rèn kĩ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3 - Pdf 24

"Rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ
so sánh cho học sinh lớp 3"
Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm phương tiện thể hiện. Có khả năng
tác động đến đời sống tâm hồn của con người. Trong đó biện pháp tu từ so sánh góp một
phần không nhỏ làm lên điều này.
"Rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3"

Phần I: lý do chọn đề tài

I. Cơ sở lý luận:
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước, trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đã
đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục. Một trong những nhiệm vụ cơ bản của giáo
dục đào tạo hiện nay là: hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh một cách toàn
diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước.
Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm phương tiện thể hiện. Có khả năng
tác động đến đời sống tâm hồn của con người. Trong đó biện pháp tu từ so sánh góp một
phần không nhỏ làm lên điều này.
Một mặt, so sánh có khả năng khắc học hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một
hình thức miêu tả sinh động, mặt khác so sánh còn có tác dụng làm cho lời nói rõ ràng, cụ
thể sinh động, diễn đạt được mọi sắc thái biểu cảm. So sánh tu từ còn là phương thức bộc
lộ tâm tư tình cảm một cách kín đáo và tế nhị. Như vậy đối với tác phẩm văn học nói
chung so sánh mang chức năng nhận thức và biểu cảm.
Nhờ những hình ảnh bóng bảy, ước lệ, dùng cái này để đối chiếu cái kia nhằm diễn tả
những ngụ ý nghệ thuật mà so sánh tu từ được sử dụng phổ biến trong thơ ca, đặc biệt là
thơ viết cho thiếu nhi. So sánh tu từ giúp các em hiểu và cảm nhận được những bài thơ,
bài văn hay, từ đó góp phần mở mang tri thức làm phong phú về tâm hồn, tạo hứng thú
khi viết văn, rèn luyện ý thức, yêu quý Tiếng Việt giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
cho học sinh.
* Mục đích của đề tài:
Góp phần giúp học sinh củng cố lý thuyết về cách dùng từ so sánh, từ đó học sinh biết

biết tu từ so sánh nhanh
Số học sinh còn nhầm lẫn khi nhận
biết tu từ so sánh
9/24 ≈ 37,5% 10/24 ≈ 41,7% 5/24 ≈ 20,8%

Phần II: Nội dung

I .Những vấn đề chung:
1. Cơ sở ngôn ngữ học:
Ngôn ngữ nói chung, Tiếng việt nói riêng có mối quan hệ mật thiết với phương pháp dạy
học Tiếng Việt. Ngôn ngữ bao gồm một hệ thống, bao gồm các bộ phận ngữ âm, từ vựng
và ngữ pháp. Mỗi bộ phận của ngôn ngữ là một hệ thống nhỏ, có cơ cấu tổ chức riêng, có
quan hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống ngôn ngữ.
2. Cơ sở lý luận dạy học:
Phương pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ môn của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc
vào những quy luật chung của khoa học này. Lý luận dạy học đại cương cung cấp cho
phương pháp dạy học Tiếng Việt những hiểu biết về các quy luật chung của việc dạy học
môn học. Nó vận dụng nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học theo đặc trưng của mình.
Môn Tiếng Việt là một trong những bộ môn cơ bản của nhà trường phổ thông nên phải
thực hiện theo nguyên tắc giáo dục học. Bởi vậy nguyên tắc dạy học Tiếng Việt phải cụ
thể hóa mục tiêu và các nguyên tắc dạy học nói chung vào bộ môn của mình.
Như vậy mục tiêu của việc dạy và học Tiếng Việt nằm trong mục tiêu chung của giáo dục
nước ta trong giai đoạn mới hiện nay: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài, nhằm hình thành đội ngũ lao động có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, tự
chủ, năng động sáng tạo.
3. Cơ sở thực tiễn:
Chương trình dạy học chỉ quy định phạm vi dạy học của các môn. Còn nhiệm vụ của
SGK là trình bày nội dung của bộ môn một cách rõ ràng, cụ thể và chi tiết theo cấu trúc
của nó. SGK có chức năng là lĩnh hội củng cố những tri thức tiếp thu được trên lớp, phát
triển nhân lực trí tuệ và có tác dụng giáo dục học sinh. SGK cũng giúp giáo viên xác định

a) Tìm các từ ngữ chỉ sự vật trong các khổ thơ sau:
b) Tím các từ ngữ chỉ vật mà con thường gặp hàng ngày (đồ dùng học sinh). Để học sinh
sáng tạo kể tên các sự vật thường gặp.
* Ví dụ 2: Bài tập 2: (Trang 117).
Lệnh của bài: Tìm các từ chỉ đặc điểm trong những câu thơ sau:
Ta có thể thay lệnh: Tìm các từ chỉ đặc điểm của sự vật trong những câu thơ sau.
Khi dạy các phân môn thuộc bộ môn Tiếng Việt người giáo viên cần lồng ghép giữa các
phân môn trong môn Tiếng Việt với nhau. Như khi dạy bài Tập đọc: "Hai bàn tay em"
SGK Tiếng Việt 3 tập I (Trang 7). Trong bài này có rất nhiều hình ảnh tu từ so sánh giáo
viên cần nhấn mạnh để gây hứng thú cho tiết tiếp theo của môn: "Luyện từ và câu".
Để học sinh học tốt môn Tiếng Việt đặc biệt là phân môn: "Luyện từ và câu" dạng bài tu
từ so sánh học sinh cần nắm và làm theo các yêu cầu sau: Đọc kỹ đề bài, xác định đúng
yêu cầu của bài sau đó mới làm bài.
Muốn học sinh của mình có một kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh vững vàng đòi
hỏi người giáo viên phải có nghệ thuật khi hướng dẫn bài mới như:
a) Mô hình 1:
- So sánh: Sự vật - Sự vật.
Mô hình này có các dạng sau:
A như B.
A là B.
A chẳng bằng B.
A x B; x triệt tiêu (Từ chỉ quan hệ so sánh triệt tiêu).
* Ví dụ: Tìm sự vật được so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn dưới đây:
"Hai bàn tay em
Như hoa đầu cành"
(Huy Cận)
"Mặt biển sáng trong như tấm thảm khổng lồ bằng ngọc thạch"
(Vũ Tú Nam)
"Cánh diều như dấu á
Ai vừa tung lên trời"

"Bà như quả ngọt chín rồi
Càng thêm tuổi tác càng tươi lòng vàng".
(Võ Thanh An)
Với dạng bài tập này học sinh sẽ dễ dàng tìm sự vật so sánh với con người nhưng các em
chưa giải thích được "Vì sao?". Chính vì thế điều đó giáo viên giúp học sinh tìm được
đặc điểm chung của sự vật và con người, chẳng hạn:
"Trẻ em" giống như "búp trên cành". Vì đều là những sự vật còn tươi non đang phát triển
đầy sức sống non tơ, chứa chan niềm hy vọng.
"Bà" sống đã lâu, tuổi đã cao giống như "quả ngọt chín rồi" đều phát triển đến độ già giặn
có giá trị cao, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân trọng.
c) Mô hình 3:
- So sánh: Hoạt động - Hoạt động.
Mô hình này có dạng như sau:
+ A x B.
+ A như B.
* Ví dụ: Trong các đoạn trích sau, những hoạt động nào được so sánh với nhau:
+ "Con trâu đen lông mượt
Cái sừng nó vênh vênh
Nó cao lớn lênh khênh
Chân đi như đạp đất"
(Trần Đăng Khoa)
+ "Cau cao, cao mãi
Tàu vươn giữa trời
Như tay ai vẫy
Hứng làn mưa rơi"
(Ngô Viết Dinh)
Dạng bài này giáo viên giúp học sinh nắm chắc được từ chỉ hoạt động, từ đó học sinh sẽ
tìm được các hoạt động được so sánh với nhau. Chẳng hạn:
+ Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất" qua từ "như".
d) Mô hình 4:

so sánh
Số học sinh chưa có kỹ năng nhận
17/24 ≈ 70,8% 7/24 ≈ 29,2%

Phần III:Kết luận và bài học kinh nghiệm
Qua kinh nghiệm rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3. Bản
thân tôi thấy rằng cần hướng và rèn cho học sinh những kỹ năng sau:
- Học sinh tự củng cố vốn kiến thức của mình thông qua đọc nhiều sách báo phù hợp với
lứa tuổi, xem băng hình, quan sát tranh
- Cho học sinh giao lưu trực tiếp với các bạn trong lớp, trong trường sau mỗi bài học:
"Luyện từ và câu" dạng này để học sinh khắc sâu kiến thức.
- Khi làm bài tập yêu cầu học sinh đọc kỹ đàu bài, xác định đúng yêu cầu của bài, phân
biệt được chúng thuộc kiểu bài so sánh dạng nào rồi mới bắt tay vào làm bài.
Qua quá trình suy nghĩ và tìm tòi tôi đã tìm thấy một số biện pháp như đã nêu ở trên, để
rèn kỹ năng nhận biết biện pháp tu từ so sánh cho học sinh lớp 3. Qua việc áp dụng
những biện pháp trên tôi thấy kỹ năng nhận biết của học sinh lớp 3A tôi dạy đã được
nâng lên. Tuy nhiên đó cũng có thể là những biện pháp tối ưu nhất. Tôi chỉ mạnh dạn nêu
lên để bạn bè, anh chị em giáo viên cùng tham khảo. Rất mong được sự góp ý của các
thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hòa Lý, tháng 11 năm 2010
Figure 1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status