Nâng cao năng lực nhận biết và kĩ năng thực hànhphép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3 - Pdf 43

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

MỘT SỐ BIỆN PHÁP
Nâng cao năng lực nhận biết và kĩ năng thực hành
phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3

Họ và tên: Lê Thị ngọc
Chức vụ: Giáo viên
Trường: Tiểu học Thị Trấn - Hậu Lộc
Sáng kiến thuộc môn: Tiếng Việt

Năm học : 2010 - 2011

1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lời mở đầu:
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi chúng ta khi trò chuyện hay khi giao tiếp
không ai không một lần sử dụng phép so sánh.
“So sánh” là “cách nói” rất quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống cũng
như trong sáng tác văn chương. Nhờ phép so sánh, người viết có thể gợi ra
những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ lành mạnh, đẹp đẽ. So sánh
được coi là một trong những phương thức tạo hình, gợi cảm hiệu quả nhất. Nó
có tác động lớn trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng
tượng, khả năng nhận xét và đánh giá của con người. Nhờ “So sánh” làm tâm
hồn và trí tuệ mỗi người thêm phong phú, giúp chúng ta cảm nhận văn học và
cuộc sống một cách tinh tế hơn, sâu sắc hơn. Nhờ những hình ảnh bóng bẩy,
ước lệ, dùng cái nọ để đối chiếu cái kia nhằm diễn tả những ngụ ý nghệ thuật
mà phép so sánh được sử dụng phổ biến rộng rãi trong thơ ca, đặc biệt là thơ

hóa các hoạt động học tập, tạo hứng thú trong giờ học để học sinh tiếp thu
kiến thức một cách có hiệu quả, đồng thời giúp các em có kỹ năng thực hành
phép tu từ so sánh.
Nhưng trong thực tế, giáo viên và học sinh còn gặp không ít khó khăn khi
dạy- học phép tu từ so sánh. Đối với học sinh, các em chỉ mới nhận biết sơ
qua các hình ảnh so sánh. Kĩ năng vận dụng phép so sánh, cảm nhận giá trị
của phép so sánh chưa cao. Về phía giáo viên, khi dạy phép so sánh còn nhiều
điểm hạn chế trong việc xác định mục đích, mức độ yêu cầu của một bài dạy
hay khâu lựa chọn các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học. Hơn nữa, các
tài liệu tham khảo để mở rộng vốn hiểu biết cho giáo viên và học sinh về dạy
và học phép tu từ so sánh chưa nhiều. Bởi vậy, chất lượng và hiệu quả dạy
học phép tu từ so sánh có phần chưa được nâng cao.
1. Thực trạng về nội dung dạy- học phép tu từ so sánh trong phân
môn Luyện từ và câu Lớp 3
a. Về cấu trúc nội dung:
3


Nội dung phép tu từ so sánh trong chương trình Tiếng Việt 3 là một nội
dung “mới”, chiếm một dung lượng không lớn. Tất cả chỉ có 7 tiết học, bằng
khoảng 1/5 tổng thời gian của phân môn Luyện từ và câu và bằng 1/35 tổng
thời gian của môn Tiếng Việt. Phép tu từ so sánh được dạy trong học kì I và
cứ 2 tuần một tiết. Có thể thống kê nội dung phép tu từ so sánh được phân
phối trong chương trình cụ thể như sau:
Tuần

Chủ điểm

1



Quê hương

12
15

BắcTrung- Nam
Anh em
một nhà

So sánh sự vật với con người.
Làm quen so sánh âm thanh với âm
thanh
So sánh hoạt động với hoạt động.
Đặt câu có hình ảnh so sánh.

58
79
98
126

b. Về phía giáo viên:
Mỗi giáo viên cũng còn gặp không ít những khó khăn về cơ sở vật chất,
phương tiện dạy học và các tài liệu tham khảo phục vụ cho việc dạy về phép
tu từ so sánh. Một số bộ phận nhỏ giáo viên chưa biết chú trọng và quan tâm
nhiều đến việc lồng ghép nội dung phép so sánh vào trong quá trình dạy giữa
các phân môn của môn Tiếng Việt cũng như với các môn học khác trong
chương trình. Bởi vậy một phần nào chưa khơi dậy sự tò mò, niềm hứng thú
và óc sáng tạo của học sinh khi học môn Tiếng Việt nói chung và phép tu từ
so sánh nói riêng.

so sánh

phép so sánh

10/23 = 43,5%

10/23 = 43,5%

3/23 = 13%

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Các giải pháp thực hiện
1. Giúp HS nắm vững nội dung phép tu từ so sánh.
2. Nâng cao năng lực nhận biết phép tu từ so sánh.
3. Rèn kỹ năng thực hành phép tu từ so sánh
II. Các biện pháp thực hiện
Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm vững nội dung phép tu từ so sánh
a. Hệ thống các dạng bài tập

5


Nội dung về phép tu từ so sánh chiếm một dung lượng không lớn trong
chương trình Tiếng Việt 3. Nội dung dạy học phép tu từ so sánh được thông
qua hệ thống các bài tập. Trong quá trình dạy, giáo viên nên chia hệ thống bài
tập thành các loại bài tập và các dạng bài tập. Từ đó giúp các em dễ dàng nhớ
và phân biệt được các loại bài khác nhau và có hướng làm bài đúng với yêu
cầu. Có thể chia hệ thống bài tập về phép tu từ so sánh thành hai loại bài tập
như sau:
- Bài tập Nhận biết phép tu từ so sánh.

Nội dung dạy học về phép tu từ so sánh được trình bày qua hệ thống bài
tập. Vì vậy khi dạy về mỗi dạng bài cần thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Giáo viên giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng
các câu hỏi, bằng lời giải thích, bằng cách minh hoạ…).
Bước 2: Hướng dẫn học sinh những nội dung khó của bài tập.
Bước 3: Tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những
điểm ghi nhớ về phép tu từ so sánh.
Dạy học phép tu từ so không chỉ giúp học sinh nắm vững nội dung về
phép so sánh mà còn giúp các em có năng lực nhận biết và vận dụng tốt phép
tu từ so sánh.
Biện pháp 2: Nâng cao năng lực nhận biết phép tu từ so sánh
1. Dạy theo đúng quy trình.
Để học sinh có khả năng tiếp thu và học tốt phép tu từ so sánh, với mỗi
loại bài, dạng bài cần thực hiện theo các yêu cầu sau:
-

Đọc kỹ yêu cầu của bài tập

-

Xác định đúng nội dung yêu cầu

-

Phân tích yêu cầu của bài tập

7


-

Khi dạy phép tu từ so sánh, cũng cần có sự lồng ghép nội dung so sánh
vào các phân môn trong môn Tiếng Việt một cách linh hoạt, khéo léo, nhằm
khơi dậy trí tò mò, sự ham học, ham hiểu biết của học sinh.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Tập đọc: "Hai bàn tay em" SGK Tiếng Việt 3 tập I,
trong bài có rất nhiều hình ảnh so sánh. Bằng cách nêu yêu cầu, có thể cho
các em tìm các câu thơ có sử dụng phép tu từ so sánh để chuẩn bị cho tiết
Luyện từ và câu.

8


Ví dụ 2: Khi dạy bài Tập đọc “Cửa Tùng”, để giải thích từ ngữ (chiếc
thau đồng, bờ biển Cửa Tùng), GV yêu cầu học sinh tìm câu văn có sử dụng
phép so sánh, như vậy học sinh sẽ rất dễ dàng tìm ra câu :
-

Mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển .

-

Người xưa để ví bờ biển Cửa Tùng giống như một chiếc lược đồi

mồi cài vào mái tóc bạch kim của sóng biển.
Với những câu tự tìm được sẽ giúp các em nhớ lâu hơn và từ đó có thể áp
dụng vào việc đặt câu, viết văn .
* Tích hợp trong môn Tự nhiên và xã hội :
Khi dạy bài “ Các thế hệ trong gia đình’’ giáo viên có thể cho học sinh
tìm những câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ nói về tình cảm của những người
thân trong gia đình. Có thể cho học sinh tìm tự do nhưng với yêu cầu các câu
đó phải có hình ảnh so sánh. Chẳng hạn học sinh sẽ tìm được các câu:

Dạng bài tập này được dạy dựa trên 4 mô hình:
-

Mô hình 1: So sánh Sự vật - Sự vật

-

Mô hình 2: So sánh Sự vật - Con người.

-

Mô hình 3: So sánh Hoạt động - Hoạt động

-

Mô hình 4: So sánh Âm thanh - Âm thanh.

* Dạy theo mô hình 1: So sánh Sự vật - Sự vật
Mô hình này cách nhận dạng rất dễ vì trong câu thường xuất hiện các từ so
sánh (như, là, giống, tựa, giống như, tựa như,...)
Mô hình trên có các dạng:

A như B ; A là B

- Tìm hiểu dạng A như B:
Dạng bài này xuất hiện ngay từ đầu tiên của nội dung chương trình.
Ví dụ: Bài 2 (trang 8): Tìm những sự vật được so sánh với nhau trong các câu
thơ, câu văn dưới đây:
a)


+ "Cánh diều” so sánh với "dấu á”
+ "Dấu hỏi” so sánh với "vành tai nhỏ"
Cũng có thể giáo viên nêu câu hỏi gợi ý để các em tìm ra những điểm giống
nhau giữa hai sự vật được so sánh.
Ví dụ: - Vì sao "Hai bàn tay em" được so sánh với "Hoa đầu cành"?
- Vì sao nói "Mặt biển" như "tấm thảm khổng lồ"?
Từ đó học sinh sẽ tìm được các hình ảnh so sánh. Bởi lẽ:
+ Hai bàn tay của bé nhỏ xinh cũng giống như một bông hoa.
+ Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.
+ Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á
Hoặc giáo viên có thể vẽ lên bảng "Cánh diều" và "Dấu á" để giúp HS thấy rõ
điểm giống nhau của các sự vật.
- Tìm hiểu dạng A là B:
Dạng này học sinh rất dễ nhầm lẫn giữa câu có hình ảnh so sánh với
câu dùng để giới thiệu vì cả 2 kiểu câu này đều có từ “ là ”
Ví dụ : Bài 1c,1d (trang 24, 25): Tìm các hình ảnh so sánh trong những
câu thơ, câu văn dưới đây:

11


c.

Mùa đông
Trời là cái tủ ướp lạnh.
Mùa hè
Trời là cái bếp lò nung.

d. Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng.
Trong trường hợp này, cần phải cho học sinh xác định các sự vật được so

a.

“Con trâu đen lông mượt
Cái sừng nó vênh vênh
Nó cao lớn lênh khênh
Chân đi như đập đất”.

b.

“Cau cao cao mãi
Tàu vươn giữa trời
Như tay ai vẫy
Hứng làn mưa rơi.”

Dạng bài này giáo viên nên giúp học sinh nắm vững từ chỉ hoạt động, từ đó
học sinh sẽ nêu ra các hoạt động được so sánh với nhau.
Chẳng hạn: + Hoạt động "đi" so sánh với hoạt động "đập đất"
+ Hoạt động “vươn” của tàu dừa giống hoạt động “vẫy” tay
* Dạy theo mô hình 4: So sánh Âm thanh - Âm thanh:
Mô hình này có dạng: A như B:
A là âm thanh thứ nhất
B là âm thanh thứ hai.
Ví dụ: Bài tập 2(trang 80): Hãy tìm những âm thanh được so sánh với
nhau trong mỗi câu thơ, câu văn dưới đây:
14


a.

“Côn Sơn suối chảy rì rầm


Từ việc quan sát tranh, học sinh sẽ có thể viết được một số câu có hình
ảnh so sánh. Chẳng hạn: -

Xe ô tô lao nhanh như tên bắn .

- Bóng đèn điện toả sáng như mặt trăng đêm rằm.
-

Cây thông cao như ngọn tháp .

- Nụ cười của cô xinh như bông hoa hồng .
- Thỏ thì hiền hơn báo.
b. Bài tập: Điền khuyết
Ví dụ: Bài tập 4 (trang 126): Tìm những từ ngữ thích hợp điền vào chỗ trống:
a)

Công cha nghĩa mẹ được so sánh như..., như...

b)

Trời mưa, đường đất sét trơn như...

c)

Ở thành phố có nhiều toà nhà cao như ...

Trong mỗi câu, giáo viên nên để học sinh xác định sự vật đã cho để có thể
tìm được nhiều từ cần điền .




+ Bộ phiếu B: (5 từ chỉ màu sắc) Trắng , xanh, đỏ, vàng , đen
(Dành cho tiết 15: Luyện đặt câu có hình ảnh so sánh)
+ Bộ phiếu C: (5 từ chỉ đặc điểm, tính chất): đẹp, cao, khoẻ, nhanh, chậm
(Dành cho tiết 14, 17: Ôn tập từ chỉ đặc điểm)
* Cách tiến hành :
- Lớp cử trọng tài và thư ký theo dõi diễn biến và kết quả trò chơi .
- Trọng tài để bộ phiếu lên bàn cho các bạn xung phong lên tham gia chơi
- Một bộ phiếu 5 từ thì dành cho 5 người “Thử tài”.
- Học sinh 1 (HS1) lên “bốc thăm”, đọc yêu cầu cho các bạn nghe rồi nêu
thật nhanh các cụm từ có hình ảnh so sánh.
- Ví dụ: HS1: “bốc thăm” được từ trắng
- Có thể nêu cụm từ so sánh: trắng như tuyết, trắng như vôi, (hoặc : trắng
như trứng gà bóc).
- Trọng tài cùng cả lớp chứng kiến và xác nhận kết quả Đúng- Sai
- Mỗi bộ phiếu chọn ra một người có “Tài so sánh” đó là người thắng
cuộc.
* Đáp án tham khảo: Gợi ý các cụm từ có hình ảnh so sánh
Bộ phiếu A: (5 từ chỉ hoạt động, trạng thái)
-

Đọc : Đọc như đọc kinh, đọc như cuốc kêu, đọc như nói thầm ...

-

Viết : viết như gà bới, viết như rồng bay phượng múa,…

-


-

Vàng: vàng như nghệ, vàng như mật ong, vàng như tơ,...
Bộ phiếu C: (5 phiếu từ chỉ đặc điểm, tính chất)

-

Đẹp : đẹp như tiên, đẹp như hoa, đẹp như tranh, đẹp như mơ,...

-

Cao: cao như núi, cao như sếu, cao như cây sào,…

-

Khoẻ : khoẻ như voi, khoẻ như trâu, khoẻ như lực sĩ ,...

-

Nhanh: nhanh như sóc, nhanh như cắt, nhanh như chớp ,...

-

Chậm: chậm như sên, chậm như rùa, ...

Ngoài những bộ phiếu trên, giáo viên còn có thể chuẩn bị thêm một số bộ
phiếu khác có nội dung tương tự nhằm cung cấp cho học sinh nhiều hình ảnh
so sánh khác.
Mặc dù những kiến thức về phép tu từ so sánh ở lớp 3 chỉ mức độ sơ giản.
Song bước đầu đã trang bị cho học sinh cách nói, cách nhìn giản dị mà sâu

- Sau mỗi bài học, phải dành thời gian để dặn dò HS cụ thể.
- Luôn kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh và có sự nhận xét.
- Phải có sự chuẩn bị tốt cho nội dung bài dạy.
- Sử dụng triệt để đồ dùng trực quan trong quá trình giảng dạy.
- Hệ thống ngôn ngữ phải trong sáng, gần gũi, dễ hiểu.
- Tổ chức trò chơi học tập phải có sự chuẩn bị kĩ lưỡng.
* Đối với học sinh:
- Cần phải có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp .
- Tự củng cố vốn kiến thức bằng cách đọc nhiều loại sách, báo,…
- Nên có sự giao lưu, học hỏi lẫn nhau nhằm mở rộng vốn từ.
- Cần đọc kỹ và xác định đúng yêu cầu của từng loại bài, dạng bài.
- Quan sát sự vật thật tinh tế để tìm ra những điểm giống và khác nhau.

20


- Tham gia chơi trò chơi phải tuân thủ đúng nguyên tắc và các quy định.
Qua quá trình trực tiếp giảng dạy kết hợp nghiên cứu tài liệu, học hỏi thêm
đồng nghiệp, bản thân tự rút ra một vài biện pháp nhỏ nhằm nâng cao năng
lực nhận biết và kỹ năng thực hành phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3. Qua
việc áp dụng những biện pháp trên, tôi nhận thấy kỹ năng nhận biết về phép
tu từ so sánh của học sinh đã được nâng lên một cách đáng kể. Các em không
những nhận biết thành thạo phép tu từ so sánh mà còn sử dụng phép so sánh
một cách có hiệu quả. Tôi thiết nghĩ, các giải pháp này tuy chỉ là một vài giải
pháp nhỏ. Song trong quá trình dạy học nếu mỗi chúng ta thực hiện tốt chắc
chắn phần nào sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc dạy học phép tu từ so sánh
nói riêng và khi dạy các môn học khác nói chung.
Biện pháp “ Nâng cao năng lực nhận biết và kỹ năng thực hành phép
tu từ so sánh cho học sinh lớp 3” được thực hiện trong phạm vi nhỏ hẹp với
thời gian thực thi ngắn ngủi và điều kiện có hạn. Bởi vậy sẽ không tránh khỏi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status