TỔ CHỨC dạy học PHÉP TU từ SO SÁNH CHO học SINH lớp 3 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG lực GIAO TIẾP - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
NGÀY SINH: 13/3/1994
LỚP: ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TIỂU HỌC K13A

TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÉP TU TỪ SO SÁNH
CHO HỌC SINH LỚP 3 THEO HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP

Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học

Hải Phòng, năm 2016
1


TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG
NGÀY SINH: 13/3/1994
LỚP: ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TIỂU HỌC K13A

TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÉP TU TỪ SO SÁNH
CHO HỌC SINH LỚP 3 THEO HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học


Sinh viên Nguyễn Thị Phương Dung là một sinh viên chăm chỉ, cần cù,
chịu khó, có khả năng tự nghiên cứu khoa học, biết cách tìm tòi tài liệu ở
nhiều nguồn khác nhau, nắm bắt nhanh các vấn đề khoa học và vận dụng vào
quá trình nghiên cứu hiệu quả.
Bên cạnh đó, em có khả năng hiểu các phương pháp dạy học, biết phân
tích, tổng hợp kiến thức cũng như vận dụng linh hoạt vào thực tiễn dạy học ở
Tiểu học. Bước đầu sinh viên đã khẳng định được tính khả thi của vấn đề
3


nghiên cứu, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học nói
chung và dạy học Luyện từ và câu ở lớp 3 nói riêng.
3. Nhận xét khác
Là người hướng dẫn, tôi đánh giá cao tinh thần học hỏi, say mê nghiên
cứu khoa học và sự linh hoạt nhạy bén của sinh viên Nguyễn Thị Phương
Dung khi vận dụng các phương pháp vào quá trình nghiên cứu phát triển năng
lực giao tiếp cho học sinh lớp 3.
Khóa luận đảm bảo tính mới về nội dung và có ý nghĩa thực tiễn cao,
có thể là một tài liệu tham khảo dành cho giáo viên Tiểu học và sinh viên
chuyên ngành Giáo dục Tiểu học. Kính trình hội đồng xem xét!
Hải Phòng, ngày 22 tháng 5 năm 2016
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Th.s Nguyễn Thị Dung

4


LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện thành công đề tài này, em đã nhận được rất nhiều sự quan
tâm, giúp đỡ từ các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè.

Giáo viên
Sách giáo khoa
Sách giáo khoa Tiếng Việt 3
Nhà xuất bản

7


LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

Trong hệ thống giáo dục, bậc Tiểu học có một vị trí rất quan trọng, vì nó là bậc
học nền móng cho các bậc học tiếp theo. Giáo dục Tiểu học là cơ sở ban đầu góp
phần đào tạo ra lớp người mới phát triển một cách toàn diện để có thể gánh trên vai
sứ mệnh lịch sử của ngành giáo dục. Ở Việt Nam, những năm gần đây giáo dục Tiểu
học được quan tâm đặc biệt. Những năm qua đã có biết bao công trình nghiên cứu,
bao sáng kiến cải cách nội dung, đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với sự
phát triển của xã hội.
Giáo dục phổ thông nước ta nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng đang thực
hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực
của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ học
sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Để thực hiện được điều đó, nhất định phải
thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một
chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành
năng lực và phẩm chất cho học sinh (HS). Chương trình Ttiểu học mới đòi hỏi người
thầy ở khắp mọi miền Tổ quốc phải nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, tích cực
đổi mới phương pháp dạy học để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra.
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học có chức năng “kép” (vừa là
môn khoa học, vừa là môn công cụ) và là môn học chiếm nhiều thời lượng nhất. Môn
Tiếng Việt cung cấp một khối lượng kiến thức cơ bản cho mỗi HS trước khi bước vào

giao tiếp trong nhận thức của HS giúp HS thêm yêu, thêm quý Tiếng Việt hướng tới
gìn giữ sự trong sáng giàu đẹp của Tiếng Việt. Đó cũng chính là nỗi băn khoăn của
sinh viên ngành Ssư phạm Tiểu học chúng tôi nói riêng và nhiều GV Tiểu học trên
cả nước nói chung.
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Tổ chức dạy học phép tu từ so sánh cho học sinh lớp 3 theo hướng phát triển năng
lực giao tiếp”.
2. Lịch sử vấn đề

Tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực được bàn đến nhiều từ những
năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Tuy nhiên
việc xây dựng chương trình giáo dục theo hướng phát triển năng lực ở nước ta mới
được thực hiện trong những năm gần đây. Vì vậy việc dạy học theo hướng phát triển
này đã được sự quan tâm sâu sắc của nhà trường và xã hội. Để tạo cơ sở vũng chắc
cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi xin điểm qua các công trình nghiên cứu, sách,
tài liệu đề cập tới so sánh và phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực:
1. Trong tác phẩm “Phong cách học Tiếng Việt” tác giả Nguyễn Thái Hòa đưa ra khái

niệm về so sánh, ông nêu lên sự khác biệt giữa so sánh tu từ và so sánh so sánh
9


logic, hình thức so sánh gồm 4 yếu tố: cái so sánh, cơ sở so sánh, từ so sánh và cái
được so sánh. Ngoài ra tác giả còn bình về những hình ảnh so sánh đẹp trong văn
2.

thơ của Nguyễn Du, Hồ Chí Minh, Phạm Tuân hay Trần Đăng Khoa ...
Trong tác phẩm “99 phương tiện và biện pháp tu từ” của Đinh Trọng Lạc ông cũng
đưa ra so sánh tu từ là gì, phân biệt giữa so sánh luận lí và so sánh tu từ. Đồng thời
tác giả nêu lên chức năng của so sánh tu từ gồm chức năng nhận thức và chức năng

10


tu từ so sánh đồng thời đưa ra các biện pháp nhằm tổ chức tốt các hoạt động dạy
học so sánh cho HS lớp 3.
8. Trong kỉ yếu hội thảo khoa học quốc gia với “Một số kinh nghiệm trong nước và

quốc tế về dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học”
của PGS.TS Phạm Đức Quang đã đưa ra một số biện pháp dạy học theo năng lực
như: Cải tiến phương pháp dạy họcPPDH truyền thống, kết hợp đa dạng các
phương pháp dạy họcPPDH; Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề; Tổ chức có hiệu
quả dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học theo sự án; vận dụng dạy học theo
tình huống…
9. Theo TS Lê Thị Thu Hương và Trần Ngọc Bích với bài “Đào tạo theo hướng tiếp

cận năng lực – xu thế phát triển tất yếu của giáo dục Đại học Việt Nam” trong kỉ
yếu hội thảo khoa học quốc gia cũng khẳng định rằng một trong những định hướng
quan trọng của đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục là đào tạo theo hướng mở,
tiếp cận năng lực của người học. Ngoài ra bài viết còn đưa ra tổng quan giáo dục
dựa trên năng lực ở một số nước như Mỹ, Anh, Úc.
10. Trong bài viết “Từ khái niệm năng lực giao tiếp đến vấn đề dạy học trong nhà

trường phổ thông hiện nay” (Tạp chí Ngôn ngữ , số 4/2006), Vũ Thị Thanh Hương
đã đề cập và phân tích khá sâu khái niệm năng lực giao tiếp, đã dẫn ra những ý kiến
khác nhau của các học giả (Chomsky, Cambell & Wales, Hymes, Bachman…) xoay
quanh khái niệm “năng lực giao tiếp”. Tác giả bài viết so sánh, đối chiếu nội dung
kiến thức Tiếng Việt được trình bày trong các chương trình Tiếng Việt hiện hành
(của Bộ Giáo dục và Đào tạo) với các nội dung của mô hình lý thuyết về năng lực
giao tiếp. Tác giả nhận xét: “có thể nói trong tất cả các tài liệu về chương trình mà
chúng tôi được tiếp cận cho đến bây giờ, quan điểm giao tiếp là sợi chỉ đỏ xuyên

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính hiệu quả và tính khả thi của đề tài.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng ngiên cứu trong đề tài là tổ chức dạy học phép tu từ so sánh cho HS
lớp 3 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp.
Phạm vi nghiên cứu: Bàn về vấn đề tổ chức dạy học so sánh cho HS lớp 3 đã
có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nhà sư phạm bàn về vấn đề này. Trong khuôn khổ
thời gian và năng lực bản thân có hạn em chỉ tập trung nghiên cứu cách thức tổ
chức dạy học phép tu từ so sánh cho HS lớp 3 theo hướng phát triển năng lực giao
tiếp.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nhiệm vụ nghiên cứu trên, đề tài sử dụng một số
phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
12


- Phương pháp điều tra, khảo sát.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
7. Đóng góp của đề tài
- Về lý luận:
Góp phần làm sáng tỏ nội dung: “Tổ chức dạy học phép tu từ so sánh cho HS
lớp 3 theo hướng phát triển năng lực giao tiếp”.
- Về thực tiễn:
+ Khảo sát thực trạng dạy học ở các trường Tiểu học và định hướng hoạt động
dạy học này theo hướng phát triển năng lực giao tiếp.
+ Xây dựng một số biện pháp tổ chức dạy học phép tu từ so sánh theo hướng
phát triển năng lực giao tiếp cho HS lớp 3.
+ Vận dụng các biện pháp trên vào thực tiễn dạy học phép tu từ so sánh cho
HS lớp 3.

nghe” [19; tr.123].
Tác giả Nguyễn Thái Hòa trong quyển “Phong cách học Tiếng Việt” viết cùng
với Đinh Trọng Lạc cho rằng: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật
này đối chiếu với sự vật khác miễn là hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để
gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong cảm nhận của người đọc,
người nghe” [11; tr.189].
Trong quyển “Phong cách học và đặc điểm tu từ Tiếng Việt” GS. Cù Đình Tú thể
hiện quan niệm về biện pháp tu từ rõ nhất, ông viết: “So sánh tu từ là cách công khai đối
chiếu hai hay nhiều đối tượng có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm
diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng” [26; tr.274].
Tác giả Lê Anh Hiền về biện pháp tu từ so sánh được viết trong cuốn “Phong
cách học Tiếng Việt” như sau: “So sánh (hình ảnh) là sự đối chiếu hai đối tượng có
chung một dấu hiệu nào đấy nhằm biểu hiện một cách hình tượng đặc điểm của một
trong hai đối tượng đó” [9; tr100].

14


Các tác giả đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về so sánh nhưng hầu hết đều có
một nhận định chung so sánh là đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có nét tương đồng
nào đó. Để phù hợp khả năng tiếp nhận của học sinh lớp 3 chúng tôi đi theo khái niệm
về so sánh của tác giả Nguyễn Thái Hòa trong “Phong cách học Tiếng Việt”:
“So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu sự vật
khác miễn là giữa các sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ
thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức người đọc, người nghe”.
Ví dụ: “Từ những cành sấu non bật ra những chùm hoa trắng muốt, nhỏ như
những chiếc chuông tí hon. Hoa sấu thơm nhẹ. Vị hoa chua chua thấm vào đầu lưỡi,
tưởng như vị nắng non của mùa hè mới đến vừa đọng lại.”
(Băng Sơn – “Mùa hoa sấu”)
Qua ngòi bút tinh tế của tác giả, hình ảnh những chùm hoa sấu hiện lên trong

Tươi

Từ so sánh

Đối tượng để
so sánh
(4)
Hoa

(3)
như

-

Trong đó:
Yếu tố 1: yếu tố được hoặc bị so sánh tùy theo việc so sánh là tích cực hay tiêu cực.
Yếu tố 2: yếu tố chỉ tính chất của sự vật hay trạng thái của hành động có vai trò nêu

-

rõ phương diện, đặc điểm so sánh.
Yếu tố 3: Yếu tố từ so sánh thể hiện quan hệ so sánh
Yếu tố 4: yếu tố được đưa ra làm chuẩn để so sánh.
Ngoài ra trong một số trường hợp câu văn so sánh ở dạng không đầy đủ có thể
vắng các yếu tố như cơ sở so sánh hoặc từ so sánh. Đôi khi chúng ta có thể nhận ra
các đối tượng so sánh một cách dễ dàng nhờ các dấu hiệu nhận biết riêng. Các đối
tượng này có lúc là những sự vật, sự việc, có khi là những tính chất hay tâm trạng của
con người… Nó đa dạng và phong phú như chính sự phong phú và đa dạng của ngôn
ngữ. Cho nên, các hiện tượng xuất hiện trong so sánh cũng diễn ra không theo một
dạng thức nhất định nào. Chúng ta có thể phân chia thành các dạng thức sau:

Câu ca dao trên sử dụng hình ảnh so sánh “Đình bao nhiêu ngói thương mình
bấy nhiêu”. Đó như một lời tâm sự, thổ lộ tình cảm của một người với người thương
của mình. Tình cảm ấy là một thứ rất trừu tượng nhưng đã được ước lượng như
những ngói đình là một thứ rất cụ thể. Bao nhiêu ngói đỏ xếp lớp lớp tạo thành mái
đình là bấy nhiêu tình cảm thương mến trong lòng của nhân vật trữ tình.
Dạng thức thứ ba: Dạng A là B. Dạng so sánh này cũng thường xuất hiện trong
so sánh tu từ nhưng với tần số thấp hơn dạng “A như B”. Nhưng đối với dạng thức
“A là B” thì có tính chất khẳng định cao hơn dạng “A như B”, giữa A và B có xu
hướng đồng nhất hóa.
Ví dụ:

Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con chèo hái mỗi ngày
(Đỗ Trung Quân – “Quê hương”)

Dạng thức thứ tư: A (ẩn từ so sánh) B. Đối với dạng so sánh này từ so sánh bị
ẩn đi không xuất hiện trong câu, từng cặp đối ứng với nhau và được ngăn cách bởi
dấu phẩy (,) hay dấu gạch ngang ( - ).
Ví dụ: Tấc đất, tấc vàng.
17


1.1.3 Chức năng của so sánh
1.1.3.1 Chức năng nhận thức

So sánh là dựa trên những nét nghĩa tương đồng giữa các đối tượng cho nên
phép tu từ so sánh là sự phát hiện, đối chiếu những nét tương đồng ấy. Muốn được
như thế thì người sử dụng phải có sự nhạy bén trong các giác quan, sự tinh tế trong
tâm hồn. Từ đó phát hiện ra những điều mà người khác chưa để ý đến. Vì vậy giá trị
của phép tu từ so sánh đầu tiên là mang chức năng nhận thức giúp cho chúng ta hiểu


Với chức năng biểu cảm, so sánh là “cách nói” dễ đi vào lòng người nhất, làm
cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu hơn. So sánh tu từ chính là một phương
thức tạo hình, gợi cảm, là đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của
trí tưởng tượng vô cùng phong phú.
1.2 Tìm hiểu về năng lực và năng lực giao tiếp
1.2.1 Khái niệm về năng lực
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng. 1998) có giải
thích: Năng lực là:
“Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt
động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành
một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định
hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm
2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức
kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng
hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực
thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến
thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực
hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người
lao động, mọi công dân đều cần phải có, đó là các năng lực chung, cốt lõi”. Định
hướng chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) sau năm 2015 đã xác định một số
những năng lực cốt lõi mà HS Việt Nam cần phải có như:
– Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:
+ Năng lực tự học;
+ Năng lực giải quyết vấn đề;
+ Năng lực sáng tạo;
+ Năng lực quản lí bản thân.
– Năng lực xã hội, bao gồm:
+ Năng lực giao tiếp;

thực hóa những chương trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định
hướng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho
phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp ở người học trước khi giao tiếp
và trong quá trình mô phỏng các tình huống giống và gần giống như giao tiếp thực.
Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp
20


Có thể định nghĩa năng lực giao tiếp như sau: “Năng lực giao tiếp là khả năng
giao tiếp có liên quan đến những người khác với độ chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, chặt
chẽ, chuyên môn, hiệu quả phù hợp. Đó là một thước đo để xác định mức độ các mục
tiêu nào có sự tương tác đang đạt được”. Tuy nhiên năng lực giao tiếp còn tùy thuộc
vào tình huống hay ngữ cảnh mà trong đó sự tương tác diễn ra. Giao tiếp được coi là
thành công đối với một nhóm trong một tình huống nào đó nhưng nó có thể không
được coi là thành công đối với nhóm khác trong một tình huống khác.
Giao tiếp là sự chia sẻ ý nghĩa, tình cảm, thông tin với một hoặc nhiều người.
Nhưng giao tiếp chỉ đơn thuần là nói chuyện với ai đó thì có thực sự mang lại kết
quả như ta mong đợi chưa? Không chỉ đơn giản là thế, giao tiếp còn bao hàm rất
nhiều vấn đề khác như: Bạn nói như thế nào? Bạn hiểu đối tượng giao tiếp với mình
như thế nào? Làm thế nào để hai bên có thể hiểu rõ về các thông tin cùng trao đổi?
Bạn làm thế nào để lần giao tiếp đó đạt được hiệu quả như mong đợi…? Vì vậy, kỹ
năng giao tiếp liên quan tới nhiều hoạt động từ kỹ năng viết đến kỹ năng nói, kết
hợp với tư thế, cử chỉ , động tác, để diễn tả quan điểm và mục đích của vấn đề muốn
đề cập.
Phát triển năng lực giao tiếp cho HS Tiểu học là quá trình tổ chức các hoạt
động giáo dục nhằm giúp người học hình thành và rèn luyện các thao tác, hành
động để trao đổi, tiếp nhận, xử lý thông tin bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong
các mối quan hệ của HS ở gia đình, nhà trường, xã hội...
Thông qua giao tiếp, con người được tiếp nhận thông tin ...để biến nó thành
tri thức, kỹ năng sống của mỗi người. Giáo dục nhằm phát triển năng lực giao tiếp

năng lực:
Số
TT
1
2

Tiêu chí
so sánh
Vai trò của
trường học
Vai trò của
người học

Dạy học trang bị kiến thức
Trường học là một sự
chuẩn bị cho cuộc sống
Người học là đối tượng
tiếp thu thụ động.

3

Vai trò
của GV

GV là nguồn thông tin và
là chuyên gia.

4

Quan điểm

Cuốn chiếu theo sách giáo
khoa, nhồi nhét kiến thức cho
HS theo cách mà GV hiểu,
chứ không theo tư duy người
học. Chủ yếu sử dụng phương
pháp dạy học truyền thống.

6

Lĩnh vực
môn học

Ngôn ngữ, ngữ pháp, tiếng
mẹ đẻ, toán học, các khoa
học, các nghiên cứu lịch sử xã hội, ngoại ngữ.

7

Sự thích ứng

8

Các phương
thức đánh giá

9

Các tiêu chí
thực hành


quan đến nội dung, cách tiếp ưu thế, nhu cầu học tập,
cận, thời gian biểu và tiến độ. phong cách học, và hoàn
cảnh cá nhân của HS.
Dựa vào trường học: các
Dựa vào trường học: các
cách tiếp cận chuẩn được lựa cách tiếp cận được xác
chọn bởi GV hoặc nhà trường định bởi GV, căn cứ đầu
để đo lường kiến thức của các vào của HS.
lĩnh vực môn học.
Được xác định bởi GV
Được xác định bởi GV
và các nhà quản lí: kiểm tra và HS theo nhu cầu, mục
vấn đáp và điểm thi, bài tập, đích, sự quan tâm, sức khỏe,
sự tham dự lớp học, sự chú ý, và hoàn cảnh cá nhân.
thái độ.
Chủ yếu là đánh giá định
Đánh giá định tính bắt
lượng, theo thang điểm 10.
đầu từ kiến thức hiện tại của
một HS và đo sự tiến bộ về
sau tính từ thời điểm đó.
Điểm thi cuối cùng và các
Sự đánh giá vẫn tiếp tục;
quyết định vượt qua - thất bại ở các năng lực được đánh dấu
cuối học kì hay năm học.
“hoàn thành” ngay khi HS
đáp ứng đủ các tiêu chí.

23


văn, tự do sáng tạo, có hoài bão và lí tưởng phục vụ Tổ quốc, cộng đồng; đồng thời
phải phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm chủ bản
thân, làm chủ đất nước và làm chủ xã hội; có hiểu biết và kĩ năng cơ bản để sống
tốt và làm việc hiệu quả… như Bác Hồ từng mong muốn: "một nền giáo dục sẽ đào
tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo
dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em".
Có thể khái quát việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát
triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status