng vật liệu, lao động, máy thi công trong xây dựng cơ bản. Các quy
chuẩn xây dựng, quy phạm kỹ thuật về thiết kế - thi công - nghiệm thu; mức cơ giới
hoá chung trong ngành xây dựng; tình hình trang thiết bị kỹ thuật, tổ chức lực lượng
của các đơn vị xây lắp, cũng như kết quả đưa áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong
xây dựng thời gian vừa qua như sử dụng các vật liệu mới, cao cấp, thiết bị và công
nghệ thi công tiên tiến.
Định mức dự toán bao gồm mức hao phí vật liệu, mức hao phí lao động, mức
hao phí máy thi công. Mức hao phí vật liệu chính được tính bẳng số lượng theo đơn
vị thống nhất của nhà nước, mức hao phí vật liệu phụ khác được tính bằng % tính trên
chi phí vật liệu chính; Mức hao phí lao động chính và phục được tính bằng số ngày
trong tổ chức sản xuất-tiêu dùng nguyên vật liệu và kiểm tra chất lượng sản phẩm.
Không có định mức kinh tế-kỹ thuật thì không thể sản xuất ra sản phẩm có chất lượng
cao, đồng đều và ổn định, cũng như không thể tổ chức sản xuất và quản lý sản xuất
một cách khoa học, hợp lý và tiết kiệm.
2. Định mức phân bổ ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ
"Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi
quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã
đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh
vực nghiên cứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê
các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia. Luật Ngân
sách Nhà nước đã được Quốc hội Việt nam thông qua năm 1996 định nghĩa: Ngân
sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của quốc gia trong dự toán đã được cơ
quan chính phủ có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm
bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của chính phủ.
Ngân sách nhà nước có vai trò là một công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã
hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời
sống xã hội.
Chi Ngân sách nhà nước là một trong hai nội dung cơ bản của hoạt động Ngân
sách nhà nước. Chi Ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ Ngân
sách nhà nước theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho các chi
phí của nhà nước và thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội mà nhà nước
đảm nhận. Chi Ngân sách nhà nước là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử
dụng
Sau khi ban hành Luật Ngân sách nhà nước năm 1996, Chính phủ đã ban hành
hệ thống định mức làm cơ sở phân bổ ngân sách. Cho đến nay, Chính phủ đã ban
hành các Quyết định số 139/2003/QĐ-TTg, 151/2006/QĐ-TTg để làm cơ sở phân bổ
ngân sách nhà nước và các định mức này thường xuyên sửa đổi. Những định mức
được tiêu chuẩn hóa và áp dụng cho các mục chi trong các lĩnh vực quản lý hành
chính, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao. Dựa vào hệ thống định mức, chính quyền địa
sắm, sữa chữa thường xuyên.
Quyết định này quy định đối với cơ quan quản lý ngành dọc thì định mức phân
bổ dự toán chi ngân sách năm 2004 là 20 triệu đồng/biên chế/năm.
Về cơ bản, định mức này phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tính công bằng, công
khai và minh bạch các nhiệm vụ chi ngân sách của từng bộ, ngành, cơ quan trung
ương và các địa phương theo quy định của Luật ngân sách, góp phần thúc đẩy tiết
kiệm, khuyến khích xã hội hóa, cải cách hành chính trong công tác xây dựng và quản
lý dự toán Ngân sách Nhà nước.
Qua quá trình thực tế thực hiện hệ thống định mức phân bổ chi thường xuyên
của ngân sách Nhà nước năm 2004 đã đạt được những kết quả quan trọng như: Cơ
bản đã đảm bảo tính công bằng, hợp lý; đảm bảo tính công khai, minh bạch của ngân
sách Nhà nước. Đồng thời đã thể hiện ưu tiên đối với vùng miền núi, vùng cao, vùng
đồng bào dân tộc có nhiều khó khăn và vùng kinh tế trọng điểm; Phù hợp với khả
năng cân đối ngân sách Nhà nước, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh; góp phần tăng cường công tác quản lý tài chính, sử dụng
ngân sách có hiệu quả, tiết kiệm.
Tuy nhiên, qua quá trình thực hiện hệ thống định mức phân bổ chi thường
xuyên của ngân sách Nhà nước năm 2004 còn một số hạn chế: Phạm vi hệ thống định
6
mức phân bổ chưa bao quát hết các lĩnh vực chi thường xuyên của Ngân sách Nhà
nước; các vùng miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc khó khăn mặc dù đã được
ưu tiên trong hệ thống định mức phân bổ ngân sách; Vẫn còn nhiều lĩnh vực chưa xây
dựng được định mức phân bổ ngân sách, điển hình là đầu tư xây dựng cơ bản và sử
dụng vốn của các nhà tài trợ quốc tế. Vì thế đã dẫn tới sự không công bằng về đầu tư
giữa nhiều địa phương, nhiều ngành và dễ xảy ra tiêu cực, lãng phí.
Theo Quyết định này, định mức phân bổ chi thường xuyên của Tổng cục
Thống kê được quy định là 20 triệu đồng/biên chế/năm. Căn cứ định mức này, Tổng
cục Thống kê xây dựng phương án phân bổ kinh phí cho các đơn vị dựa trên cơ sở
vùng miền đã quy định trong Quyết định này là:
- Đảm bảo kinh phí để góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội,
an ninh, quốc phòng 2006-2010 của cả nước, cũng như từng Bô, địa phương theo
Nghị quyết Đại hội X, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp đã quyết định, ưu tiên
những lĩnh vực quan trọng (giáo dục, đào tạo, dạy nghề, khoa học, công nghệ, môi
trường ) tăng mức ưu tiên đối với vùng miền núi, Tây Nguyên khó khăn.
- Phù hợp với khả năng cân đối Ngân sách Nhà nước năm 2007 và giai đoạn
2006-2010.
- Thực hiện đúng quy định tại Khoản g Điều 4 Luật Ngân sách Nhà nước, sau
mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa
phương, thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần
trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên.
- Thúc đẩy thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, cải cách hành chính nâng cao
chất lượng dịch vụ công, sử dụng hiệu quả Ngân sách Nhà nước góp phần đổi mới
quản lý tài chính đối với khu vực sự nghiệp công, khuyến khích xã hội hoá, huy động
các nguồn lực xã hội để phát triển kinh tế - xã hội.
- Các tiêu chí của định mức phân bổ ngân sách phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu,
dễ thực hiện và kiểm tra, đảm bảo công bằng, công khai và minh bạch, từng bước phù
hợp với thông lệ quốc tế.
Định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước ban hành
kèm theo Quyết định này đã bao gồm toàn bộ tiền lương theo quy định tại Nghị định
số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004, Nghị định số 118/2005/NĐ-CP
ngày 15 tháng 09 năm 2005 và Nghị định số 119/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 09 năm
2005 của Chính phủ. Định mức này là cơ sở để xây dựng dự toán chi ngân sách của
từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cơ quan khác ở Trung
ương, dự toán chi ngân sách của từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (bao
gồm cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã).
Định mức phân bổ năm 2007 được xây dựng trên cơ sở kế thừa những kết quả
của định mức phân bổ chi Ngân sách Nhà nước theo Quyết định 139 về hệ thống tiêu
chí phân bổ, về phân vùng (đô thị; đồng bằng; vùng miền núi, đồng bào dân tộc ở
đồng bằng, vùng sâu; vùng cao - hải đảo); bổ sung định mức phân bổ ngân sách đối
các năm 2007, 2008, 2009. Quyết định này đã tính yếu tố vùng, miền, cụ thể như sau:
- Định mức phân bổ dự toán của Văn phòng Tổng cục: 39,3 triệu đồng/biên
chế/năm.
- Định mức phân bổ dự toán của Phòng Thống kê huyện, thị xã của khu vực
đồng bằng: 30,0 triệu đồng/biên chế/năm.
- Định mức phân bổ dự toán của Văn phòng Cục Thống kê và Phòng Thống kê
thành phố thuộc tỉnh đồng bằng: 31,0 triệu đồng/biên chế/năm.
- Định mức phân bổ dự toán của Văn phòng Cục Thống kê và Phòng Thống kê
huyện, thị xã khu vực núi thấp - vùng sâu: 34,0 triệu đồng/biên chế/năm.
- Định mức phân bổ dự toán của Văn phòng Cục Thống kê và Phòng Thống kê
huyện, thị xã khu vực núi cao - hải đảo: 37,0 triệu đồng/biên chế/năm.
- Định mức phân bổ dự toán của Văn phòng Cục Thống kê và Phòng Thống kê
các Quận của thành phố Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng, thành phố Cần Thơ: 31,0
triệu đồng/biên chế/năm.
Định mức này là căn cứ để các đơn vị trực thuộc Tổng cục xây dựng dự toán
cho thời kỳ ổn định ngân sách bắt đầu từ năm 2007. Định mức trên đã bao gồm: tiền
lương, các khoản có tính chất lương, các khoản trích theo lương theo Nghị định số
9
204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004, Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005
của Chính phủ; chi nghiệp vụ, chi đoàn ra, đoàn vào và các khoản mua sắm sửa chữa
thường xuyên.
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước thì định mức phân bổ ngân sách nhà
nước vừa là cơ sở để lập dự toán hàng năm, đồng thời cũng là căn cứ quan trọng để
phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc. Vì vậy việc xây dựng định mức phân bổ
kinh phí đóng vai trò quan trọng trong quản lý, điều hành ngân sách nhà nước.
3. Lập dự toán chi ngân sách nhà nước
Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước thì quy trình ngân sách gồm
nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, do các cơ quan chức năng khác nhau đảm nhiệm, song
nhìn tổng quát luôn bao gồm 4 giai đoạn chủ yếu là: (1) Chuẩn bị và lập dự toán; (2)
nên độ dài thời gian xây dựng dự toán ngân sách khác nhau. Quy trình dự toán ngân
sách của Việt Nam dài khoảng 6 đến 7 tháng nhưng ở các nước trong khu vực thường
là 10 đến 11 tháng.
Thời gian xây dựng dự toán ngân sách đủ dài và được quy định rõ ràng sẽ tạo
điều kiện thuận lợi về thời gian cho các cơ quan hữu quan nâng cao chất lượng chuẩn
bị, lập, thẩm tra, thảo luận dự toán ngân sách tốt hơn.
Khởi điểm quy trình dự toán ngân sách của Việt Nam khá muộn nên độ dài
quy trình dự toán ngân sách của Việt Nam ngắn hơn các nước. Nếu tính từ khi Chỉ thị
của Thủ tướng về xây dựng dự toán Ngân sách Nhà nước được ban hành thì quy trình
dự toán ngân sách Việt Nam bắt đầu từ 31/5; Nếu tính từ thời điểm UBTVQH cho ý
kiến về định mức phân bổ, chế độ chi ngân sách quan trọng thì thời điểm bắt đầu dự
toán ngân sách từ 1/5. Trong khi đó, Malaysia ban hành Thông tư hướng dẫn lập dự
toán ngân sách ngày từ tháng thứ nhất; Hướng dẫn dự toán ngân sách và chính sách
của Thái Lan được ban hành ngay từ tháng thứ 2; Hàn Quốc ban hành Hướng dẫn lập
dự toán ngân sách từ tháng thứ 3 hàng năm.
Quy định chính thức về thời điểm "xuất phát"của quy trình ngân sách như ở
Việt Nam là khá muộn so với thế giới. Thông thường, các nước quy định các công
việc chuẩn bị dự toán bắt đầu ngay từ tháng thứ hai của năm ngân sách hiện hành. Cá
biệt có nước quy định ngay từ tháng đầu tiên, ngay sau khi dự toán vừa được phê
chuẩn.
3.3. Cơ quan chủ trì và phối hợp lập dự toán ngân sách
Tất cả các nước đều quy định một cơ quan cấp bộ chủ trì việc chuẩn bị và soạn
lập dự toán ngân sách, nhưng không nhất thiết đó phải là Bộ Tài chính. Không có Bộ
Tài chính nước nào đứng ngoài cuộc nhưng không phải Bộ Tài chính tất cả các nước
đều là cơ quan chủ trì soạn lập dự toán ngân sách. Tất cả các Bộ Tài chính đều chịu
trách nhiệm về các chính sách, chế độ thu, chi tài chính của nhà nước và đảm nhiệm
phần thu ngân sách. Phần dự toán chi ngân sách có thể do Bộ Tài chính, hoặc một cơ
quan cấp bộ độc lập với Bộ Tài chính đảm nhiệm, hoặc do Bộ Tài chính phối hợp với
các bộ khác đảm nhiệm.
Tại Việt Nam, Bộ Tài chính chủ trì về tổng dự toán Ngân sách Nhà nước
phương án phân bổ ngân sách; Bộ Kinh tế - Tài chính, chủ trì soạn thảo kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội dài hạn, ngắn hạn, tham gia dự thảo dự toán và phân bổ ngân
sách, chịu trách nhiệm chính đối với thu ngân sách và các các chính sách tài chính.
Mỗi mô hình lập dự toán ngân sách nhà nước có những điểm mạnh, điểm yếu
riêng. Việc tập trung một đầu mối như Malaysia có nhược điểm về tính "độc đoán"
nhưng nó có ưu điểm lớn trong việc quản lý, chỉ đạo lập ngân sách thống nhất, dễ
dàng hơn, cung cấp cái nhìn toàn diện về ngân sách trên cơ sở nắm chắc nguồn thu,
tạo cơ sở tốt cho việc bố trí sử dụng (chi) ngân sách. Mức độ tập trung và sự phối hợp
giữa nguồn và sử dụng nguồn được đẩy mạnh hơn, hiệu quả hơn. Từ đó thực hiện
được các ý đồ chính trị, kinh tế, xã hội mà cá cấp lãnh đạo cao nhất của đất nước
mong muốn. Kết quả là trong 20 năm qua đã mang lại sự trong sạch và hiệu quả của
bộ máy hành chính nhà nước, hiệu quả chi tiêu công nói chung và hiệu quả sử dụng
ngân sách nói riêng ở Malaysia là rất đáng kể, được thế giới đánh giá cao.
Việc dành riêng một cơ quan độc lập với Bộ Tài chính soạn lập dự toán chi
ngân sách (Thái Lan, Hàn Quốc) hoặc để "nhiều đầu mối" cùng làm dự toán, có ưu
điểm nâng cao mức độ chuyên môn hóa khi xây dựng ngân sách nhưng cũng kéo theo
sự cồng kềnh trong quy trình ngân sách; hiệu quả phối hợp cân đối thu, chi không
cao. Nếu ở đâu thiếu tập quán, thói quen về sự phối hợp, cộng tác thì trong thực tiễn
sẽ gặp nhiều khó khăn. Đó cũng là nguyên nhân của sự thiếu thống nhất trong cả
chuyên môn và trong chỉ đạo điều hành ngân sách.
12
3.4. Sự can thiệp của Quốc hội trong giai đoạn chuẩn bị lập dự toán của
Chính phủ
Hầu như Quốc hội các nước đều ít tham gia vào giai đoạn chuẩn bị ngân sách
của Chính phủ. Chức năng giám sát của Quốc hội được thể hiện khi có dự thảo ngân
sách do Chính phủ trình. Trên cơ sở dự thảo đó và căn cứ vào chế độ đã được luật
pháp hóa, Quốc hội tiến hành thẩm định và thực hiện chức năng giám sát của mình.
Tuy nhiên, có sự khác biệt khá rõ trong trường hợp Việt Nam. Tại Việt Nam,
bắt đầu từ năm ngân sách 2004, trước khi ra Chỉ thị về kế hoạch phát triển kinh tế -
Việt Nam. Ngân sách Nhà nước Việt Nam bao gồm ngân sách trung ương và ngân
sách các địa phương lồng ghép vào. Chính vì sự lồng ghép đó mà khối lượng công
13
việc dự toán, quyết toán ngân sách của Việt Nam lớn hơn, cần nhiều thời gian hơn,
quy trình phải dài hơn. Trong khi đó, ở các nước, ngân sách trung ương tách rời với
ngân sách các địa phương. Sự phân cấp ngân sách của các nước rõ ràng hơn. Quốc
hội chỉ thảo luận và phê chuẩn ngân sách trung ương. Các cơ quan dân cử địa phương
thảo luận và phê chuẩn ngân sách của địa phương mình.
Dự toán ngân sách của các Bộ đều được thảo luận giữa cơ quan chủ trì soạn
lập ngân sách với từng địa phương và từng bộ chi tiêu.
Quốc hội xem xét quyết định ngân sách một cách đúng đắn, khách quan. Báo
cáo thẩm tra vừa có tính phản biện, vừa là bản đóng góp ý kiến xây dựng dự toán
Ngân sách Nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương. Qua nghiên cứu
cho thấy, để Báo cáo thẩm tra có sức thuyết phục, vừa cung cấp được những thông tin
và luận cứ cho các đại biểu Quốc hội và Quốc hội xem xét thảo luận đi đến những
quyết định đúng đắn, cần lưu ý một số điểm sau:
- Loại bỏ những vấn đề vụn vặt, tập trung vào những vấn đề chủ yếu, có tầm
ảnh hưởng vĩ mô.
- Tránh liệt kê thông tin/hoặc liệt kê số liệu. Phải có tầm tổng hợp, có tính khái
quát hóa cao trên cơ sở sử dụng các phân tích định lượng để chứng minh. Đặc biệt
tránh sử dụng những thông tin chưa được xử lý, không có nguồn gốc rõ ràng.
- Phải bám sát chủ trương đường lối, các mục tiêu trước mắt, trung hạn và dài
hạn về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng đã được Đảng và Nhà nước
quyết định, bám sát các Nghị quyết của các cấp có thẩm quyền đã ban hành để tiến
hành thẩm tra.
- Nên có sự phân tích, đối chiếu, so sánh nhiều năm liên tục để chỉ ra những xu
hướng vận động mang tính quy luật hoặc những xu hướng diễn biến, những tác động
cần phát huy hoặc cần tránh.
- Cần gắn kết với tình hình sự kiện và xu hướng phát triển kinh tế, xã hội,
quan trọng để các cấp, các ngành xây dựng dự toán ngân sách của mình.
Hướng dẫn lập dự toán luôn có những nội dung cơ bản như:
- Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách
năm hiện hành;
- Dự báo về tình hình kinh tế, tình hình thu, chi ngân sách cho khoảng thời
gian còn lại của năm hiện hành và năm tiếp theo;
- Định hướng xây dựng dự toán ngân sách năm tiếp theo.
Tại Việt Nam: Căn cứ để lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm là:
- Nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng
- Nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ
quan khác ở trung ương, đại phương.
- Chính sách, chế độ thu ngân sách nhà nước; định mức phân bổ ngân sách nhà
nước, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách.
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về vệic xây dựng kế hoạch phát triển kinh
tế-xã hội và dự toán ngân sách năm sau; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về
việc lập dự toán ngân sách; Thông tu hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về xây
dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch vốn đầu tư phát triển thuộc ngân
sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn ủa uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
- Số kiểm tra về dự toán thu, chi ngân sách nhà nước do Bộ Tài chính thông
báo và số kiểm tra về dự toán chi đầu tư phát triển do Bộ Kế hoạch và đầu tư thông
báo cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung
15
ương và uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; uy ban nhân dân
cấp trên thông báo số kiểm tra cho các đơn vị trực thuộc và uỷ ban nhân dân cấp
dưới.
- Tình hình thực hiện ngân sách các năm.
Yêu cầu đối với lập dự toán ngân sách hàng năm:
- Dự toán ngân sách nhà nước và dự toán ngân sác các cấp chính quyền phải
tổng hợp theo từng lĩnh vực thu, chi và theo cơ cấu giữa chi thường xuyên, chi đầu tư
bảo gắn kết việc thiết lập dự toán ngân sách, gắn kết việc phân bổ, sử dụng ngân sách
với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội.
16
3.6. Quy trình lập dự toán của ngành Thống kê
Sau khi có Thông tư hướng dẫn lập dự toán kinh phí của Bộ Tài chính, Tổng
cục Thống kê hướng dẫn các đơn vị cấp dưới và các Vụ nghiệp vụ của Tổng cục lập
dự toán chi ngân sách nhà nước gửi về Vụ Kế hoạch tài chính (Tổng cục Thống kê).
Trên cơ sở những bảng dự toán năm của đơn vị và dự toán kinh phí điều tra của các
vụ nghiệp vụ, Vụ Kế hoạch tài chính sẽ tiến hành xem xét, thẩm định dự toán của các
đơn vị trực thuộc, sau đó tổng hợp để lập dự toán chi ngân sách nhà nước toàn ngành
gửi Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bảng dự toán của các đơn vị cấp dưới
bao gồm:
- Kinh phí định mức theo biên chế và khu vực: Các đơn vị căn cứ vào kế
hoạch biên chế được Tổng cục giao và Định mức phân bổ kinh phí theo khu vực vung
miền đã được quy định tại quyết định ban hành định mức phân bổ dự toán của Tông
rục để lập dự toán chi ngân sách nhà nước
- Kinh phí ngoài định mức bao gồm kinh phí mua sắm tài sản, trang thiết bị
làm việc và kinh phí sửa chữa trụ sở cấp tỉnh, huyện, sửa chữa ô tô, máy móc thiết bị:
các đơn vị căn cứ vào nhu cầu thực tế của mình, căn cứ vào thời gian đầu tư hoàn
thành đưa vào sử dụng (đối với công trình đầu tư XDCB), thời gian mua sắm tài sản
trước đó để làm cơ sở lạp dự toán và tuyết minh khoản kinh phí ngoài định mức. Để
lập dự toán phần kinh phí này các đơn vị phải thuyết minh rõ thời gian đưa vào sử
dụng, hiện trạng sử dụng và nhu cầu thực tế của mình.
- Kinh phí điều tra thường xuyên, định kỳ và kinh phí các cuộc Tổng điều tra
(nếu có): Căn cứ vào chương trình công tác và nhiệm vụ chuyên môn được giao,
phương án các cuộc điều tra và quy mô, kích cỡ mẫu điều tra và chế độ tài chính hiện
hành (chế độ công tác phí, hội nghị phí,…) để lập dự toán kinh phí điều tra, chi tiết
theo từng cuộc điều tra. Đối với các cuộc Tổng điều tra, việc lập dự toán được thực
hiện theo Thông tư hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.