BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HÒA
LÀM GIÀU VỐN TỪ TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGHỆ AN - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ HÒA
LÀM GIÀU VỐN TỪ TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc tiểu học)
Mã số: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. CHU THỊ THỦY AN
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4. Giả thuyết khoa học 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6. Phạm vi nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 3
8. Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ LÀM GIÀU VỐN TỪ TIẾNG
VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC GIAO TIẾP 5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước 7
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 11
1.2.1. Làm giàu vốn từ và nhiệm vụ của làm giàu vốn từ ở tiểu học 11
1.2.2. Năng lực, giao tiếp, năng lực giao tiếp 11
1.2.3. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp 16
1.3. Vấn đề phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp 4 17
1.3.1. Một số đặc điểm tâm lí và ngôn ngữ của học sinh lớp 4 17
1.3.2. Tầm quan trọng và mục tiêu của việc phát triển năng lực giao tiếp cho
học sinh lớp 4 24
iii
1.3.3. Nội dung, phương pháp phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh lớp
4 27
1.4. Năng lực từ ngữ và việc phát triển năng lực giao tiếp 35
1.4.1. Vai trò của vốn từ tiếng Việt đối với việc phát triển năng lực giao tiếp
của học sinh 35
3.1.1. Đảm bảo mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh 68
3.1.2. Đảm bảo nguyên tắc tích hợp trong phát triển năng lực sử dụng từ ngữ
69
3.1.3. Đảm bảo tính vừa sức và tích cực hóa hoạt động làm giàu vốn từ của
học sinh 70
3.2. Một số biện pháp làm giàu vốn từ 71
3.2.1. Biện pháp 1: Sử dụng phương pháp thực hành giao tiếp trong làm giàu
vốn từ cho học sinh lớp 4 theo định hướng phát triển năng lực giao
tiếp 71
3.2.2. Biện pháp 2: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập làm giàu vốn từ
cho học sinh theo định hướng phát triển năng lục giao tiếp 76
3.2.3. Biện pháp 3: Thiết kế các tình huống tạo giao tiếp để kích thích hứng
thú làm giàu vốn từ của học sinh 84
3.2.4. Biện pháp 4: Tổ chức các trò chơi học tập nhằm làm giàu vốn từ cho
học sinh theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp 87
3.2.5. Biện pháp 5: Xây dựng và sử dụng cách thức đánh giá kết quả phát
triển vốn từ của học sinh theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp
93
3.3. Khảo nghiệm và kết quả khảo nghiệm 98
3.3.1. Mục đích khảo nghiệm 98
3.3.2. Đối tượng và địa bàn khảo nghiệm 98
3.3.3. Nội dung khảo nghiệm 98
3.3.4. Kết quả khảo nghiệm 99
v
3.3.5. Kết luận về quá trình khảo nghiệm 99
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN 100
1. Kết luận 100
4
GV
Giáo viên
5
HS
Học sinh
6
LGVT
Làm giàu vốn từ
7
LTVC
Luyện từ và câu
8
MRVT
Mở rộng vốn từ
Bảng 2.2. Các bài MRVT trong SGK Tiếng Việt 4 47
Bảng 2.3. Vốn từ của học sinh lớp 4 ở các mức độ khác nhau 55
Bảng 2.4. Mức độ hứng thú của học sinh lớp 4 với việc làm giàu vốn từ 57
Bảng 2.5. Thực trạng nhận thức về nhiệm vụ và nội dung LGVT cho HS lớp 4
theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của GV 58
Bảng 2.6. Các phương pháp dạy học GV thường sử dụng trong giờ MRVT 60
Bảng 3.1. Đánh giá mức độ NL từ ngữ và NL sử dụng từ ngữ của HS 96
Bảng 3.2. Đánh giá của GV dạy lớp 4 về tính khả thi của hệ thống biện pháp
LGVT tiếng Việt cho HS lớp 4 theo định hướng phát triển NLGT 99
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Phát triển năng lực người học là định hướng cơ bản, quan trọng
trong dạy học nói chung và dạy học tiếng mẹ đẻ nói riêng của nhiều nước trên
thế giới. Đề án Đổi mới chương trình và sách giáo khoa Giáo dục phổ thông
sau năm 2015 của Bộ giáo dục và Đào tạo cũng tập trung nhấn mạnh việc
“xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực
người học”.Theo đó, chương trình phải hình thành và phát triển cho học sinh
tám năng lực chung chủ yếu là: Năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề
và sáng tạo; năng lực thẩm mĩ; năng lực thể chất; năng lực giao tiếp; năng lực
hợp tác; năng lực tính toán và năng lực công nghệ thông tin và truyền thông.
Năng lực giao tiếp là một trong tám năng lực quan trọng giúp học sinh tự tin,
mạnh dạn và đạt hiệu quả cao trong hoạt động học tập và các hoạt động của
cuộc sống thường ngày. Mặt khác, phát triển năng lực, trong đó, có năng lực
giao tiếp nhằm hướng đến một môi trường giáo dục hiện đại, chuẩn hóa và
hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, dạy học tiếng trong nhà trường phổ thông phải
hình thành và phát triển cho học sinh năng lực giao tiếp.
1.2. Bên cạnh đó, cũng phải thấy được rằng, phát triển vốn từ, nâng cao
theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp, góp phần nâng cao chất lượng
dạy học môn Tiếng Việt.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Tiếng Việt ở lớp 4.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp làm giàu vốn từ tiếng Việt cho học sinh lớp 4 theo định
hướng phát triển năng lực giao tiếp.
3
4. Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả định rằng, năng lực sử dụng từ ngữ tiếng Việt của học
sinh lớp 4 sẽ phát triển tốt nếu đề xuất và ứng dụng các biện pháp làm giàu
vốn từ cho học sinh theo quan điểm phát triển năng lực giao tiếp.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu các vấn đề lí luận về việc làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 4
theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của người học.
- Nghiên cứu thực trạng làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 4 theo định
hướng phát triển năng lực giao tiếp của người học.
- Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp làm giàu vốn từ cho học
sinh lớp bốn theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp thông qua môn
Tiếng Việt.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ khảo sát thực trạng và thử nghiệm kết quả nghiên cứu ở
trường Tiểu học Thân Nhân Trung, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2016 đến tháng 5/2017.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Gồm các phương pháp phân tích, khái quát hoá, hệ thống hoá, tổng kết
LÀM GIÀU VỐN TỪ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 4
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Những nghiên cứu ở nước ngoài tập trung vào một số vấn đề sau đây:
- Sự hình thành và phát triển của xu hướng dạy học tiếp cận năng lực
Tiếp cận NL trong giáo dục nói chung, dạy học nói riêng được hình
thành, phát triển rộng khắp ở Mỹ vào những năm 1970 và trở thành một
phong trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Anh, Úc, New
Zealand, xứ Wales...
Sở dĩ có sự phát triển mạnh mẽ này là do rất nhiều học giả và các nhà
thực hành phát triển nguồn nhân lực xem tiếp cận NL là cách thức có ảnh
hưởng nhiều nhất, được ủng hộ mạnh mẽ nhất để cân bằng giáo dục và quá
trình dạy học, là “cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền
kinh tế cạnh tranh toàn cầu” và là “một câu trả lời mạnh mẽ đối với những
vấn đề mà các nhà trường, cá nhân, tổ chức đang phải đối mặt trong thế kỷ
XXI”.
- Đặc trưng và ưu thế của dạy học tiếp cận năng lực
Theo J. Richard và T. Rodger, “Tiếp cận NL trong dạy học tập trung
vào kết quả học tập, nhắm tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn
là nhắm tới những gì họ cần phải học được” [22].
Khi tổng kết các lý thuyết về tiếp cận dựa trên NL trong dạy học và
phát triển, K.E. Paprock đã chỉ ra năm đặc tính cơ bản của tiếp cận này: 1)
Tiếp cận NL dựa trên triết lý người học là trung tâm; 2) Tiếp cận NL thực
6
hiện việc đáp ứng các đòi hỏi của chính sách; 3) Tiếp cận NL là định hướng
cuộc sống thật; 4) Tiếp cận NL rất linh hoạt và năng động; 5) Những tiêu
chuẩn của NL được hình thành một cách rõ ràng.
“con người cần phải như thế nào để thực hiện được vai trò của mình”; (2)
những mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức và kỹ năng theo đuổi việc xác
định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt
vai trò của mình; (3) những mô hình dựa trên cơ sở các kết quả và tiêu chuẩn
đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi
làm việc”. Mô hình tiếp cận với sản phẩm đầu ra được các nhà nghiên cứu và
thực hành trên thế giới đặc biệt ủng hộ. Khi bàn về mô hình dựa trên NL cần
chú ý NL còn là những đòi hỏi của công việc, nhiệm vụ và các vai trò. Mô
hình NL được sử dụng rất phổ biến ở cấp vi mô (trong từng đơn vị cụ thể) và
ngày càng phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới trong quá trình tăng cường và
phát triển các tổ chức. Mô hình này bao gồm các bước như sau: Xác định tầm
nhìn, sứ mạng, và mục tiêu của tổ chức; Xác định các quá trình, hệ thống, thủ
tục nội bộ nhằm đạt đến các tầm nhìn, sứ mạng và mục tiêu chiến lược đã
được xác định; Xác định các NL cần thiết để đạt tới các sứ mạng, mục tiêu đã
xác định; Xác định những thiếu hụt, khoảng trống NL và hình thành các kế
hoạch phát triển của cá nhân và của tổ chức; Hợp nhất các kế hoạch này thành
kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của tổ chức.
Mô hình NL đã được phát triển rộng khắp trên thế giới với Hệ thống
chất lượng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp ở Anh và xứ Wales; Khung chất
lượng quốc gia của New Zealand; Các tiêu chuẩn chất lượng của Hội đồng
đào tạo quốc gia Australia; Những kỹ năng cần thiết phải đạt được của Hội
đồng đào tạo quốc gia Mỹ…
1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước
Các nghiên cứu ở trong nước tập trung vào một số vấn đề sau đây:
8
- Sự cần thiết phải chuyển sang dạy học theo định hướng phát triển
năng lực học sinh
Tuy không có công trình nào trực tiếp đề cập đến vấn đề này, nhưng
mong muốn. Trong chương trình định hướng phát triển NL, mục tiêu học tập,
tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các
năng lực. Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát,
đánh giá được. HS cần đạt được những kết quả, yêu cầu đã quy định trong
chương trình. Việc đưa ra các chuẩn dạy học cũng nhằm đảm bảo quản lý chất
lượng dạy học theo định hướng kết quả đầu ra. Ưu điểm của chương trình dạy
học định hướng phát triển NL là tạo điều kiện quản lý chất lượng theo kết quả
đầu ra đã quy định, nhấn mạnh NL vận dụng của HS.
- Tổ chức hoạt động dạy học theo định hướng phát triển
năng lực học sinh
Theo các tác giả Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Sỹ Thu, tổ chức dạy học
theo định hướng phát triển NL HS là giúp HS thấu hiểu “Học để làm gì - Học
cái gì?” để có NL đích thực; đồng thời bồi dưỡng cho HS cách “Học hiệu
quả” để có NL bền vững. Bên cạnh đó, các tác giả còn chỉ ra những NL tư
duy nền tảng cần trang bị cho HS trong quá trình dạy học, đó là: Tư duy
nguyên tắc (thông thạo một lĩnh vực chính và ít nhất một lĩnh vực chuyên
môn); Tư duy tổng hợp (biết hợp nhất các ý kiến chuyên môn khác nhau
thành một tổng thể, gắn tổng thể này với tổng thể khác); Tư duy sáng tạo (biết
khám phá và làm rõ những vấn đề, những đòi hỏi của thực tiễn); Tư duy tôn
trọng (nhận biết và thấu hiểu sự khác biệt giữa các dòng tư tưởng); Tư duy
đạo đức (hoàn thành trách nhiệm là một người lao động) [6].
Các tác giả khác lại cho rằng, để tổ chức hiệu quả hoạt động dạy học
theo định hướng phát triển NL HS cần chú ý đến việc sử dụng các phương
pháp và hình thức tổ chức dạy học, tạo điều kiện tốt nhất cho HS thực hành,
10
vận dụng kiến thức trong những tình huống đa dạng. Nếu trong quá trình dạy
học, GV không tổ chức được các hoạt động học tập phù hợp cho HS thì không
thể hình thành được ở các em những NL mong muốn - điều mà dạy học theo
hướng phát triển NL HS phụ thuộc chủ yếu vào các phương pháp đánh giá.
Tuy nhiên, theo tác giả, “để các phương pháp đánh giá theo NL đạt chất lượng
theo yêu cầu, GV phải đánh giá bằng nhiều hình thức và thông qua nhiều
công cụ. Nếu NL được coi như là khả năng sử dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo và thái độ để giải quyết vấn đề trong những bối cảnh cụ thể thì các
chương trình giảng dạy và các phương pháp đánh giá cũng phải kết hợp cả ba
yếu tố này” [14].
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Làm giàu vốn từ và nhiệm vụ của làm giàu
vốn từ ở tiểu học
Phân môn Luyện từ và câu là phân môn rèn luyện và phát triển kỹ năng
GT cho HS tiểu học thông qua việc phát triển vốn từ, rèn luyện kỹ năng sử
dụng từ chính xác, tinh tế để đặt câu, rèn luyện kỹ năng tạo lập câu và sử dụng
câu phù hợp với tình huống GT. Mục tiêu của phân môn được thể hiện đầy đủ
trong tên gọi " Mở rộng vốn từ" hay còn gọi là “Làm giàu vốn từ”.
Làm giàu vốn từ là một bộ phận kiến thức của phân môn Luyện từ và
câu, còn được gọi là mở rộng vốn từ, là nhiệm vụ của các bài học có tên gọi
“Mở rộng vốn từ”.
1.2.2. Năng lực, giao tiếp, năng lực giao tiếp
1.2.2.1. Năng lực
NL được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau, tuỳ thuộc vào bối
cảnh và mục đích sử dụng các năng lực đó. Từ giữa những năm 1930, trong
nền Tâm lý học Liên xô có rất nhiều công trình nghiên cứu về NL của các tác
12
giả nổi tiếng như V.A.Crutetxki, V.N. Miaxisốp, A.G. Côvaliốp, V.P.
Iaguncôva… Những công trình nghiên cứu này đã đưa ra được các định
hướng cơ bản cả về mặt lý luận và thực tiễn cho các nghiên cứu sau này của
Tâm lý học Liên xô về NL. Còn về thuật ngữ NL, các nhà nghiên cứu đều
giao tiếp xã hội nhất định. Do những quy tắc sử dụng này mang đặc trưng văn
hóa và không thể thụ đắc một cách tự nhiên, nên chúng cần được mô tả cặn kẽ
và dạy cẩn thận” [35].
Murby (1978) cho rằng khái niệm ““năng lực giao tiếp” phải bao hàm
khái niệm “năng lực ngữ pháp”. Nếu không đưa khái niệm ”năng lực ngữ
pháp” vào khái niệm “năng lực giao tiếp” thì rất dễ làm cho người ta đi đến
kết luận rằng: 1) Năng lực ngữ pháp và năng lực giao tiếp là hai loại năng
lực phát triển độc lập với nhau và thường ưu tiên phát triển năng lực ngữ
pháp trước. 2) Năng lực ngữ pháp không phải là một thành tố cơ bản của
năng lực giao tiếp".”[35].
Như vậy có thể định nghĩa như sau về NLGT: Năng lực giao tiếp là
khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, thái độ, tình cảm liên quan đến
giao tiếp, đảm bảo hoạt động giao tiếp thu được hiệu quả.
Có nhiều quan điểm xung quanh vấn đề các thành tố của NLGT: Celce
Marcia cho rằng NLGT gồm có năm khía cạnh: năng lực ngôn ngữ, năng lực
diễn ngôn, năng lực hành động lời nói, năng lực văn hóa xã hội, năng lực
chiến lược.
a. Năng lực ngôn ngữ
Đó là các kiến thức về hệ thống ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp,
chính tả, từ ngữ, câu văn, đoạn văn, văn bản..), nó chính là cơ sở để chúng ta
thực hiện GT. Năng lực ngôn ngữ rất quan trọng trong cách tiếp cận GT,
hướng tới mục đích đạt được trình độ hiểu và sử dụng chính xác các diễn đạt
ngôn ngữ.
b. Năng lực diễn ngôn
15
Đó là khả năng sắp xếp, tổ chức từ ngữ cấu trúc có tính liên kết và
mạch lạc các ý tưởng một cách lôgic và thống nhất. NL diễn ngôn đặt ra
những câu hỏi như: các từ, ngữ và câu kết hợp lại với nhau như thế nào để tạo
lập lời nói) còn phải bao gồm hành động nghe và đọc (tiếp nhận lời nói). Còn
NL “chiến lược” thì chỉ cần thiết ở giai đoạn đầu khi chưa nắm vững ngôn
ngữ đối với người học ngoại ngữ hoặc học ngoại ngữ thứ hai (ví dụ người dân
tộc ít người học tiếng Việt). Bởi vậy, các nhà nghiên cứu tương đối thống nhất
quan niệm NLGT bao gồm:
- NL ngôn ngữ (tương đương với năng lực ngôn ngữ và năng lực
diễn ngôn trình bày trên đây).
- NL hoạt động lời nói (đọc, nghe, nói, viết) phù hợp với ngữ cảnh, đạt
hiệu quả.
- NL văn hóa xã hội.
1.2.3.
Dạy học theo định hướng phát triển năng
lực giao tiếp
Dạy học ngôn ngữ theo quan điểm GT trở thành định hướng trung tâm
trong nhà trường phổ thông. Xuất phát từ tiền đề quan trọng về chức năng GT
của ngôn ngữ và mối quan hệ của nó với phát triển tư duy, rất nhiều nhà tâm lí
học, giáo dục học như L.S. Vygotskij, David Nunan, A.N. Leonchiep, M.R.
Lvop, J. Richards, Rodgers... đã phát triển thành các đường hướng, quan điểm
dạy học GT. Những thành tựu rực rỡ trong vận dụng lí thuyết hoạt động theo
trường phái Vygotskij ở Liên Xô cũng để lại dấu ấn đậm nét trong các công
trình nghiên cứu về dạy học tiếng. Bên cạnh đó, gắn dạy học tiếng với tình
huống được xem là một bước phát triển trong ứng dụng quan điểm GT. Tiêu
biểu cho đường hướng này là những nghiên cứu của Richards, Rodgers.
Ngoài ra, trong chương trình dạy học tiếng ở nhiều quốc gia, giao tiếp được
thể hiện với tư cách một nguyên tắc cơ bản, then chốt.
Ở Việt Nam, việc dạy học tiếng Việt theo quan điểm GT cũng được rất