BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ QUỲNH NGA
DẠY HỌC TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA
TRONG MÔN TIẾNG VIỆT THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
Chuyên ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Văn - Tiếng Việt
Mã số: 62.14.01.11
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2015
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lê Phương Nga
Phản biện 1: PGS.TS. Hoàng Thị Mai
Trường Đại học Hồng Đức
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thúy Hồng
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Phản biện 3: PGS.TS. Vũ Nho
Viện KHGD Việt Nam
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước họp tại
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Thư viện Đại học Quốc gia Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Phát triển năng lực người học (competency - based approach) là định hướng cơ bản,
then chốt trong DH nói chung, DH tiếng mẹ đẻ nói riêng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đề án
Đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo,
nghiệm có giá trị và ý nghĩa đối với việc xây dựng chương trình DH tiếng ở nhà trường phổ
thông sau năm 2015.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Xác lập điểm nhìn về từ ngữ ĐN từ góc độ mục tiêu hành dụng, trên cơ sở đó đề xuất
xây dựng hệ thống BT DH từ ngữ ĐN nhằm phát triển năng lực GT cho HS tiểu học.
1
- Từ việc nghiên cứu ứng dụng dạy học từ ngữ ĐN qua tổ hợp BT trên nền một chủ điểm
hoạt động tiếng Việt, gợi ý cho việc xây dựng chương trình, tổ chức DH các chủ đề tiếng Việt ở
nhà trường tiểu học.
3. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu mở rộng cấp độ nghiên cứu dạy học từ đồng nghĩa thành dạy học từ ngữ đồng nghĩa
(hay chính là dạy hiện tượng đồng nghĩa giới hạn ở chức năng định danh, tập trung vào đồng
nghĩa ngữ cảnh), từ đó xây dựng được hệ thống bài tập DH từ ngữ đồng nghĩa trong tiếp nhận
ngôn bản (hoạt động đọc hiểu) và tạo lập ngôn bản (hoạt động làm văn) theo mô hình tích hợp
trục chủ đề ngôn ngữ với trục chủ điểm hoạt động thì năng lực sử dụng từ ngữ đồng nghĩa nói
riêng, năng lực sử dụng tiếng Việt của HS sẽ được nâng cao.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận ngôn ngữ và lí luận DH từ ngữ ĐN.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn DH từ ngữ ĐN trong môn TV ở tiểu học theo định hướng
phát triển năng lực GT.
- Xây dựng hệ thống BT DH từ ngữ ĐN với tư cách là một biện pháp chủ đạo tác động
đến cả nội dung lẫn phương pháp, góp phần nâng cao chất lượng DH lớp từ vựng này trong
môn TV trên cả hai bình diện: tiếp nhận và tạo lập ngôn ngữ.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi của hệ thống BT và các định hướng tổ
chức thực hành BT đã đề xuất.
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu việc DH hiện tượng ĐN ở cấp độ từ ngữ, nghĩa là giới hạn ở chức năng
định danh, tập trung vào dạng đồng nghĩa ngữ cảnh.
- Xây dựng hệ thống BT gắn với các hoạt động luyện từ và câu (thực hành từ ngữ), đọc
hiểu, cảm thụ (tiếp nhận ngôn bản) và làm văn (tạo lập ngôn bản).
1.1.1. Giao tiếp và dạy học ngôn ngữ theo quan điểm giao tiếp
Giao tiếp (communication) là một khái niệm quan trọng trong nghiên cứu ngôn ngữ, đồng
thời là đối tượng của triết học, tâm lí, giáo dục học. Các nhà nghiên cứu trên thế giới lần lượt đề
xuất những định nghĩa khác nhau về GT. G.A. Miler đưa ra cách hiểu đơn giản về GT, xem đó
là việc “một tin nào đó được truyền từ điểm này sang điểm khác”. Trong khi đó, Saville Troike
nhìn nhận rõ sự tương tác giữa hành vi lời nói và những biểu đạt phi ngôn ngữ trong quá trình
chuyển tải thông điệp cuộc sống: “GT là quá trình chia sẻ ý nghĩa thông qua hành vi lời nói và
phi lời nói”. Các nhà ngôn ngữ học như R. Jakobson, Robinson, Hymes và J. Lyons cũng đã
nghiên cứu và đề xuất nhiều mô hình về GT.
Các nhà ngôn ngữ học ở Việt Nam cũng nêu khá nhiều định nghĩa về GT. Tác giả Đỗ Hữu
Châu, Đỗ Việt Hùng kiến giải: “GT là quá trình trao đổi thông tin (hiểu theo nghĩa rất rộng bao
gồm cả tri thức miêu tả, tình cảm, thái độ, ước muốn, hành động ) giữa ít nhất hai chủ thể GT
(kể cả trường hợp một người GT với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh và tình huống
nhất định, bằng một hệ thống tín hiệu nhất định”. Quan niệm GT được tác giả Bùi Minh Toán
nêu lên trong công trình nghiên cứu Từ trong hoạt động GT: “GT chính là sự tiếp xúc, giao lưu
giữa người và người trong xã hội, qua đó con người bộc lộ và truyền đạt cho nhau những nhận
thức, tư tưởng và cả những tình cảm, thái độ đối với nhau và đối với điều được diễn đạt”. Có
thể thấy, điểm gặp gỡ giữa các khái niệm GT nêu trên chính là kiến giải về một dạng hoạt động
trao đổi thông tin mà thông qua đó, con người tri nhận về thế giới, hiểu biết lẫn nhau và bộc lộ
chính mình.
DH ngôn ngữ theo quan điểm GT trở thành định hướng trung tâm trong nhà trường
phổ thông. Xuất phát từ tiền đề quan trọng về chức năng GT của ngôn ngữ và mối quan hệ của
nó với phát triển tư duy, rất nhiều nhà tâm lí học, giáo dục học như L.S. Vygotskij, David
Nunan, A.N. Leonchiep, M.R. Lvop, J. Richards, Rodgers đã phát triển thành các đường
hướng, quan điểm DH GT. Những thành tựu rực rỡ trong vận dụng lí thuyết hoạt động theo
trường phái Vygotskij ở Liên Xô cũng để lại dấu ấn đậm nét trong các công trình nghiên cứu về
DH tiếng. Bên cạnh đó, gắn DH tiếng với tình huống được xem là một bước phát triển trong
3
ứng dụng quan điểm GT. Tiêu biểu cho đường hướng này là những nghiên cứu của Richards,
Rodgers. Ngoài ra, trong chương trình DH tiếng ở nhiều quốc gia, GT được thể hiện với tư cách
người học. Nói đến thứ năng lực đặc biệt này không thể không nhắc đến những thành tựu
nghiên cứu của Noam Chomsky. Sự phân biệt một bên là hiểu biết ngầm ẩn về ngôn ngữ, một
bên là khả năng sử dụng thực tế ngôn ngữ trong đời sống thường ngày đã được ông đặt ra từ
những năm 1960 bằng mô tả về ngữ năng (competence) và ngữ thi (performance). Xuất phát từ
đề xuất của Chomsky, có thể thấy sự khu biệt và mối quan hệ mật thiết giữa những hiểu biết về
ngôn ngữ (theo hướng hiểu để sử dụng) và khả năng vận hành ngôn ngữ nhằm đạt hiệu quả GT.
Sau Chomsky, các công trình của Cambbell & Wales (1970), Hymes (1972), Canale & Swain
(1980), Bachman (1990), Celce-Murcia M. & Dornyei Z., Thurrell S. (1995) đã kế thừa có phê
phán để từng bước hình thành quan niệm rộng hơn về “năng lực GT”. Qua các thời kì, cách đặt
vấn đề và luận giải về năng lực GT cũng có những điểm khác biệt. Dựa vào quan điểm của tác
4
giả Nguyễn Xuân Khoa về thứ năng lực mang tính công cụ và nhiệm vụ phát triển lời nói, trong
DH từ ngữ ĐN cho HS tiểu học, chúng tôi tập trung vào hai thành tố năng lực cơ bản sau đây:
- Năng lực ngôn ngữ: khả năng hiểu, nắm bắt khái niệm, đặc trưng, tác dụng của các
phương tiện ĐN.
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ: bao gồm khả năng sắp xếp, tổ chức từ ngữ; khả năng sử
dụng từ ngữ đúng ngữ cảnh, đảm bảo chuẩn mực văn hóa, xã hội
1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HIỆN TƯỢNG ĐỒNG NGHĨA VÀ DẠY HỌC TỪ
NGỮ ĐỒNG NGHĨA TRONG MÔN TIẾNG VIỆT
1.2.1. Hiện tượng đồng nghĩa
Đồng nghĩa là một hiện tượng ngôn ngữ có sức lan tỏa rộng lớn, có vị trí đặc biệt trong
các công trình nghiên cứu lí luận ngôn ngữ. Đại từ điển bách khoa Xô Viết kiến giải về hiện
tượng ĐN như sau: “Hiện tượng ĐN, thuật ngữ tiếng Anh là Synomyny, có gốc từ tiếng Hi Lạp
là Synònymia có nghĩa là “cùng tên”, chỉ quan hệ giữa hai biểu thức đẳng nghĩa nhưng không
đồng nhất. Tính chất đẳng nghĩa ở đây được hiểu là tính tương ứng hoặc là cùng với một biểu
vật (denotat) (sự kiện, khách thể ) hoặc là cùng một biểu niệm (signifikat) (cái được biểu hiện
thuộc ngôn ngữ)”. Quan hệ ĐN cũng được hiểu “trước hết là loại quan hệ giữa các từ trong
trường nghĩa”.
Từ ngữ đồng nghĩa là một dạng thức, cấp độ biểu đạt sinh động của hiện tượng ĐN trong
ngôn ngữ. Tác giả Nguyễn Đức Tồn cho rằng: “Quan hệ ĐN có thể xuất hiện giữa các từ, giữa
nhận và tạo lập.
Xuất phát từ tư tưởng dạy tiếng theo quan điểm GT chính là một sự cụ thể hóa quan điểm
chuyển từ xây dựng chương trình tiếp cận nội dung sang xây dựng chương trình theo hướng
phát triển năng lực người học, luận án hướng đến việc đề xuất thiết kế BT DH từ ngữ ĐN theo
mô hình chủ đề ngôn ngữ trên nền một chủ điểm hoạt động Tiếng Việt. Xây dựng hệ thống BT
DH từ ngữ ĐN cũng được xem như một phương thức đa dạng hóa tư liệu DH, hiện thực hóa tư
tưởng, đường hướng DH GT vào các sản phẩm mang tính ứng dụng.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1:
Có thể thấy kết quả nghiên cứu trong các công trình, bài báo khoa học mà chúng tôi tiếp
cận được cho đến thời điểm này không chỉ dừng ở những định hướng mang tính lí thuyết mà đã
thâm nhập vào thực tiễn, từng bước giải quyết những vướng mắc, khó khăn trong DH GT trên
nhiều bình diện, cấp độ, gắn với nhiều đơn vị ngôn ngữ cụ thể. Đó chính là tiền đề quan trọng
để chúng tôi tổng hợp cơ sở lí luận và thực tiễn cho đề tài; xây dựng hệ thống BT DH từ ngữ
ĐN theo định hướng phát triển năng lực cho HS tiểu học.
6
Chương 2
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CỦA VIỆC DẠY HỌC TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
2.1. HIỆN TƯỢNG ĐỒNG NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT
2.1.1. Các cấp độ đồng nghĩa
Hiện tượng ĐN được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau và chính điều này chi phối việc
phân cấp cũng như nhận diện, hồi đáp về giá trị biểu đạt của các phương tiện ĐN trong hoạt
động lời nói.
Có thể xem xét hiện tượng ĐN ở một số cấp độ như sau:
(1) ĐN từ vựng: xảy ra giữa các đơn vị từ vựng (từ, cụm từ cố định)
(2) ĐN từ vựng - cú pháp: xảy ra khi các từ, cụm từ cố định (đơn vị từ vựng) và các tổ
hợp từ tự do, câu (đơn vị ngữ pháp) có sự tương đồng về nghĩa.
(3) ĐN cú pháp / văn bản: là hiện tượng các đơn vị ngữ pháp hay văn bản có sự tương
đồng về nghĩa (cùng biểu đạt một nội dung thông tin).
giá trị các đơn vị ĐN “đồng hiện” thường thấy, cần lưu tâm hơn đến thao tác so sánh, đối chiếu
để khẳng định hiệu năng của việc lựa chọn phương thức biểu đạt.
2.2. NĂNG LỰC SỬ DỤNG TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA
2.2.1. Mô hình năng lực sử dụng từ ngữ đồng nghĩa
Từ gợi ý về mô hình năng lực GT ở cấp độ năng lực chung và năng lực GT ở cấp độ năng
lực chuyên biệt đề xuất trong DH tiếng ở tiểu học đã trình bày ở chương tổng quan (gồm năng
lực ngôn ngữ và năng lực sử dụng ngôn ngữ), chúng tôi hình thành “cây năng lực” sử dụng từ
ngữ ĐN, trong đó các phân nhánh trái thuộc phạm vi năng lực ngôn ngữ, các phân nhánh phải
là thành tố cấu trúc năng lực sử dụng ngôn ngữ.
Phác thảo “cây năng lực” dựa trên cơ sở mô hình năng lực GT và định hướng phát triển
năng lực GT phù hợp đặc điểm tâm lí, tư duy của HS tiểu học. Các “nhánh” năng lực sử dụng từ
ngữ ĐN gồm: hiểu biết về từ ngữ ĐN (năng lực ngôn ngữ hay năng lực tố chất, sự “hiểu biết
ngầm ẩn” về ngôn ngữ) và khả năng sử dụng từ ngữ ĐN (năng lực sử dụng ngôn ngữ hay năng
lực hiện hữu, sự “sử dụng thực tế” đơn vị ngôn ngữ).
2.2.2. Đặc điểm tâm lí, tư duy của HS trong tiếp nhận và sử dụng từ ngữ ĐN
Lớp 5 là thời điểm lí tưởng cho sự hoàn thiện năng lực từ ngữ của HS tiểu học bằng việc
hướng các em tìm kiếm các phương tiện ĐN, trái nghĩa để biểu đạt một cách sống động suy
nghĩ, cảm xúc về vạn vật.
Đặc điểm tâm lí, tư duy của HS tiểu học luôn là yếu tố quan trọng chi phối việc xây dựng,
kiến thiết các nội dung DH. Nhưng quá trình phát triển ngữ năng của HS lại luôn được đặt trong
sự đối trọng giữa độ biến thiên, dao động mạnh mẽ của hứng thú, sự phát triển không đồng đều
của trí tuệ, ngôn ngữ tiếp nhận với nội dung, tài liệu dạy học “đóng khung”, cố định hóa.
2.2.3. Vai trò của bài tập trong phát triển năng lực sử dụng từ ngữ đồng nghĩa
Từ trước đến nay, BT được sử dụng như một phương tiện cơ bản trong DH tiếng Việt. Sự
ra đời của lí thuyết hoạt động lời nói với quan niệm về sự hình thành, phát triển ngôn ngữ như
là hình thành, phát triển một hoạt động cũng đã góp phần khẳng định vai trò quan trọng của hệ
thống BT dạy học tiếng. Bởi lẽ, muốn hình thành, phát triển hoạt động nói năng nhất thiết phải
thông qua một hệ thống BT và trên thực tế, bản thân hoạt động nói năng đã bao hàm tính chất
thực hành, thừa nhận BT như là một phương tiện dạy học cơ bản và cần thiết. Hệ thống BT sẽ
được thiết kế trên nền một chủ điểm TV, gắn với những vấn đề, phương diện khác nhau về tri
sử dụng và sự linh hoạt trong biểu đạt nghĩa, định danh, gọi tên sự vật Mặc dù vậy, tính lặp lại
của các dạng thức BT, sự đóng khung HS vào những tình huống DH khuôn mẫu, giáo khoa ít
nhiều hạn chế khả năng chủ động trong lĩnh hội và sáng tạo của các em.
- Trong những năm gần đây, nguyên tắc GT đã được chú trọng trong DH tiếng. Tuy vậy
chính điều này đã làm mất đi sự đối trọng, cân bằng tương đối trong nội dung DH.
Từ những nhận định trên về nội dung DH từ ĐN và những yêu cầu về năng lực GT, chúng
tôi cho rằng cần dạy cho HS về hiện tượng ĐN nhằm khai thác một cách hiệu quả hiệu năng của
các phương tiện ngôn ngữ có sự tương đồng về nghĩa. Điều này có thể thực hiện bằng việc mở
rộng phạm vi tiếp nhận đơn vị ĐN, bổ sung hệ thống BT mang tính ứng dụng, trong đó chú
trọng BT hình thành quy tắc sử dụng, BT cho thấy tính lợi ích trong GT.
2.4. THỰC TRẠNG DẠY HỌC TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA Ở TIỂU HỌC
2.4.1. Năng lực tổ chức dạy học từ ngữ đồng nghĩa của giáo viên
Để đánh giá thực trạng dạy học từ ĐN, cùng với việc quan sát, dự giờ, chúng tôi đã thiết
kế và sử dụng phiếu khảo sát tập trung vào ba vấn đề trọng tâm:
(1) Nhận thức của chuyên gia, GV về các vấn đề lí luận dạy học từ ngữ ĐN trong môn TV
theo định hướng phát triển năng lực GT cho HS (15 câu hỏi).
(2) Quan điểm của chuyên gia, GV về thực trạng dạy học từ ngữ ĐN, bao gồm việc “đánh
giá thực trạng” (15 câu hỏi) và “xử lí các tình huống DH” (10 câu hỏi).
9
(3) Ý kiến của chuyên gia, GV về các biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học từ
ngữ ĐN trong môn TV (6 câu hỏi trắc nghiệm và 1 câu hỏi mở).
Kết quả thu được khi khảo sát 48 giảng viên, chuyên viên, GV ở Thừa Thiên Huế và Đà
Nẵng xử lí trên phần mềm SPSS (xem phụ lục 2.3 trong luận án).
2.4.2. Năng lực tiếp nhận và sử dụng từ ngữ đồng nghĩa của học sinh
Trên cơ sở những sản phẩm thu được từ thực tiễn và qua khảo sát bằng phiếu BT trên 150
HS, chúng tôi thấy nổi bật một số vấn đề sau:
- HS khá tích cực và hứng thú với từ ngữ ĐN. Khi thực hiện nhiệm vụ học tập, các em tỏ
ra hào hứng khám phá những từ ngữ “khác biệt về âm thanh nhưng có khả năng biểu đạt cùng
một ý nghĩa”, xem nó như một “trò vui của ngôn từ”.
- Vốn từ của HS khá phong phú. Với yêu cầu “tìm từ ĐN”, khi lập bảng hỏi cho 60 HS
- Tích hợp giữa tri thức, kĩ năng tiếng Việt và văn học
- Tích hợp tạo lập và tiếp nhận ngôn bản
- Tích hợp nhiệm vụ phát triển năng lực GT, năng lực sử dụng từ ngữ ĐN thông qua hoạt
động thực hành tiếng Việt với yêu cầu phát triển phẩm chất người học.
3.1.3. Đảm bảo tính vừa sức, phát huy tính tích cực của học sinh
Đối với việc xây dựng hệ thống BT DH từ ngữ ĐN, cần quán triệt các nguyên tắc sư
phạm cơ bản như giao tiếp, tích hợp, trực quan; chú ý tiêu chí thẩm mĩ, hệ thống và sáng tạo. Ở
một phương diện khác của DH phân hóa hiện nay, ngoài tiêu chí trình độ ngôn ngữ theo hành
trình phát triển (độ tuổi, lớp học, bậc học), ngữ liệu BT cũng phải chú ý tới sự khác biệt trong
năng lực HS ở các vùng miền. Những yếu tố về tâm lí, hứng thú, tầm đón nhận cũng cần được
chú trọng để đảm bảo tư liệu DH có giá trị, được hấp thụ một cách trọn vẹn và đầy đủ nhất.
Theo định hướng xây dựng chương trình, SGK (chú ý tính đến chuẩn “đầu ra” của người
học), hệ thống BT phải tạo nên một môi trường học tập tương tác, năng động để HS chủ động
khám phá, chiếm lĩnh và có được những năng lực sau:
- Năng lực ngôn ngữ, những hiểu biết có lợi (tác dụng, cách dùng, vốn từ tích lũy) cho
việc sử dụng từ ngữ ĐN.
- Năng lực tạo lập ngôn bản (thể hiện tập trung trên thể loại miêu tả) với các mức độ cấu
trúc và sáng tạo. Cụ thể là HS phải có khả năng huy động, lựa chọn từ ngữ để cấu trúc, hoàn
chỉnh các phát ngôn; đồng thời biết đặt câu, dựng đoạn với từ ngữ ĐN.
- Năng lực tiếp nhận: thể hiện ở hai phương diện: phát hiện, nhận diện chính xác các
phương tiện ĐN có giá trị trong ngôn bản và sử dụng tri thức, kĩ năng về từ ngữ ĐN để kiến
giải, đánh giá nghệ thuật sử dụng từ ngữ ĐN trong các phát ngôn.
11
3.2. HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY HỌC TỪ NGỮ ĐỒNG NGHĨA
3.2.1. Cấu trúc hệ thống bài tập dạy học từ ngữ đồng nghĩa
Trên cơ sở những phân tích về lí luận ngôn ngữ, lí luận DH tiếng ở nhà trường tiểu học và
“cây năng lực” được hình thành, có thể mô tả hệ thống BT DH từ ngữ ĐN qua sơ đồ sau:
Từ định hướng bồi dưỡng phẩm chất “yêu quê hương, đất nước” đã chọn, chúng tôi đặt
tên cho nội dung tư liệu DH từ ngữ ĐN thể hiện bằng tổ hợp BT là “Quê hương, đất nước”.
Luận án cũng đề xuất tổ chức hệ thống BT thành ba bài (không tương ứng với 3 giờ học TV),
trực quan, nghĩa từ
- Ngữ liệu trong các BT thuộc nhóm này cũng cần đa dạng hóa về dạng thức biểu hiện của
phương tiện ĐN ở các cấp độ: từ và đơn vị tương đương từ (cụm từ cố định), ngữ tự do.
- Các BT tìm hiểu về từ ngữ ĐN được phân thành 3 loại:
(1) BT nhận diện từ ngữ ĐN (A.1.)
(2) BT nhận biết tác dụng của từ ngữ ĐN (A.2.)
(3) BT hệ thống hóa vốn từ ngữ ĐN (A.3)
- Xuất phát từ định hướng GT, các BT hệ thống hóa vốn từ ngữ ĐN không chỉ yêu cầu HS
dựa vào nghĩa, sắc thái nghĩa biểu đạt để tìm và sắp xếp từ ngữ mà còn chú ý đến việc phân loại
từ theo phạm vi sử dụng. Các ví dụ về ĐN ngữ cảnh được gia tăng theo nguyên tắc phát triển
năng lực sử dụng ngôn ngữ đã nêu.
Một số bài tập minh họa:
BT A.1.(1). Hôm qua cô giáo Chim Én dẫn học sinh ra cánh đồng mùa xuân. Đám học trò tíu
tít: - Đồng xanh xanh bao la
- Cánh đồng bát ngát mênh mông.
- Cánh đồng rộng thùng thình. – Sáo Nâu hối hả chen vào khiến các bạn cười vang.
Em có biết vì sao các bạn lại cười Sáo Nâu không?
BT A.1.(4). Những từ nào trong các đoạn thơ sau được dùng để gọi mẹ?
a) – Má ơi, ai sinh cá
Ai làm ra cái kem
Đêm sao lại màu đen
Ban ngày sao màu trắng?
(Xuân Quỳnh)
b) U ốm nằm nhà
Không ra đồng được
U đắp kín chăn
Mặt quay vào vách.
(Phạm Hổ)
BT A.2.(9). Vì sao trong các tình huống sau bạn Lan Anh không dùng từ “vàng chóe”?
13
thuộc nhóm này.
Cách thức xây dựng:
- BT tạo lập:
+ Khi xây dựng, các BT phải được phân hóa thành các nhóm nhỏ thực hiện những chức
năng khác nhau. Cụ thể là:
Nhóm BT cấu trúc (B.1.a.) bao gồm các BT điền khuyết, thay thế và sửa chữa.
Nhóm BT sáng tạo (B.1.b.) bao gồm các BT đặt câu, viết đoạn / bài.
+ Đảm bảo nguyên tắc thực hành GT, ngữ liệu trong các BT gắn với các tình huống lời
nói hàng ngày và các phong cách chức năng ngôn ngữ, tạo điều kiện cho HS huy động vốn từ
để sử dụng trong những ngữ cảnh khác nhau.
- BT tiếp nhận:
14
+ Các BT tiếp nhận được chia thành ba nhóm (nhận diện, cắt nghĩa và hồi đáp) tương ứng
với các cấp độ khác nhau trong năng lực đọc hiểu (và cảm thụ).
+ Vẫn lấy xuất phát điểm từ mục tiêu hành dụng, lệnh và dữ kiện BT trong nhóm tiếp
nhận chỉ tập trung khai thác hiệu năng của từ ngữ ĐN trong ngôn bản mà không chú ý nhận
diện, phản hồi về hình ảnh, tứ thơ, nhân vật (các yếu tố thuộc bình diện nội dung). Mặc dù
vậy, tính hệ thống của BT được đảm bảo bởi sự kết nối của chủ điểm hoạt động (tình yêu quê
hương, đất nước) và chủ đề ngôn ngữ.
Một số bài tập minh họa:
BT B.1.a.(27). Mít rất thích làm thơ về những con vật đáng yêu xung quanh mình nhưng lại bí
từ. Chọn từ trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống trong các bài thơ sau giúp Mít.
MÓN QUÀ DỄ THƯƠNG
Bà Dế một quả đào
Dế mang bạn Cào Cào dễ thương
Cửa hàng bác Kiến khai trương
Cào Cào bác, Ễnh Ương cười khì:
- Bác ơi, cắt quả đào đi
cho chúng cháu nhâm nhi vui cùng!”
Tiếng cười lan cả một vùng
a) Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như một tấm kính lau hết mây hết bụi. Mặt trời
nhú dần lên, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ quả trứng thiên nhiên đầy đặn.
(Nguyễn Tuân)
b) Hòn núi từ màu xám xịt đổi ra màu tím sẫm; từ màu tím sẫm đổi ra màu hồng; rồi từ
màu hồng lần lần đổi ra màu vàng nhạt. Cho đến lúc mặt trời chễm chệ ngự trị trên chòm mây,
ngọn núi mới trở lại màu xanh biếc thường ngày của nó. (Theo Thẩm Thệ Hà)
c) Mặt trời đội biển nhô màu mới
Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. (Huy Cận)
d) Mặt trời vừa nhô lên. Dòng thác óng ánh sáng rực dưới nắng (Nguyễn Phan Hách)
BT B.2.b.(60). Các từ ngữ in nghiêng trong những câu văn, câu thơ sau cùng diễn tả điều gì?
- Vườn trưa gió mát
Bướm bay rập rờn
Quanh đôi chân mẹ
Một rừng chân con. (Đàn gà mới nở - Phạm Hổ)
- Mùa xuân, cây gạo gọi đến bao nhiêu là chim. (Cây gạo – Vũ Tú Nam)
- Thế mía như nước vỡ bờ, đuổi ra khỏi giang sơn của nó lúa, ngô, khoai, đậu, mọi giống
cây trồng khác nữa. Mía bủa vây lấy từng gốc cọ, dường như cọ sợ mía tấn công, ngọn cọ nào
cũng cố vút lên cao tít. Có khi đến hàng chục cây số, mía chen chúc nhau không một kẽ hở nào.
(Thép Mới)
BT B.2.c.(63). Nếu thay từ “đọng” trong câu “Chốc chốc đàn chim chao cánh bay đi, nhưng
tiếng hót như đọng mãi giữa bầu trời ngoài cửa sổ.” bằng một trong các từ ngữ “vang vọng”,
“ngân nga”, “vẫn còn lại”, “ngưng đọng lại” thì câu văn sẽ không hay bằng. Vì sao?
3.3. ĐỊNH HƯỚNG TỔ CHỨC THỰC HÀNH BÀI TẬP
3.3.1. Nguyên tắc tổ chức thực hành bài tập
- BT cần gắn với các mục tiêu phát triển năng lực cụ thể.
- BT cần phù hợp với các giai đoạn phát triển năng lực của HS.
- Tùy thuộc chức năng, kiểu dạng BT để có sự lựa chọn phương pháp tổ chức hợp lí.
- Đảm bảo tính hệ thống trong tổ chức thực hành BT.
16
- Đa dạng hóa hình thức tổ chức giờ học, sử dụng BT đúng thời gian, thời điểm và “liều
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
4.1. MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Các hoạt động TN giúp người nghiên cứu chủ động tác động vào đối tượng, đánh giá thay
đổi của đối tượng và trên cơ sở đó rút ra những kết luận khoa học về DH từ ngữ ĐN.
4.2. NỘI DUNG THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
Các nội dung cụ thể được lựa chọn để thiết kế kế hoạch DH TN sư phạm gồm:
(1) Tìm hiểu về từ ngữ ĐN: Thể hiện trên giáo án ở Phụ lục 4.1.
(2) Sử dụng từ ngữ ĐN (tích hợp tiếp nhận và tạo lập trên nền một đề tài nhỏ trong chủ
điểm hoạt động bồi dưỡng phẩm chất “yêu quê hương, đất nước” cho HS)
4.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
4.3.1. Đối tượng thực nghiệm
Sự lựa chọn đối tượng TN căn cứ trên các yếu tố cơ bản: sĩ số, điều kiện DH và trình độ
của GV, HS. Có 24 lớp (tính theo số tiết TN) tham gia TN. Các lớp ĐC có năng lực, trình độ và
điều kiện tương đương.
4.3.2. Thời gian và quy trình thực nghiệm
Bài 1: Tìm hiểu về từ ngữ ĐN: tháng 8/2013
Bài 2: Sư kì diệu của từ ngữ ĐN (1): tháng 8, 9/2013
Bài 3: Sự kì diệu của từ ngữ ĐN (1): tháng 10, 11/2013
4.4. KẾT QUẢ TN SƯ PHẠM
4.4.1. Về mặt định lượng
Đánh giá định lượng được thực hiện thông qua hai bài kiểm tra sau tiết dạy. Kết quả kiểm
tra được đánh giá theo thang điểm 10. Số liệu xử lí trên SPSS cho thấy tỉ lệ % các mức điểm và
thông số về tỉ lệ điểm cao nhất, điểm thấp nhất thể hiện ở các bảng thống kê sau.
Bảng thống kê kết quả điểm bài kiểm tra số 1
Bảng thống kê kết quả điểm bài kiểm tra số 2
18
Dựa vào bảng, có thể nhận thấy giá trị Kurtosis của 2 nhóm đều nằm trong khoảng -2 đến
2. Điều này chứng tỏ phân phối điểm của 2 nhóm đều là phân phối chuẩn.
Kết quả kiểm định t-test cho thấy có sự khác biệt giữa điểm số 2 nhóm ĐC và TN (t(267)
= 7,33; p < 0,001). Điểm trung bình của nhóm TN (7.01) cao hơn so với nhóm ĐC (5.84). Kết
tác động mạnh mẽ đến việc phát triển năng lực tiếp nhận và tạo lập.
- Kết quả TN được phân tích, xử lí bằng cả phương pháp định tính và định lượng với sự
hỗ trợ của phần mềm SPSS, đảm bảo khách quan, chính xác và độ tin cậy.
20
- Năng lực và kinh nghiệm của GV tham gia dạy TN là một trong những yếu tố giúp cho
việc chuyển tải ý tưởng thiết kế đến với người học một cách chính xác, hiệu quả.
- TN sư phạm là một bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu, thể nghiệm tư tưởng
DH từ ngữ ĐN theo quan điểm GT. Từ hoạt động TN hay nói cách khác là trải qua những kiểm
nghiệm từ chính thực tiễn DH, thực tiễn tiếp nhận và sáng tạo lời nói của HS, vai trò, chức năng
của từ ngữ ĐN được nhìn nhận rõ ràng hơn.
4.5.2. Bài học kinh nghiệm và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
- Để những thiết kế đi vào thực tiễn cần có sự chuẩn bị kĩ lưỡng về yếu tố con người,
trong đó bao gồm các vấn đề nhận thức, trình độ tiếng Việt, khả năng ứng xử các tình huống sư
phạm, tình huống ngôn ngữ
- Khai thác nội dung DH từ ngữ ĐN trên cả bình diện tiếp nhận và tạo lập là một giải pháp
sư phạm bởi lẽ trong hoạt động ngôn ngữ, hai bình diện này luôn có sự giao thoa, tương tác lẫn
nhau.
- Khi các đề xuất đổi mới giáo dục đang đặt những bước chân đầu tiên vào thực tiễn, thiết
kế kế hoạch DH cần chú ý tính linh hoạt, độ mềm dẻo nhằm thỏa mãn tiêu chí về trình độ, tính
chất vùng miền.
- BT DH từ ngữ ĐN trong môn TV theo định hướng phát triển năng lực GT cho HS tiểu
học được thử nghiệm, kiểm chứng đã bước đầu khẳng định tính đúng đắn, tính khả thi, tính hiệu
quả, mặc dù độ khó của một số BT vẫn cần đến sự linh hoạt điều chỉnh của GV trong dạy TN.
Hiện tượng ĐN trong ngôn ngữ luôn có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với các nhà nghiên cứu, nhà
giáo dục. Ở cấp độ từ, sự tương đồng về nghĩa giữa từ và cụm từ cố định (đại diện là thành ngữ)
cũng cần được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng hơn nhằm chứng minh cho sức mạnh trong biểu
đạt của lớp từ vựng kì diệu này. Việc nhìn nhận từ ĐN ở những góc độ khác nhau như đặc trưng
cấu tạo, từ loại cũng là một con đường hứa hẹn nhiều khám phá bất ngờ, thú vị.
21
giai đoạn học tập trên nền chủ điểm nhằm phát triển phẩm chất “yêu quê hương, đất nước”).
Các nguyên tắc để xây dựng BT bao gồm: đảm bảo mục tiêu phát triển năng lực GT người học
(nguyên tắc GT); đảm bảo nguyên tắc tích hợp giữa dạy tiếng và dạy văn, dạy tạo lập và tiếp
nhận ; chú ý tính vừa sức, phát huy tính tích cực chủ động của HS. Cùng với hệ thống BT đã
xây dựng, luận án nêu ra một số định hướng, nguyên tắc vận dụng vào giờ học TV và những
lưu ý đối với các nhóm, dạng BT cụ thể.
1.5. Phát triển năng lực GT cho HS tiểu học là một định hướng quan trọng trong giáo
dục nói chung, trong DH tiếng nói riêng. Mang những đặc trưng như sự gặp gỡ, tương đồng về
nghĩa; khả năng biểu đạt tinh tế các sắc thái cảm xúc, phong cách , việc dạy học từ ngữ ĐN
chính vì thế càng trở nên hấp dẫn hơn, nhiều màu sắc hơn. TN sư phạm được tiến hành trên ba
bài dạy thiết kế thử nghiệm trên nền một chủ điểm hoạt động TV (tương ứng với 7 tiết), tập
22
trung vào các hoạt động đọc hiểu, thực hành từ ngữ và làm văn. Khả năng tương tác với các tri
thức về từ ngữ ĐN, kĩ năng sử dụng lớp từ kì diệu này (đặc biệt là trong hoạt động tiếp nhận
văn bản nghệ thuật) và sức sáng tạo của HS được bộc lộ rõ nét qua các hoạt động thực hành TV.
HS không chỉ có khả năng huy động, tập hợp từ để lập dãy ĐN mà thông qua hoạt động khám
phá, chiếm lĩnh tri thức, các em còn chứng tỏ khả năng vận hành từ ngữ ĐN gắn với những mục
tiêu, nhiệm vụ khác nhau. Từ ngữ ĐN sống dậy trong các sản phẩm lời nói của HS, tiếp tục tạo
động lực để hình thành thói quen chuyển các đơn vị ngôn ngữ từ trạng thái “tĩnh” sang “động”,
đưa từ vào hoạt động GT.
2. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT
2.1. Trước những đòi hỏi đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam sau 2015, những
hoạch định mang tính chiến lược cần được đầu tư kĩ lưỡng và đồng bộ, cả về mục tiêu, nội dung
đến phương pháp tổ chức DH. Hiện tượng ĐN nói riêng, các vấn đề về ngôn ngữ học nói chung
cần được chuyển tải một cách linh hoạt, sinh động, cho thấy rõ tính lợi ích trong GT để người
học nhanh chóng nắm bắt, hiểu để sử dụng. DH từ ngữ ĐN là một thể nghiệm, một đề xuất tác
động trước hết đến thiết kế nội dung chương trình, SGK theo hướng tiếp cận năng lực trong giai
đoạn hiện nay. Chúng tôi cho rằng, để những kiến thức ngôn ngữ đến được với người học, nhất
là những HS tiểu học, giúp các em hiểu và “sẵn sàng hành động”, cần tìm thấy điểm vàng cân
bằng giữa khoa học cơ bản và khoa học sư phạm, cần chú ý nhiều hơn đến khả năng vận dụng