tóm tắt luận án tiến sĩ kỹ thuật sơ đồ thuỷ lợi và chế độ cấp thoát nước hợp lý cho mô hình nuôi tôm thâm canh vùng ven biển bắc bộ - Pdf 24

Bộ giáo dục v đo tạo
Trờng đại học nông nghiệp H nội Phạm Hồng Thái

Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học phân tử
(ADN ty thể) của các quần thể ong mật
Apis cerana

Fabricius phân bố ở Việt Nam v đề xuất hớng sử dụng
nguồn gen trên vo công tác chọn tạo giống ong mật
của nớc ta
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Mã số: 62 62 10 01
tóm tắt Luận án tiến sĩ nông nghiệp
Hà Nội - 2008
Nghiên cứu và bảo tồn loài ong nội (Apis cerana Fabr.) ở Việt
Nam, Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc, (lần
thứ 4), 11-12/04/2002, Nhà xuất bản nông nghiệp Hà nội, trang
349-355.
2 Pham Hong Thai (2003), "Investigation for indigenous honeybee
in Vietnam", Proceeding of the third Vietnamese - Hungarian
Conference on domestic animal production and aquaculture
quality and rural development, NIAH and KATKI-HAKI, Hanoi
18-19/10/2003, pp. 16-19
3 Radloff S. E., H. Randall Hepburn, C. Hepburn, Stefan Fuchs,
Gard W. Otis, M. M. Sein, H. L. Aung, H. T. Pham, D. Q. Tam,
A. M. Nuru, Tan Ken (2005), Multivariate morphometric
analysis of Apis cerana of southern mainland Asia, Apidologie
36 (2005), INRA/DIB - AGIB/EDP Science, pp. 127-139.
4 Phạm Hồng Thái và Hà Quang Hùng (2005), Nghiên cứu sự đa
dạng về hình thái ong nội tại các đảo vùng biển Đông Bắc -
Quảng Ninh, Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn
quốc, (lần thứ 5), 11-12/04/2005, Nhà xuất bản nông nghiệp Hà
nội, trang 688-691.
5 Smith D. R., Natapot Warrit, Gard W. Otis, P. H. Thai and D. Q.
Tam (2005), A scientific note on high variation in the non-
coding mitochondrial sequences of Apis cerana from South East
Asia, Journal of Apicultural Research, 44 (4): 00-00 (2005),
IBRA, UK, pp 157-158.
6 Phạm Hồng Thái, Hà Quang Hùng, Trần Văn Toàn (2005), Sự
đa dạng hình thái của ong nội Apis cerana Fab. ở một số vùng
phía Bắc Việt Nam, Tạp chí Bảo vệ thực vật, (số 5/2005), Xí
nghiệp in Thủy lợi, trang 31-44.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ong nội Apis cerana Fabricius 1793 là loài ong mật bản địa có
ngòi đốt ở Việt Nam có thể quản lý, thuần hoá và đem lại giá trị kinh tế
cao từ các sản phẩm của chúng nh: mật ong, phấn hoa, sữa ong chúa,
sáp ong và keo ong. Tuy nhiên, giá trị kinh tế từ hoạt động thụ phấn của
ong cho cây trồng cao hơn rất nhiều lần so (trên 143 lần) với giá trị kinh
tế từ sản phẩm mà chúng mang lại (Crane E. and Walker P., 1983[42];
Free J. B., 1998[51][52]; Sivaram V., 2004[102]). Nuôi ong nội rất phù
hợp với hình thức phát triển kinh tế hộ gia đình và có ý nghĩa quan trọng
trong chơng trình xoá đói giảm nghèo cho đồng bào vùng núi, dân tộc ít
ngời.
Mặc dầu số lợng đàn và ngời nuôi ong nội trên cả nớc đã
tăng mạnh trong những năm gần đây (250.000 đàn năm 2003), nhng
chúng ta lại cha có chơng trình giống ong nội mang tính chiến lợc lâu
dài phục vụ cho sản xuất (Chinh P. H. and Tam D. Q., 2004)[35].
Nguyên nhân cơ bản là do thiếu sự đánh giá và định loại một cách chính
xác nguồn gen ong nội để đa vào làm vật liệu di truyền (giống gốc) cho
chơng trình chọn lọc và lai tạo. Hơn nữa, việc phân loại ở mức dới loài
của ong nội tại Việt Nam của các tác giả trớc đây đều dựa trên phân
tích sơ bộ của Ruttner F. (1988)[97] mà cha có đánh giá tổng thể cả về
mặt hình thái lẫn di truyền.
Việc điều tra, đánh giá và phát hiện nguồn gen ong nội (dựa vào
41 chỉ tiêu hình thái và ADN ty thể) trên cả nớc là hết sức quan trọng
cho công tác giống ong nội chất lợng cao, bảo tồn nguồn vật liệu di

2
truyền và duy trì sự phát triển bền vững của ngành ong Việt Nam lại
cha đợc nghiên cứu một cách đầy đủ.
Ong nội cần phải đợc bảo tồn. Vì chúng đang phải đối mặt với
một số nguy cơ nh dịch bệnh, lẫn tạp, thoái hoá, nguồn thức ăn bị chanh

vừa có kích thớc cơ thể lớn nhất, vừa có màu sẫm hơn so với các địa
điểm khác của khu vực 1; Qua phân tích sai khác phân biệt theo
khoảng cách liên kết, cũng nh phân tích sai khác phân biệt hình Elíp
thì quần thể ong nội rất đa dạng về hình thái và có 9 dạng hình thái
riêng biệt đó là: quần thể tại Đồng Văn (Hà Giang), Văn Lãng (Lạng
Sơn), Sapa (Lào Cai)(khu vực 1); đảo Trà Bản (Quảng Ninh)(Khu Vực
2); Minh Hoá (Quảng Bình), Buôn Đôn (Đắk Lắk), Tịnh Biên (An
Giang)(khu vực 3); Giồng Trôm (Bến Tre) và Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng
Tàu)(khu vực 4); Các yếu tố khí tợng và địa hình khu vực nghiên cứu
ảnh hởng không đáng kể đến kích thớc cơ thể của ong nội.
4. Về đặc điểm sinh học phân tử (ADN ty thể): quần thể ong nội
(Apis cerana F.) ở Việt Nam đa dạng di truyền nhất so với một số
quần thể ong nội ở Châu á. Trong số 13 giải trình tự ADN ty thể của
đoạn gen COI có 9 haplotype và tạo thành 2 dòng di truyền khác nhau
trong các quần thể ong nội phía Bắc Việt Nam. Haplotype của quần
thể ong nội Đồng Văn (Hà Giang) khác biệt với các haplotype của các
quần thể ong nội khác tại vị trí nucleotit thứ 160 mất Cytosin trên đoạn
gen COI; Thông qua đặc điểm trình tự đoạn Noncoding của ADN ty
thể các quần thể ong nội phía Nam Việt Nam cũng có 9 haplotype
trong đó có 3 haplotype lần đầu tiên đợc ghi nhận đó là haplotype
Vietnam1, Vietnam2 và Vietnam3.

22
(Quảng Ninh), Minh Hoá (Quảng Bình), Buôn Đôn (Đắk Lắk), Tịnh Biên
(An Giang), Giồng Trôm (Bến Tre) và Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu).
Phơng thức bảo tồn giống ong nội chất lợng cao là:
- Quần thể ong nội có thể tiến hành chọn lọc tại các điểm bảo tồn
bằng phơng pháp chọn lọc quần thể khép kín hoặc chọn lọc đại
trà để nâng cao và duy trì chất lợng giống,
- Đồng thời tiến hành bảo tồn nghiêm ngặt nguồn gen này làm

3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 ý nghĩa khoa học
- Lần đầu tiên ứng dụng kỹ thuật PCR để phân tích sinh học phân tử
(ADN ty thể) và áp dụng phơng pháp tiên tiến (phân tích đa biến
với 41 chỉ tiêu hình thái) trong nghiên cứu các quần thể ong nội phân
bố ở Việt Nam.
- Quần thể ong nội A. cerana F. ở Việt nam là đa dạng di truyền nhất
so với một số quần thể ong nội trong vùng phân bố tự nhiên của
chúng ở Châu á.
- Xác định đợc quần thể ong nội phân bố ở Đồng Văn (Hà Giang) là
phân loài Apis cerana cerana Fabricius 1793 còn các quần thể còn
lại là phân loài Apis cerana indica Fabricius 1798.
- Bổ sung tài liệu điều tra xác định phân bố của ong nội một cách hệ
thống trên khắp cả nớc.
3.2 ý nghĩa thực tiễn
- Phân loài ong nội Apis cerana cerana Đồng Văn (Hà Giang) có tính
tụ đàn lớn, năng suất mật cao và có triển vọng đa ra sản xuất.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tợng nghiên cứu của đề tài này là loài ong nội Apis cerana
Fabricius 1793 .
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh
học phân tử (ADN ty thể) của ong nội ở các địa điểm nghiên cứu làm

4
cơ sở nền tảng đa ra các nguồn ong nội tốt cho năng suất, phẩm
chất và chống chịu với dịch hại.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Lần đầu tiên ở Việt Nam kết hợp phân tích 41 chỉ tiêu hình thái với
phân tích ADN ty thể cung cấp dẫn liệu chính xác về nguồn gen ong
nội A. cerana F. ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đã phát hiện đợc 36 địa

Ký hiệu đàn
ong
Tính tụ đàn
(cầu ong/đàn)
Năng suất mật trung bình
(Kg/đàn)
1 CB1 5 11,3
2 CB2 4 9.5
3 CB3 5 10,7
4 ĐP 3-4 5kg
Ghi chú: CB1, CB2 và CB3: đàn có ong chúa thu tại Đồng Văn; ĐP: đàn địa
phơng có ong chúa tại Hà Tây
Từ bảng 3.17 cho thấy, đàn ong nội có chúa thu tại Đồng Văn đa
về nuôi tại Hà Tây có năng suất mật cao hơn đàn ong nội địa phơng (Hà
Tây).
Từ đó, chúng tôi càng khẳng định rằng phân loài ong nội Đồng Văn
(Hà Giang) là nguồn giống tốt đáng đợc quan tâm cho công tác giống
ong nội ở Việt Nam.
3.5.2 Công tác bảo tồn
Để thực hiện chơng trình giống ong nội chất lợng cao và dựa trên
kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái, ADN ty thể và một số đặc điểm
sinh học chúng tôi đề xuất xây dựng một số điểm bảo tồn ong nội nhằm
lu giữ nguồn gen, bảo tồn và duy trì đa dạng nguồn gen ong nội và đảm
bảo cho ngành ong nớc ta phát triển bền vững. Các điểm đó là: Đồng
Văn (Hà Giang), Văn Lãng (Lạng Sơn), Sapa (Lào Cai), đảo Trà Bản

20
về lâu dài và bền vững thì cần phải tiến hành bảo tồn, lu giữ nguồn gen
đó.
Nh vậy việc điều tra, đánh giá và phát hiện nguồn gen quý hiến

656 - 4-5 Không
Ghi chú: * chỉ một vụ mật của một đàn
Bảng 3.16 sơ bộ cho thấy năng suất mật của quần thể ong qua điều
tra ban đầu tại Đồng Văn (Hà Giang) và đảo Trà Bản (Quảng Ninh) có
năng suất mật cao và sức đẻ lớn. Trong đó ong nội Đồng Văn (Hà Giang)
có năng suất mật rất cao, chỉ riêng một vụ mật hoa bạc hà dại (Elsholtzia
cypriani Chow 1974) thì năng suất đã đạt tới trên 16 kg/đàn/năm. Trong
khi đó với năng suất mật trung bình của các dòng chọn lọc ong nội theo
quần thể khép kín của tác giả Phùng Hữu Chính (1996)[5] chỉ đạt 15.54
kg/đàn/năm, tính tụ đàn 3-5 cầu/đàn và sức đẻ trứng của ong chúa là
403,05 trứng/24 giờ.

5
Chơng 1: Tổng quan tài liệu
1.1 Đa dạng loài ong mật thuộc chi Apis
1.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài ong mật thuộc chi Apis trên thế
giới
Ong mật thuộc bộ cánh màng (Hymenoptera) và thuộc họ Apidae.
Trong họ đó có họ phụ Apinae và chỉ có một tộc (tribe) Apini gồm 4 loài
là: Apis mellifera Linnaeus, Apis cerana Fabricius, Apis dorsata
Fabricius và Apis florea Fabricius (Ruttner F., 1988 [97]; còn Maa T. C.
(1953)[71]) lại chia thành 34 loài. Tính đến nay thành phần loài ong mật
đã lên tới 9 loài ở châu á: Apis laboriosa Smith 1871, A. dorsata
Fabricius 1793, A. cerana Fabricius 1793, A. nuluensis Tingek, Koeniger
& Koeniger 1996, A. koschevnikovi Enderlein 1906, A. nigrocincta
Smith 1861, A. florea Fabricius 1787, A. andreniformis Smith 1858 và
một loài ong châu Âu nhập nội A. mellifera Linnaeus 1758 (Oldroyd B.
P. and Wongsiri S., 2004)[82]
.
1.1.2 Nghiên cứu trong nớc về thành phần loài ong mật thuộc chi

1.2.2 Nghiên cứu sinh học phân tử đối với ong nội
Đến nay rất ít những nghiên cứu trong nớc về sinh học phân tử đối
với ong nói chung và ong nội Apis cerana nói riêng. Và chỉ có một số
công trình về enzyme (Nguyễn Văn Niệm, 2001[15], Niem N. V. et al.,
2001[78]).
1.3 Công tác giống và bảo tồn ong nội Apis cerana F.
1.3.1 Công tác giống ong nội A. cerana F. trên thế giới và Việt Nam
Các nhà chọn giống ong đa ra các tiêu chí trong chọn lọc và tạo
giống là: năng suất mật cao, sức đẻ trứng của ong chúa mạnh và tụ đàn
cao, (Crane E., 1990)[40]. Trong các tiêu chí đó thì chỉ tiêu năng suất
mật là tính trạng di truyền do nhiều gen quy định (Crane E., 1990[40];

19
Nhng chỉ có một mẫu trong số 3 mẫu thu thập tại Cao Bằng lại thuộc về
phân loài Apis cerana cerana nh hình 3.23.

Hình 3.23. So sánh 12 trình tự của gen 16s Riboxom
Ghi chú: AC2, 3 thuộc về Tủa Chùa; AC 4, 5, 6 thuộc về Nguyên Bình; AC 7, 8 thuộc
Bảo Lộc; AC 10,11,12 thuộc Cát Bà; AC 13, 14 thuộc Côn Đảo; A. cer = A. cerana
indica; A. flor = A. florea; A. dor = A. dorsata; A. melf = A. mellifera
Tóm lại: ong nội ở nớc ta có 2 phân loài là Apis cerana cerana và
Apis cerana indica. Phân loài Apis cerana cerana phân bố trên cao
nguyên Đồng Văn (Hà Giang) và phân loài Apis cerana indica phân bố ở
các khu vực còn lại trên cả nớc, vớ 9 dạng hình thái riêng biệt. Hai
phân loài này có phần ranh giới di truyền giao thoa trên bản đồ Việt
nam tại vùng phía Bắc.
3.5 Hớng sử dụng kết quả nghiên cứu hình thái và sinh học phân tử
(ADN ty thể) vào công tác giống và bảo tồn ong nội
3.5.1 Công tác giống
Để có một chơng trình giống tốt cần phải có nguồn vật liệu di

thì một loài thực vật thu phấn nhờ ong đó cũng dần dần bị biến mất trong
tơng lai gần (do sự đồng tiến hoá) và nh vậy chuỗi thức ăn trong hệ
sinh thái đó có nguy cơ bị phá vỡ (Thai H. P., 2001)[115]. Do đó
Fabunmi M., 2004[49] đa ra sự cần thiết phải thực hiện chiến lợc bảo
tồn ong mật.
Đối với ong nội A. cerana, việc điều tra tổng thể trên khắp cá nớc
nhằm phát hiện nguồn gen mới đồng thời xây dựng một khu vực bảo tồn
và lu giữ tại chỗ làm vật liệu di truyền cho các chơng trình chọn tạo
các giống ong nội A. cerana ở nớc ta có chất lợng cao và đảm bảo cho
ngành ong Việt Nam phát triển bền vững là rất cần thiết.
Chơng 2: Địa điểm, thời gian, vật liệu, nội dung và phơng pháp
nghiên cứu
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm điều tra thực địa gồm 4 khu vực
- Phòng thí nghiệm: Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử của Trung tâm
nghiên cứu Ong và Viện Sinh thái - Tài nguyên sinh vật
- Đề tài đợc tiến hành nghiên cứu từ năm 2002 đến năm 2007

8
2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Vật liệu nghiên cứu: Các mẫu ong thợ của các quần thể ong nội
Apis cerana F. thu thập tại các khu vc nghiên cứu của Việt Nam.
- Dụng cụ nghiên cứu: ở thực địa (bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 1.000.000,
máy định vị cầm tay GPS, thớc palmer, ); trong phòng thí nghiệm
(bộ giải phẫu côn trùng Lasec-Italia, kính hiển vi soi nổi, hệ thống
thiết bị đo hình thái Cias - Mỹ, máy PCR, máy đọc trình tự ADN tự
động, ) và các hoá chất (bộ hoá chất tách triết ADN, hoá chất điện
di, hoá chất đọc trình tự ADN, ).
2.3 Nội dung và phơng pháp nghiên cứu
2.3.1 Điều tra tình hình phân bố các quần thể ong mật Apis cerana

cerana Fabricus 1793. Ong nội thu tại các khu vực còn lại thuộc phân
loài Apis cerana indica Fabricius 1798.
3.4.2 Xác định vị trí phân loài ong nội và ranh giới phân bố của
chúng ở Việt Nam dựa trên đặc điểm sinh học phân tử (ADN
ty thể)
Từ kết quả phân tích hình thái ở trên đã định loại ong nội thuộc phân
loài Apis cerana cerana chỉ có mặt tại Đồng Văn (Hà Giang) và phân
tích di truyền cũng đồng thuận với điều đó. Tuy nhiên, phân tích di
truyền cho thấy kiểu gen có sự phân bố rộng hơn kiểu hình. Điều này
đợc chứng minh tại hình 3.18 rằng ong nội từ Sapa (Lào Cai), qua Phú

16
Qua hình 3.17, chúng tôi thấy tại quận 7 (thành phố Hồ Chí Minh)
đã có tới 3 haplotype khác nhau ở 3 nhánh khác nhau. Chỉ số đa dạng di
truyền ở Việt Nam là 0,0103; Campuchia là 0,0078; Hàn quốc là 0,0028;
Pakistan là 0,0013 và Nhật bản là 0,0006 (năm 2005)[112], còn Trung
Quốc là 0,0057 (Ken T. et al., 2007)[64].
Tóm lại: quần thể ong nội tại phía Nam Việt Nam có tới 9
haplotype trong đó có 3 haplotype lần đầu tiên đợc ghi nhận đó là
haplotype Vietnam1, Vietnam2 và Vietnam3. Quần thể ong nội ở Việt
Nam đa dạng di truyền nhất so với một số quần thể ong nội ở Châu á.
3.4 Xác định vị trí phân loài ong nội và ranh giới phân bố của chúng
ở Việt Nam
3.4.1 Xác định vị trí phân loài ong nội của Việt Nam dựa trên đặc
điểm hình thái
Da trên các dẫn liệu, kết quả phân tích và chỉ xem xét các quần thể
ong nội phía Bắc (nơi đợc coi đâu là phân bố của hai phân loài) ở hình
3.20

Hình 3.20. Phân nhóm quan hệ hình thái của quần thể ong nội Đồng Văn

điểm điều tra của khu vực nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phần mềm
thống kê Statistica 6.0 (xử lý số liệu dới dạng đồ thị hình elip với độ
tin cậy của elip là 75% đợc thực hiện bởi công cụ phân tích phân

10
biệt; xử lý số liệu bằng máy tự động phân tích và đa ra mô hình
nhóm liên kết hình cây).
- Phơng pháp phân tích số liệu ADN ty thể: Sử dụng chơng trình
phần mềm máy tính Clustal X, version 1.81 và MEGA (Molecular
Evolutionary Genetics Analysis), version 3.1 để xử lý và phân tích
các bộ số liệu trình tự, chủ yếu là tính toán các đặc điểm thống kê,
xây dựng cây phát sinh chủng loại và phân tích sự đa dạng di truyền
trong và giữa các quần thể (Hall B. G., 2001[57]; Kumar S. et al.,
2004 [62]).
2.3.4 Hớng sử dụng nguồn gen vào công tác giống và bảo tồn: Một
số chỉ tiêu sinh học đợc điều tra thu thập (chỉ mang tính tham khảo) nh
năng suất mật (Laidlaw H. H. and Page R. E., 1997)[69], sức đẻ trứng
của ong chúa (Phùng Hữu Chính, 1996)[5] và tính tụ đàn.
Chơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Tình hình phân bố ong nội (Apis cerana F.) ở Việt Nam
- Tình hình phân bố nguồn gen của loài ong nội ở các tỉnh biên
giới phía Bắc (khu vực 1): có 12 địa điểm có nguồn gen của loài
ong nội còn nguyên vẹn và đều có tình trạng nuôi ong phổ biến dới
hình thức cổ truyền.
- Tình hình phân bố nguồn gen của loài ong nội ở một số đảo lớn
thuộc vịnh Bắc bộ (khu vực 2): có 8 địa điểm điều tra có nguồn gen
của loài ong nội còn nguyên vẹn và ghi nhận khu vực vờn Quốc gia
Bái Tử Long lần đầu tiên đợc điều tra nghiên cứu ngoại trừ đảo Cát
Bà (Nguyễn Văn Niệm và cộng sự, 2002)[16].
- Tình hình phân bố nguồn gen của loài ong nội dọc vùng núi dãy

nguyên vẹn (82,61%). Còn phần lớn những nơi nuôi ong hiện đại đều là
những địa điểm có trình trạng nguồn gen đã bị du nhập (chỉ 0,6% địa
điểm điều tra nuôi ong hiện đại với nguồn gen ong còn nguyên vẹn).
nhất. Tuy nhiên cũng không thể cho rằng kích thớc cơ thể ong nội tăng
dần theo vĩ độ hay độ cao so với mặt nớc biển, cũng nh theo lợng
ma hay độ ẩm không khí của khu vực điều tra.
3.3 Đặc điểm sinh học phân tử (ADN ty thể) của quần thể ong nội
(A. cerana F.) ở Việt Nam
3.3.1 Đặc điểm sinh học phân tử đoạn COI của ADN ty thể quần thể
ong nội phía Bắc
Các haplotype trên và vị trí các bazơ bị biến đổi đợc chúng tôi tóm
tắt và trình bày tại bảng 3.14
Bảng 3.14. Các haplotype đợc tìm thấy trong các quần thể ong nội phía Bắc
3.2 Đặc điểm hình thái của quần thể ong nội ở Việt Nam
TT Haplotype Địa điểm Vị trí biến đổi
Biến đổi
(%)
1 H1 Đồng Văn (Hà Giang) (C1) - C (160) 0,004
3.2.1 Hình thái của quần thể ong nội ở khu vực 1
2 H2 Sapa (Lào Cai) (C2) Không 0
3 H2 Văn Lãng (Lạng Sơn) (C3) Không 0
4 H2 Ba Bể (Bắc Kạn) (C4) Không 0
5 H2
Phú Lơng (Thái Nguyên)
(C11)
Không 0
6 H2
Móng Cái (Quảng Ninh)
(C14)
Không 0

tỉnh biên giới phía Bắc (khu vực 1).
Bên cạnh đó, chúng tôi tiến hành kiểm tra mối quan hệ giữa các chỉ
tiêu hình thái theo trung bình xếp hạng của ong nội tại các khu vực điều
tra, thu mẫu ở khu vực nghiên cứu phía bắc với vĩ độ Bắc và độ cao so
với mặt nớc biển. Ong nội tại Đồng Văn (Hà Giang) có kích thớc cơ
thể lớn nhất và có màu sẫm nhất so với ong nội tại các điểm điều tra khác
của khu vực nghiên cứu phía Bắc Việt Nam.
Ghi chú: dấu (-) và bazơ là mất Bazơ đó trong trình tự; dấu (+) và bazơ là thêm
Bazơ đó trong trình tự; dấu (=) và bazơ là thay Bazơ đó trong trình tự cho một bazơ
khác; dấu (số) là vị trí thứ tự của Bazơ đó trong trình tự

12

13
3.2.2 Hình thái của quần thể ong nội tại các đảo vịnh Bắc bộ (khu
vực 2)
Các quần thể ong nội tại các đảo lớn vịnh Bắc bộ tạo thành 4 nhóm
khác nhau bắt nguồn từ 2 nhánh lớn (p < 0,001). Nhánh 1 gồm quần thể
ong nội đảo Trà Bản và đảo Cái Chiên; nhánh 2 gồm quần thể ong nội
Vờn quốc gia Bái Tử Long (gồm các đảo Soi Nhụ, Sậu Nam và Ba
Mùn) và quần thể ong nội đảo (Cô Tô, Cái Bầu) đều thuộc tỉnh Quảng
Ninh.

Hình 3.12. Phân nhón quan hệ về hình thái của ong nội ở các tỉnh thuộc
vùng ven biển và đảo từ Đà Nẵng tới Cà Mau
3.2.3 Hình thái của quần thể ong nội tại khu vực dãy Trờng Sơn -
biên giới Campuchia (khu vực 3)
Từ hình 3.10. cho thấy rằng sự đa dạng hình thái của ong nội tại khu
vực này là khá phong phú. Sự phân nhánh hình thái theo kiểu hình cây
thấy quần thể ong nội Tịnh Biên tách thành nhánh riêng biệt ở mức

7,95455
23
o
16'
48''
1400 149,74 23,22 84,10
2
Mộc Châu
(Sơn La)
4,31818
20
o
50'
30''
1050 142,98 18,94 86,42
3
Nghĩa Đàn
(Nghệ An)
4,77273
19
o
20'
00
100 148,20 24,36 83,17
4
Minh Hoá
(Quảng Bình)
2,95455
17
o

8
Tân Biên
(Tây Ninh)
6,27273
11
o
32'
24''
50 141,01 27,39 81,59
9
Tịnh Biên
(An Giang)
2,63636
10
o
42'
12''
20 93,57 27,56 79,65

Hình 3.10. Phân nhóm quan hệ về hình thái của ong nội tại khu vực 3
3.2.4 Hình thái của quần thể ong nội tại các tỉnh thuộc khu vực 4
Hình 3.12 cho thấy ong nội của khu vực 4 đợc chia thành 2
nhánh chính. Nhánh 1 là quần thể ong nội Giồng Trôm (Bến Tre) và
nhánh 2 là quần thể ong nội Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu) cùng với các
quần thể còn lại.
Qua bảng 3.12 cho thấy kích thớc cơ thể ong nội ở Đồng Văn (Hà
Giang) là lớn nhất và kích thớc ong nội ở Tịnh Biên (An Giang) là nhỏ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status