xây dựng tư liệu dạy học từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa theo hướng phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 5 - Pdf 24

1
ÂẢI HC HÚ
TRỈÅÌNG ÂẢI HC SỈ PHẢM
KHOA GIẠO DỦC TIÃØU HC

TRÁƯN THË PHỈÅNG OANH

XÂY DỰNG TƯ LIỆU DẠY HỌC
TỪ ĐỒNG NGHĨA, TỪ TRÁI NGHĨA, TỪ NHIỀU NGHĨA
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ging viãn hỉåïng dáùn:
Th.S. Tráưn Thë Qunh Nga
Hú, nàm 2014
2
MỤC LỤC
3
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Chương trình Tiếng Việt tiểu học 2000 được xây dựng theo quan điểm
giao tiếp, tích hợp và tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Mục tiêu hàng
đầu của dạy học Tiếng Việt được xác định là “rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt để học
tập và giao tiếp trong môi trường phù hợp lứa tuổi”. Dạy học tiếng theo quan điểm
giao tiếp không những hướng đến mục tiêu dạy để giao tiếp mà còn chú trọng việc
xây dựng nội dung, hệ thống phương pháp, phương tiện hỗ trợ để đảm bảo dạy
bằng giao tiếp. Những định hướng về đổi mới giáo dục căn bản, toàn diện sau 2015
cũng nhấn mạnh việc phát triển một cách hiệu quả ở học sinh các năng lực học tập,
trong đó có năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp. Từ định hướng “kĩ năng” sang
những phác thảo mới mang tên “năng lực” là một sự vận động, “chuyển hóa về
chất” các thao tác lời nói và thao tác trí tuệ. Xây dựng, chuẩn bị một tư liệu hỗ trợ

cung cấp một hệ thống các tri thức lí luận khái quát về lớp từ vựng có quan hệ về
ngữ nghĩa mà còn khẳng định vai trò của các lớp từ này trong hoạt động giao tiếp.
Giải thích các từ gần âm, gần nghĩa dễ nhầm lẫn mang đến một tập hợp từ “gần
âm, gần nghĩa” và bằng việc “cung cấp nghĩa trong tương quan với các từ trong
từng nhóm, đủ để giúp cho sự phân biệt giữa các từ trong nhóm”, tác giả đã làm
giàu thêm vốn từ cho người đọc, đồng thời phát triển kĩ năng so sánh, phân biệt
nghĩa và năng lực vận dụng từ trong những ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.
Vấn đề dạy học từ, dạy học từ vựng ở nhà trường phổ thông cũng được đề cập
đến trong khá nhiều các công trình về phương pháp dạy học. Tiêu biểu là Phương
pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II của Lê Phương Nga; Từ vựng tiếng Việt ở tiểu
học của Lê Thị Thanh Nhàn; Dạy học Từ ngữ ở tiểu học của Phan Thiều – Lê Hữu
Tỉnh. Mặc dù được viết trên nền của ngữ liệu dạy học cũ song cho đến nay, công
trình của Phan Thiều và Lê Hữu Tỉnh vẫn còn nguyên giá trị. Từ vựng tiếng Việt ở
tiểu học là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về từ vựng, trong đó tác giả đã
giành rất nhiều trang viết cho hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm trong
ngôn ngữ. Đặc biệt, từ cuốn sách này, mối quan hệ giữa lí luận ngôn ngữ và thực
tiễn dạy học các đơn vị từ vựng được thể hiện một cách rõ nét. Những mô tả về nội
5
dung dạy học các lớp từ trên cùng những chỉ dẫn về cách thức, phương pháp tổ
chức bài học thực sự có ý nghĩa với quá trình triển khai xây dựng tư liệu dạy học
mà đề tài hướng tới.
Về xây dựng tư liệu dạy học và các vấn đề lí luận liên quan đến định hướng
dạy học giao tiếp, có thể kể đến các bài viết, các đề tài nghiên cứu sau:
 Xây dựng tư liệu dạy học về từ loại nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt
ở tiểu học với sự hỗ trợ của phần mềm Powerpoint và Violet (đề tài khóa luận tốt
nghiệp) của Hoàng Thị Huê.
 Xây dựng hệ thống tư liệu hỗ trợ giải nghĩa từ trong dạy học Luyện từ và
câu lớp 4, 5 bằng phần mềm PowerPoint và Violet (đề tài khóa luận tốt nghiệp) của
Nguyễn Thị Yến.
 Một số vấn đề về dạy học từ và câu ở tiểu học theo quan điểm giao tiếp (bài

thực trạng dạy học từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa.
- Phương pháp thiết kế tư liệu dạy học: giúp hình thành nguồn tư liệu dạy
học về các lớp từ vựng tiếng Việt.
6. CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của đề tài
được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng tư liệu dạy học từ
đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa theo hướng phát triển năng lực giao tiếp
Chương 2: Xây dựng tư liệu dạy học từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều
nghĩa nhằm phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 5
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
7
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG TƯ LIỆU
DẠY HỌC TỪ ĐỒNG NGHĨA, TỪ TRÁI NGHĨA, TỪ NHIỀU NGHĨA
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa tiếng Việt
1.1.1.1. Khái niệm và phân loại từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa
trong Tiếng Việt
1.1.1.1.1. Từ đồng nghĩa
Cho đến nay, trong các công trình ngôn ngữ học ở nước ngoài và các tài liệu
Việt ngữ học có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ đồng nghĩa. Mỗi định nghĩa
nhìn nhận vấn đề từ đồng nghĩa dưới những góc độ riêng.
Đỗ Hữu Châu trong cuốn Giáo trình Việt ngữ (tập 2) lần đầu tiên đưa ra khái
niệm chung về từ đồng nghĩa: “Trong vốn từ hội của bất cứ một ngôn ngữ nào cũng
thường có những từ mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng từ nghĩa
(tức là nghĩa của từ) là giống nhau; do đó, trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể
có thể thay thế cho nhau được. Những từ này là những từ đồng nghĩa” [2; 63]. Với
cách định nghĩa này, tác giả đã nêu ra đặc điểm của những từ đồng nghĩa: hình thức

thể nói chính những khác biệt về sắc thái nói trên là lí do tồn tại của lớp từ này.
Cũng như vấn đề định nghĩa từ đồng nghĩa, cách phân loại về từ đồng nghĩa có
những khác biệt nhất định. Theo mô tả của Nguyễn Đức Tồn, từ đồng nghĩa có ba
nhóm chính:
- Các từ đồng nghĩa ý niệm: là các từ đồng nghĩa trung tính về phong cách, khác biệt
nhau về sắc thái của ý nghĩa cơ bản, chung cho mỗi từ.
Ví dụ: đừng – chớ có nghĩa chung là biểu thị ý “khuyên ngăn không nên làm
điều gì”. Tuy nhiên, hai từ này có sắc thái ý nghĩa khác nhau ở chỗ:
+ Đừng biểu thị ý khuyên ngăn nói chung. Như: đừng làm ồn, đừng khóc nữa.
+ Chớ biểu thị ý khuyên ngăn không nên làm điều gì, thường cốt để tránh sự
không hay nào đó, biểu thị thái độ dứt khoát hơn so với đừng. Như: Chớ ăn quả
xanh, chớ uống nước lã. Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo (Tục ngữ).
- Các từ đồng nghĩa phong cách: là những từ đồng nhất về ý nghĩa của chúng và khác
nhau về màu sắc phong cách.
9
Có thể xác định một từ là từ đồng nghĩa phong cách khi đối chiếu nó với từ
trung tính về phong cách tương ứng. Xem xét các cặp từ đồng nghĩa phong cách sau
để thấy rõ đặc trưng của loại từ đồng nghĩa phong cách. Ví dụ:
+ Chân - Cẳng (khẩu ngữ)
+ Máy bay – Phi cơ (từ cũ)
+ Hói – Sói (từ địa phương)
- Các từ đồng nghĩa ý niệm - phong cách: là những từ và các đơn vị tương đương của
chúng biểu thị cùng một khái niệm hoặc cùng một hiện tượng của hiện thực khách
quan và khác nhau không chỉ về màu sắc phong cách mà còn khác nhau về cả sắc
thái của ý nghĩa ở mỗi từ.
Chẳng hạn có các từ đồng nghĩa ý niệm – phong cách như: trinh sát, do thám,
thám thính.
+ Trinh sát: là từ thường dùng trong quân sự, có nghĩa là “dò xét, thu thập tình
hình của đối phương để phục vụ tác chiến” như máy bay trinh sát, lính trinh sát
+ Do thám và thám thính tuy cùng có nghĩa “dò xét, nghe ngóng để thu thập

Chết: thái độ bình thường
Mất: thái độ thân mật
Toi mạng: thái độ khinh thường
Từ trần: thái độ kính trọng
+ Về phương pháp hay phương tiện khác nhau
Ví dụ: xóa, gạch, tẩy
Xóa: làm cho mất đi vết tích bằng giẻ lau hoặc bằng bút.
Gạch: xóa đi bằng một nét thẳng (bút, phấn )
Tẩy: xóa bằng cái tẩy
1.1.1.1.2. Từ trái nghĩa
Tác giả Giản yếu về từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt đã đưa ra nhận định “Đối
lập với hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa là hiện tượng giữa các từ (hay ngữ cố
định) có nghĩa trái ngược nhau”. Cách định nghĩa này chủ yếu dựa vào nghĩa của từ
hoặc ngữ cố định để xác định từ trái nghĩa.
Theo nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến
thì lại có định nghĩa về từ trái nghĩa trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
như sau: “Từ trái nghĩa là những từ có ý nghĩa đối lập nhau trong mối quan hệ
tương liên. Chúng khác nhau về ngữ âm và phản ánh những khái niệm tương phản
về logic.”
Dễ thấy rằng nếu cách quan niệm về từ đồng nghĩa cũng như cách gọi tên bộ
phận từ này của giới nghiên cứu chưa thực sự thống nhất thì với lớp từ trái nghĩa,
các ý kiến dù được diễn đạt ít nhiều có khác nhau song hầu như không có sai biệt
lớn. Về cơ bản, từ trái nghĩa được hiểu như sau: “Từ trái nghĩa là những từ khác
nhau về ngữ âm, đối lập về ý nghĩa, biểu hiện khái niệm tương phản về logic nhưng
tương liên lẫn nhau”. Định nghĩa này đã nêu ra hai thuộc tính cơ bản chủ chốt của
từ trái nghĩa đó là: mang nghĩa đối lập và nằm trong thế quan hệ tương liên – dựa
vào sự thống nhất trong quan hệ ngữ nghĩa. Ví dụ: cao – thấp, dài – ngắn, lớn – bé,
11
nông – sâu, mỏng – dày Từ quan niệm đã dẫn, có thể suy ra rằng: Những từ có vẻ
đối lập nghịch nhau về nghĩa nhưng không nằm trong thế quan hệ tương liên thì nó

nhất về nội dung và hình thức. Trong một giai đoạn lịch sử nhất định các nghĩa
12
khác nhau của một từ đa nghĩa vẫn có liên hệ chặt chẽ với nhau và không thoát li
nghĩa chính” [2; 85-86].
Các nghĩa khác nhau trong từ nhiều nghĩa quan hệ chặt chẽ với nhau thành
một hệ thống ngữ nghĩa. Đây là một cơ sở khá quan trọng để phân biệt từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa (mặc dù sự phân biệt này không phải khi nào cũng rạch ròi). Giữa
các nghĩa khác nhau của một từ nhiều nghĩa có sự thống nhất nào đó, dựa vào một
nét nghĩa chung trong cấu trúc biểu niệm của nghĩa cơ bản. Mỗi nét nghĩa này sẽ
tập trung chung quanh nó một nhóm từ kết quả của hiện tượng chuyển nghĩa. Ví dụ:
(1) Răng: răng lược, răng cào,…; (2) Chân: chân trời, chân ghế, chân kiềng,…
Trong từ vựng có những từ 1 nghĩa như: bươn, điềm tĩnh,… Tuy nhiên phổ
biến hơn là từ nhiều nghĩa. Các từ đơn thường nhiều nghĩa hơn các từ phức. Từ điển
tiếng Việt nêu ra 13 nghĩa của từ ăn, 12 nghĩa của từ chạy, 18 nghĩa của từ đi…
Nhóm từ chỉ các bộ phận cơ thể (đầu, cổ, thân, chân, tay, gan, ruột,…) cũng có
nhiều nghĩa. Các từ: máy, làm, dắt,… là những từ nhiều nghĩa nhưng máy bay, máy
tiện, máy nổ là những từ 1 nghĩa.
Về phân loại, các nghĩa của từ nhiều nghĩa được phân chia dựa vào những tiêu
chí sau:
- Phân loại theo quan điểm lịch đại: phân loại dựa theo quá trình phát triển,
biến đổi nghĩa của từ gồm hai loại là nghĩa gốc và nghĩa phái sinh (nghĩa nhánh).
Nghĩa gốc là nghĩa có trước. Ví dụ: nghĩa gốc của “đầu” là “bộ phận trên hết hoặc
trước hết của thân thể người hoặc loài vật, chứa bộ não”; của “xuân” là “mùa xuân
đầu tiên của năm, từ tháng giêng đến tháng ba”. Nghĩa phái sinh là các nghĩa được
hình thành sau này và dựa trên nghĩa gốc.
Ví dụ: Từ “đầu” và từ “xuân” có các nghĩa phái sinh như sau:
(1) Nghĩa phái sinh của từ “đầu”
+ Chỉ bộ phận trên cùng của sự vật (đầu van, đầu súng )
+ Bộ phận chỉ vị trí trước hết của sự vật (đầu câu, đầu làng, đầu tàu, đầu đạn,
đầu lưỡi, câu đầu, hàng đầu )

Nghĩa tu từ là nghĩa tồn tại nhất thời trong một câu nói cụ thể nào đó, mang
tính sáng tạo, tính cá nhân, được hình thành trên cơ sở nghĩa chính, nghĩa phụ.
Ví dụ: Áo chàm - thấp thoáng, ngập ngừng
Em đi chợ hội hương rừng bay theo
14
Tiếng Sli lơ lửng đỉnh đèo
Bóng áo chàm để nắng chiều lâng lâng.
Áo chàm trong đoạn thơ trên chỉ người con gái dân tộc vùng núi Tây Bắc nước
ta, nó chỉ mang nghĩa tu từ này trong một số trường hợp nhất định mà thôi. Theo
thời gian, nghĩa tu từ có thể thực hiện một cuộc chuyển di để trở thành nghĩa phụ và
tất nhiên, điều đó phụ thuộc vào quyết định của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ. Một
nghĩa tu từ nào đó được nhiều người công nhận và sử dụng rộng rãi tức là nó đã
được xã hội hóa, dần dần sẽ trở thành nghĩa phụ và đi vào ngôn ngữ.
1.1.1.2. Đặc điểm của từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa
Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, các lớp từ trên rõ ràng có những đặc trưng
riêng về nghĩa, lần lượt thể hiện các mối quan hệ tương đồng hay tương phản, hoặc
bản thân từ hàm chứa nhiều nghĩa khác nhau, làm nên tính hấp dẫn của từ. Ở mỗi
nhóm, các lớp từ lại tạo nên những “dáng vóc” khác lạ.
Từ đồng nghĩa là những từ “khác nhau về âm thanh nhưng tương đồng với
nhau về nghĩa”. Song, từ góc nhìn của sự “gặp gỡ trong biểu đạt nghĩa đó”, cần chú
ý một số đặc điểm cơ bản sau:
- Những từ đồng nghĩa với nhau không nhất thiết phải tương đương nhau về số
lượng nghĩa. Ví dụ: Trong hai từ lui và lùi thì lui có số lượng nghĩa nhiều hơn từ lùi.
Lùi tức là di chuyển ngược trở lại về phía sau trong khi vẫn giữ nguyên tư thế như
đang tiến về phía trước. Lui có các nghĩa là di chuyển ngược lại trong không gian
theo bất cứ tư thế nào còn; chỉ hành động trừu tượng hoặc hành động diễn ra không
phải trong không gian. Người ta chỉ nói Tôi xin rút lui ý kiến chứ không nói Tôi xin
rút lùi ý kiến.
- Trong mỗi nhóm từ đồng nghĩa thường có một từ mang nghĩa chung, được
dùng phổ biến và trung hòa về mặt phong cách, có tần số xuất hiện cao, được lấy

những từ nào đó thì từ còn lại cũng có khả năng này. Ví dụ: canh nhạt – canh mặn;
cây chót vót – cây lè tè; đi nhanh – đi chậm; yêu nhau – ghét nhau
- Hai từ trong một cặp trái nghĩa sẽ có khả năng cùng gặp trong một lập luận
đối nghịch. Ví dụ: dốt đặc hơn hay chữ lỏng; no bụng đói con mắt; chết vinh còn
hơn sống nhục
16
- Các từ trái nghĩa mang tính quy luật của những liên tưởng đối lập, nhắc đến
vế thứ nhất, người ta nghĩ ngay đến vế thứ hai. Trường hợp có tranh chấp thế đối
lập cơ bản (chẳng hạn to – nhỏ đối lập mạnh hơn là to – bé)
Từ nhiều nghĩa lại được biết đến với những đặc tính sau:
- Đa số từ đa nghĩa là những từ đơn âm, vốn có từ lâu đời. Ví dụ như các từ:
ăn, mặt, nước, xuân
Trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã 76 lần sử dụng từ mặt. Trong đó, có lúc dùng:
Người quốc sắc, kẻ thiên tài
Tình như trong đã, mặt ngoài còn e.
Có khi nhà thơ lại viết:
Buồn trông nội cỏ dầu dầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Hay:
Làm cho rõ mặt phi thường
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
- Từ nhiều nghĩa làm tiết kiệm ngôn ngữ, làm gọn cấu trúc, cô đọng hệ thống
ngôn từ. Đồng thời tạo cho người dùng sự thuận tiện khi tiếp nhận, lĩnh hội nghĩa
của từ. Ví dụ: Từ “đọng” trong các câu sau có những biến điệu về nghĩa, “làm gọn
cấu trúc” nhưng lại gia tăng mức độ biểu cảm: Giọt sương đọng trên lá.; Tiếng
chim còn đọng lại trong bóng chiều.
- Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau và không bao giờ thoát li nghĩa chính. Ví dụ: hòn đá: chỉ chất rắn có sẵn trong
tự nhiên, thường thành tảng, hòn, rất cứng; nước đá: chỉ nước đông cứng lại thành
tảng giống như đá.

này đặt ra những yêu cầu cụ thể như sau:
- Chú ý đúng mức nhu cầu giao tiếp cho học sinh, mở ra không gian giao tiếp cần
thiết cho sự phát triển năng lực lời nói của người học; kích thích hứng thú giao tiếp
Tình huống giao tiếp giả định là khái niệm được nhắc đến khá nhiều trong việc
tạo môi trường, động lực giao tiếp cho học sinh. Đó là những tình huống giao tiếp
do các nhà sư phạm đặt ra, là công cụ để dạy hội thoại. Mỗi tình huống giao tiếp giả
định là một bài toán về giao tiếp mà học sinh cần tìm ra lời giải. Giáo viên cần nắm
18
nhu cầu nói, viết của học sinh để có thể xây dựng những tình huống giao tiếp giả
định phù hợp, tạo sự hứng thú, hấp dẫn các em tham gia. Bên cạnh đó, cần tạo
những kích thích giao tiếp bằng cách đặt người học vào những cảnh huống ngôn
ngữ với những nhiệm vụ cần giải quyết bằng con đường giao tiếp.
- Tạo hoàn cảnh giao tiếp tốt, tích cực và thân thiện.
Người tổ chức cần xây dựng những tình huống giao tiếp gần gũi với cuộc
sống, kinh nghiệm của học sinh; câu hỏi phải nằm trong vùng phát triển gần nhất,
không quá dễ khiến các em chủ quan nhưng cũng không quá khó gây cảm giác chán
nản, mệt mỏi.
Đồng thời với những phác thảo, định hướng về nội dung dạy học là sự vận
động để đổi mới của hệ thống phương pháp, trong đó phương pháp sử dụng tình
huống có vấn đề để dạy học Tiếng Việt luôn được quan tâm đúng mức. Một tình
huống có vấn đề được xây dựng trên ba yếu tố: nhiệm vụ nhận thức, nhu cầu nhận
thức, khả năng nhận thức của chủ thể. Mỗi tình huống có vấn đề có thể biểu hiện
dưới dạng một bài tập có vấn đề. Bài tập này phải tạo ra mâu thuẫn giữa những tri
thức học sinh đã biết với hiện tượng mới các em chưa biết, từ đó làm nảy sinh khát
khao tìm hiểu hiện tượng mới lạ đó. Ngoài ra, trong tổ chức dạy học tiếng, phương
pháp thảo luận nhóm cũng mang lại những hiệu quả nhất định, gia tăng các hoạt
động giao tiếp thực thụ, thiết lập những mối quan hệ tích cực giữa học sinh với học
sinh, giữa học sinh với giáo viên và với các tài liệu học tập Phương pháp này tạo
điều kiện để học sinh luyện tập kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác, khả năng thích
ứng với hoàn cảnh xung quanh, phát huy vai trò, trách nhiệm, tính tích cực. Tạo

thời sự, nhất là trong bối cảnh hiện nay (chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện
trong giáo dục, thay sách giáo khoa ). Năng lực ngôn ngữ của học sinh cần được
phát triển, trong đó cần lưu ý phát triển kiến thức, kĩ năng từ vựng, trong đó có tri
thức và kĩ năng sử dụng các lớp từ đồng nghĩa, trái nghĩa, nhiều nghĩa – những đơn
vị ngôn ngữ được sử dụng hiệu quả và rộng rãi hằng ngày trong đời sống.
Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa luôn là những lớp từ có khả năng biểu đạt nghĩa
sinh động, uyển chuyển và nhiều màu sắc. Trong các tác phẩm văn học, các văn bản
nhật dụng hay trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, các lớp từ này đóng vai trò là những
phương tiện ngôn ngữ đặc biệt, giúp chuyển tải những thông điệp thẩm mĩ, tư
20
tưởng, tình cảm đến với người đọc, người nghe một cách trọn vẹn. Tô Hoài đã
mượn lớp từ đồng nghĩa để phác thảo nên bức tranh “Quang cảnh làng mạc ngày
mùa”: “Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại. Nắng nhạt ngả màu vàng hoe.
Trong vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như
những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng. Từng chiếc lá mít vàng ối. Tàu đu đủ,
chiếc lá sắn héo lại mở năm cánh vàng tươi Những tàu lá chuối vàng ối xõa
xuống như những đuôi áo, vạt áo. Nắng vườn chuối đương có gió lẫn với lá vàng
như những vạt áo nắng, đuôi áo nắng, vẫy vẫy. Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn
trắng ”. Trong khi đó, dấu ấn đậm nét của thành ngữ tiếng Việt là nghệ thuật sử
dụng các cặp từ trái nghĩa: kẻ ở người đi, kẻ trước người sau, khôn ba năm dại một
giờ, khôn ăn cái dại ăn nước, mặt nặng mày nhẹ, mật ít ruồi nhiều, mềm nắn rắn
buông, một còn một mất Nếu từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa xếp thành các “lớp từ”
thì từ đa nghĩa lại một mình cho thấy sức mạnh biểu đạt nghĩa. Trong một “cơ thể”
bé nhỏ, những “cái được biểu đạt” mang sắc thái khác nhau đem lại cho lời nói sức
hấp dẫn rất lớn. Chẳng hạn như sự biến điệu nghĩa của từ “nhìn” trong câu “Nhờ
anh, tôi đã nhìn ra sự thật” so với câu “Ba bốn bà ké nhìn ra, nhớ những ngày vui
các đồng chí đóng quân tại nhà mình”.
Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa và từ nhiều nghĩa bản thân nó đã hàm chứa nguồn
năng lượng dồi dào cho việc sáng tạo ngôn bản. Dạy học từ đồng nghĩa, từ trái
nghĩa, từ nhiều nghĩa một mặt giúp học sinh phát triển vốn từ, làm giàu vốn từ dựa

từ nhiều nghĩa. Từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa và từ nhiều nghĩa – với những đặc tính
về sự đa dạng, linh hoạt, nhiều màu sắc - đã làm được việc “tạo nên ấn tượng mới
mẻ, thú vị” ở người học. Hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, nhiều nghĩa của ngôn
ngữ kích thích mạnh mẽ hứng thú tiếp nhận, tạo được sự hào hứng cho học sinh.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc thành công trong truyền thụ kiến thức có thể đạt
được một cách dễ dàng hơn. Các từ đồng nghĩa mang đến lợi ích về cách thức biểu
đạt nghĩa, tránh lỗi lặp trong dùng từ. Học sinh sẽ thấy được cái hay khi cùng một
sự vật hiện tượng, tính chất, trạng thái, hoạt động lại được biểu thị bởi rất nhiều từ
khác nhau. Trong khi đó, từ trái nghĩa lại tạo nên sự nổi bật về nghĩa của đối tượng
trong câu khiến học sinh thích thú khi đặt chúng cạnh nhau trong những trò chơi
ngôn từ. Hiện tượng nhiều nghĩa của từ lại giúp học sinh nhìn thấy vẻ đẹp “bên
trong” từ, so sánh để chọn lựa cách biểu đạt tinh tế và hiệu quả nhất. Khi học sinh
22
tiếp nhận dễ dàng và sử dụng tốt từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa thì
ngôn ngữ các em sẽ phong phú hơn, nhiều màu sắc hơn.
Từ việc ý thức được sự cần thiết và quan trọng của việc tiếp thu từ đồng nghĩa,
từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa, học sinh sẽ thấy được tầm quan trọng của việc học từ
nói chung. Từ đó, ngôn ngữ của các em sẽ phát triển hơn, biết sử dụng ngôn ngữ
sáng tạo hơn không chỉ trong học tập mà còn trong giao tiếp hằng ngày.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Nội dung dạy học từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa trong
chương trình Tiếng Việt 5
1.2.1.1. Nội dung dạy học lí thuyết
Nội dung dạy học lí thuyết về các lớp từ vựng: từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ
nhiều nghĩa chỉ xuất hiện ở lớp cuối cấp bậc Tiểu học với số lượng ít, chủ yếu là các
bài luyện tập thực hành. Chúng tôi đã thống kê và lập bảng mô tả các nội dung dạy
học lí thuyết về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa như sau:
Stt Tên bài Tuần Nội dung lí thuyết (ghi nhớ)
1 Từ đồng nghĩa 1
1. Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống

hiểu rõ ràng về từ trái nghĩa mà còn kích thích ở các em nhu cầu, hứng thú sáng tạo.
So với hai bài lí thuyết về các lớp từ vựng nêu trên, từ nhiều nghĩa được giới
thiệu khá nhẹ nhàng, súc tích. Mối liên hệ của các nghĩa trong từ đa nghĩa được
nhấn mạnh như một đặc trưng cơ bản của kiểu từ này. Đồng thời, quan niệm phân
loại các nghĩa của từ nhiều nghĩa cũng được nêu rõ: gồm “nghĩa gốc và một hay
một số nghĩa chuyển”.
Có thể nói, đối với học sinh lớp 5, việc hoàn bị các tri thức cơ bản về lớp từ
vựng có quan hệ về nghĩa và tính nhiều nghĩa của từ là vô cùng cần thiết. Theo
nguyên tắc tinh giản, chọn lọc, gắn với mục tiêu sử dụng trong hoạt động giao tiếp,
những nội dung trình bày trong ba tiết lí thuyết đảm bảo đáp ứng được việc bổ sung
kiến thức về các đơn vị ngôn ngữ cho học sinh, đồng thời giúp các em có được
những chỉ dẫn cần thiết để vận hành các lớp từ nhằm đạt hiệu quả giao tiếp tốt nhất.
1.2.1.2. Hệ thống bài tập
Mặc dù nội dung dạy học lí thuyết về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều
nghĩa được dạy ở lớp 5 nhưng các bài tập lại có mặt khá sớm. Ngay từ lớp 2, bài tập
về các lớp từ này đã bắt đầu xuất hiện. Tuy nhiên, các bài tập này vẫn còn đơn giản
và số lượng khá ít. Để có cái nhìn hệ thống hơn về hệ thống bài tập về từ đồng
nghĩa, trái nghĩa và nhiều nghĩa, chúng tôi đã khảo sát, phân loại hệ thống bài tập
thành từ lớp 2 đến lớp 5 như sau:
Stt Dạng bài tập Lớp Ví dụ minh họa
1 Thay thế từ,
cụm từ cùng lớp
2 Hãy thay các cụm từ khi nào trong các câu hỏi
dưới đây bằng các cụm từ khác (bao giờ, lúc nào,
24
từ vựng
tháng mấy, mấy giờ ):
a) Khi nào lớp bạn đi thăm viện bảo tàng?
b) Khi nào trường bạn nghỉ hè?
c) Bạn làm bài tập này khi nào?

a) Thể hiện lòng nhân hậu, tình cảm yêu thương
đồng loại.M: lòng thương người
b) Trái nghĩa với nhân hậu hoặc yêu thương.
M: độc ác
c) Thể hiện tinh thần đùm bọc, giúp đỡ đồng loại.
M: cưu mang
d) Trái nghĩa với đùm bọc hoặc giúp đỡ.
M: ức hiếp.
5
Tìm những từ đồng nghĩa với mỗi từ sau đây:
đẹp, to lớn, học tập.
M: đẹp - xinh
4
Vận dụng lớp từ
để đặt câu
5
Đặt hai câu để phân biệt một cặp từ trái nghĩa
vừa tìm được.
5
Chọn một trong hai từ dưới đây và đặt câu để
phân biệt các nghĩa của từ ấy:
a) Đi
- Nghĩa 1: tự di chuyển bằng bàn chân.
-Nghĩa 2: mang vào chân hoặc tay để che, giữ.
b) Đứng
- Nghĩa 1: ở tư thế thân thẳng, chân đặt trên nền.
- Nghĩa 2: ngừng chuyển động.
5 Xác định nghĩa 5 Trong những câu nào, các từ mắt, chân, đầu
25
của từ nhiều

công tác giảng dạy lớp 5 tại các trường Tiểu học Vỹ Dạ, số 3 Quảng Thành, số 1
Phú Bài, chúng tôi đã tiến hành phân tích và bước đầu đánh giá một số vấn đề cơ
bản của thực trạng dạy học, sử dụng tư liệu dạy học từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa,
từ nhiều nghĩa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status