CHUYÊN ĐỀ: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP TIẾNG ANH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG, BÀI TẬP TÌNH HUỐNG - Pdf 52

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
---------------ššššš---------------

CHUYÊN ĐỀ
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP TIẾNG ANH
CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG
ỨNG DỤNG, BÀI TẬP TÌNH HUỐNG

Tháng 10, 2017

1


MỞ ĐẦU
1. Lý do:
Sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế
với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa đang tạo ra những cơ
hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách đối với giáo
dục về đào tạo con người, đào tạo nguồn nhân lực cho thời đại mới. Nghị quyết
Đại hội TW Đảng khóa XII đặt ra mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo nhằm hướng đến xây dựng một nền giáo dục hiện đại, nhân
văn đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mở cửa, hội nhập
quốc tế. Một trong 6 giải pháp để đạt được mục tiêu đó là: Tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng
coi trọng phát triển năng lực và phẩm chất của người học.Tập trung đổi mới
chương trình, SGK; đổi mới phương pháp, mục tiêu dạy và học, chú trọng giáo
dục phát huy tư duy sáng tạo, phẩm chất năng lực; đổi mới thi cử, kiểm tra, bảo
đảm chất lượng đầu ra. Chuyển từ quan điểm dạy học truyền thống: Dạy chữ dạy nghề - dạy người sang Dạy người - Dạy chữ - Dạy nghề, trong đó đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng
bào, sống tốt và làm việc hiệu quả.
Đề án Đổi mới chương trình và sách giáo khoa của Bộ Giáo dục Đào tạo

Tiếng Anh đã thực hiện nhiều công việc trong đổi mới phương pháp dạy học,
kiểm tra đánh giá và đã đạt được những thành công bước đầu. Đây là những tiền
đề vô cùng quan trọng để chúng ta tiến tới việc việc dạy học và kiểm tra, đánh
giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học. Tuy nhiên, vẫn còn
không ít giáo viên còn hạn chế về năng lực chuyên môn, chưa đạt yêu cầu về năng lực
sư phạm, một số nhà giáo tinh thần trách nhiệm chưa cao, ngại đổi mới. Sự sáng
tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực của
học sinh… chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc rèn
luyện kỹ năng, năng lực chưa được quan tâm. Nhiều giáo viên còn lúng túng
trong việc tiếp cận với phương pháp giảng dạy tiên tiến, việc vận dụng, kết hợp các
hình thức và phương pháp dạy học, các cách thức tổ chức hoạt động học theo hướng
nâng cao năng lực cho học sinh, chưa thực sự tạo cơ hội cho học sinh được vận dụng
kiến thức đã học vào cuộc sống. Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học thụ
động, thiếu tự tin, thiếu linh hoạt khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn.
Nhằm góp phần hỗ trợ cán bộ quản lý các nhà trường, giáo viên tiếng Anh
tiểu học về nhận thức, phương pháp, cách thức tổ chức dạy học và các kĩ thuật
thiết kế các hoạt động dạy học, các hoạt động ứng dụng theo định hướng phát
triển năng lực giao tiếp, Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức biên soạn tài liệu: Phát
triển năng lực giáo tiếp cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động ứng dụng
và các bài tập tình huống.
2. Mục tiêu của tài liệu: Giúp cán bộ quản lí và giáo viên tiếng Anh:
- Hiểu sâu về dạy học theo định hướng phát triển năng lực, các kĩ thuật
dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực cho học sinh.
- Các hoạt động ứng dụng, các bài tập tình huống phát triển ngăng lực
giao tiếp cho học sinh.
- Có kĩ năng thiết kế các bài tập tình huống, tổ chức các hoạt động ứng
dụng phát triển năng lực giao tiếp.
3. Cấu trúc nội dung tài liệu:
Ngoài phần Mở đầu, nội dung chính của tài liệu gồm 4 phần:
3

kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết
vấn đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong
quá trình học tập để có tác động kịp thời nhắm nâng cao chất lượng của hoạt
động dạy học và giáo dục.
I. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và trách nhiệm các hành
động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội
hay cá nhân trong các tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo
và kinh nghiệm, cũng như sẵn sàng hành động.
Chương trình giáo dục định hướng năng lực nay còn gọi là dạy học định
hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và
ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng năng lực
nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học.
Giáo dục định hướng năng nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy
học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng
năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho
con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống. Chương trình này
nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định
hướng năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản
phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lí chất lượng dạy học
chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang ”điều khiển đầu ra”, tức là kết quả
học tập của học sinh.
Chương trình dạy học định hướng năng lực không quy định những nội dung
dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo
dục, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung,
phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được
5



c) ……………………………………………………………………..

a) Nghe hiểu và chắt lọc được thông tin bổ ích từ các bài đối thoại,
chuyện kể, lời giải thích, cuộc thảo luận; nói với cấu trúc logic, biết
cách lập luận chặt chẽ và có dẫn chứng xác thực, thuyết trình được
Năng lực
nội dung chủ đề thuộc chương trình học tập; đọc và lựa chọn được
sử dụng
các thông tin quan trọng từ các văn bản, tài liệu; viết đúng các dạng
ngôn ngữ văn bản với cấu trúc hợp lý, lôgíc, thuật ngữ đa dạng, đúng chính tả,
đúng cấu trúc câu, rõ ý.
b) Sử dụng hợp lý từ vựng và mẫu câu trong hai lĩnh vực khẩu ngữ
và bút ngữ; có từ vựng dùng cho các kỹ năng đối thoại và độc thoại;
phát triển kĩ năng phân tích của mình; làm quen với các cấu trúc
ngôn ngữ khác nhau thông qua các cụm từ có nghĩa trong các bối
cảnh tự nhiên trên cơ sở hệ thống ngữ pháp.
6


Mỗi môn học có những tác động riêng đối với việc phát triển năng lực
chung cho học sinh thể hiện theo các mức độ như:
- Mức độ A: Môn học đóng vai trò chủ yếu đối với sự phát triển năng lực
chủ yếu.
- Mức độ B: Môn học góp phần phát triển năng lực tương ứng.
- Mức độ C: Môn học tạo cơ hội phát triển năng lực tương đương.
Cụ thể:
Vai trò của các môn học đối với việc phát triển
năng lực chung của học sinh
Các năng lực chung
Tên môn học,

A

A

C

B

...

...

...

...

...

...

...

...

...

Từ bảng trên ta thấy rằng Ngoại ngữ và Tiếng Việt có vai trò rất lớn trong
việc phát triển năng lực tự học, giải quyết vấn đề và giao tiếp, hợp tác.
Trong xu thế hiện nay, giáo dục và đào tạo của chúng ta đang được xây
dựng dựa trên 4 trụ cột của UNESCO có thể xem như một triết lý giáo dục của

Các mức
quá trình

Các bậc
trình độ nhận thức

1. Hồi
tưởng
thông tin

Tái hiện

2. Xử lí
thông tin

Hiểu và vận dụng

Nhận biết lại
Tái tạo lại

Nắm bắt ý nghĩa
Vận dụng

3. Tạo
thông tin

Các đặc điểm
- Nhận biết lại cái gì đã học theo cách
thức không thay đổi.
- Tái tạo lại cái đã học theo cách thức

Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật dạy học có ý nghĩa đặc
biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của HS vào quá trình dạy học,
kích thích tư duy, sự sáng tạo và sự cộng tác làm việc của HS.

1. Kỹ thuật động não (Brainstorming)
Năm 1941, Alex Osborn đã miêu tả động não như là Một kỹ thuật hội ý
bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặc trưng bằng cách

9


góp nhặt tất cả ý kiến của nhóm người đó nảy sinh trong cùng một thời gian
theo một nguyên tắc nhất định.
Động não (Brainstorming) là một phương pháp đặc sắc dùng để phát triển
nhiều giải pháp sáng tạo cho một vấn đề. Phương pháp này hoạt động bằng cách
nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề, từ đó rút ra rất nhiều giải pháp căn bản
cho nó. Các ý niệm/hình ảnh về vấn đề trước hết được nêu ra một cách rất phóng
khoáng và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ càng nhiều, càng đủ càng tốt. Các ý
kiến có thể rất rộng và sâu cũng như không giới hạn bởi các khía cạnh nhỏ nhặt
nhất của vấn đề mà những người tham gia nghĩ tới.
Trong động não thì vấn đề được đào bới từ nhiều khía cạnh và nhiều cách
nhìn khác nhau. Sau cùng các ý kiến sẽ được phân nhóm và đánh giá.
Dụng cụ tốt nhất là các bảng hoặc giấy khổ lớn để mọi người dễ đọc các
ý kiến, hoặc có thể thay thế bằng giấy viết; có thể sử dụng hệ thống máy tính kết
nối mạng để tiến hành động não.
- Giáo viên chia nhóm, các nhóm tự chọn nhóm trưởng và thư ký.
- Giao vấn đề cho nhóm.
- Nhóm trưởng điều hành hoạt động thảo luận chung của cả nhóm trong
một thời gian quy định, các ý kiến đều được thư ký ghi nhận, khuyến khích thành
viên đưa càng nhiều ý kiến càng tốt.

nhiều thời gian cho hai hoạt động: Viết cá nhân và đánh giá toàn bộ ý kiến.
4 . Kỹ thuật XYZ (Còn gọi là kỹ thuật 635)
Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật làm việc nhóm nhằm phát huy tính tích cực
của mỗi thành viên trong nhóm, trong đó mỗi nhóm có X thành viên, mỗi thành
viên cần đưa ra Y ý kiến trong khoảng thời gian Z. Mô hình thông thường mỗi
nhóm có 6 thành viên, mỗi thành viên cần đưa ra 3 ý kiến trong khoảng thời gian
5 phút, do vậy, kỹ thuật này còn gọi là kỹ thuật 635.
Các thành viên cần chuẩn bị giấy bút.
- Giáo viên chia nhóm, giao chủ đề cho nhóm, quy định số lượng ý tưởng
và thời gian theo đúng quy tắc XYZ.
- Các thành viên trình bày ý kiến của mình, hoặc gởi ý kiến về cho thư ký
tổng hợp, sau đó tiến hành đánh giá và lựa chọn.
Số lượng thành viên trong nhóm nên tuân thủ đúng quy tắc để tạo tính
tương đồng về thời gian, giáo viên quy định thời gian và theo dõi thời gian cụ
thể.
5. Kỹ thuật "Bể cá".
Kỹ thuật bể cá là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một
nhóm thành viên ngồi giữa phòng và thảo luận với nhau, còn những thành viên
khác ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết
thúc cuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những thành
11


viên đang thảo luận.Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người
ngồi. Các thành viên tham gia nhóm quan sát có thể thay nhau ngồi vào chỗ đó
và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận, ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm
thảo luận hoặc phát biểu ý kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm.
Cách luyện tập này được gọi là phương pháp thảo luận “bể cá”, vì những người
ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người thảo luận, tương tự như xem
những con cá trong một bể cá cảnh. Trong quá trình thảo luận, những người

- Mỗi nhóm được tách ra và hình thành nhóm mới theo sơ đồ.

- Từng thành viên lần lượt trình bày kết quả thảo luận của mình.
Lưu ý: Đảm bảo ở bước thảo luận đầu tiên, mọi thành viên đều có khả
năng trình bày kết quả thảo luận của nhóm trước khi tiến hành tách nhóm; các
chủ đề thảo luận cần được chọn lọc kỹ lưỡng, có tính độc lập với nhau.
Ưu điểm của kỹ thuật này là đào sâu kiến thức trong từng lĩnh vực, phát
huy hiểu biết của học sinh, phát triển tinh thần làm việc theo nhóm, phát huy
trách nhiệm của từng cá nhân. Tuy nhiên, kết quả thảo luận phụ thuộc vào vòng
thảo luận thứ nhất, nếu vòng thảo luận này không có chất lượng thì cả hoạt
động sẽ không có hiệu quả. Ngoài ra, nếu số lượng thành viên không được tính
toán kỹ sẽ dẫn đến tình trạng nhóm thừa, nhóm thiếu. Không sử dụng được cho
các nội dung thảo luận có mối quan hệ ràng buộc “Nhân-quả” với nhau.
7. Kỹ thuật khăn phủ bàn (Khăn trải bàn)
Kĩ thuật "khăn trải bàn" là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác
kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự
tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của người học và phát
triển mô hình có sự tương tác giữa người học với người học.

13


GV cần chuẩn bị bút và giấy khổ lớn cho mỗi nhóm.
- Giáo viên chia nhóm, phân công nhóm trưởng, thư ký, giao vật tư.
- Giáo viên giao vấn đề, từng thành viên viết ý kiến của mình vào góc của
tờ giấy.
- Nhóm trưởng và thư ký tổng hợp các ý kiến, đánh giá và lựa chọn
những ý kiến quan trọng viết vào giữa tờ giấy.
Mỗi thành viên làm việc tại góc riêng của mình. Kỹ thuật này tăng cường
tính độc lập và trách nhiệm của người học. Tuy nhiên lại tốn kém chi phí và khó

Chuẩn bị bảng lớn, hoặc giấy khổ lớn, bút càng nhiều màu càng tốt, có thể
sử dụng các phần mềm vẽ sơ đồ tư duy.
Giáo viên chia nhóm, giao chủ đề cho nhóm, mỗi thành viên lần lượt kết
nối ý tưởng trung tâm đến ý tưởng của cá nhân, mô tả ý tưởng thông qua hình
ảnh, biểu tượng hoặc một vài ký tự ngắn gọn.
- Có nhiều cách tổ chức thông tin theo sơ đồ: Sơ đồ thứ bậc, sơ đồ mạng,
sơ đồ chuỗi v.v. Giáo viên cần để học sinh tự lựa chọn sơ đồ mà các em thích.
- Giáo viên cần đưa câu hỏi gợi ý để thành viên nhóm lập sơ đồ.
- Khuyến khích sử dụng biểu tượng, ký hiệu, hình ảnh và văn bản tóm tắt.
Ví dụ:
Ưu điểm của kỹ thuật này là khi vẽ sơ đồ tư duy, học sinh học được quá
trình tổ chức thông tin, ý tưởng cũng như giải thích được thông tin và kết nối
thông tin với cách hiểu biết của mình. Phù hợp tâm lý học sinh, đơn giản, dễ
15


hiểu; rất thích hợp cho các tiết dạy kĩ năng nói, viết, liên kết lý thuyết với thực
tế.
10. Kỹ thuật động não ABC
Trước khi yêu cầu học sinh thảo luận về một chủ đề quan trọng, giáo viên
nên kích hoạt những kiến thức có sẵn của các em. Một trong những hình thức
kích hoạt là sử dụng kỹ thuật động não ABC. Học sinh sẽ nghĩ đến những từ ngữ
có liên quan đến chủ đề thảo luận, theo trình tự ABC.
Dụng cụ: Giấy bút cho người tham gia.
- Đề nghị học sinh liệt kê bảng chữ cái theo hàng dọc từ trên xuống dưới
(Hoặc giáo viên in sẵn cho học sinh).
- Đề nghị học sinh làm việc cá nhân và điền vào các từ có liên quan đến
chủ đề cần thảo luận, sau khi làm việc cá nhân, học sinh làm việc nhóm đôi và
chia sẻ lẫn nhau các từ các em tìm được, cố gắng hoàn tất cả bảng chữ cái.
Chủ đề cần rộng để học sinh suy nghĩ.Khuyến khích học sinh hoàn thành

gì các em đã biết về chủ đề bài đọc. Thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột K
của biểu đồ. Sau đó học sinh nêu lên danh sách các câu hỏi về những điều các
em muốn biết thêm trong chủ đề này. Những câu hỏi đó sẽ được ghi nhận vào
cột W của biểu đồ. Trong quá trình đọc hoặc sau khi đọc xong, các em sẽ tự trả
lời cho các câu hỏi ở cột W, các thông tin này sẽ được ghi nhận vào cột L.
+ K (Know) – những điều đã biết
+ W (Want to Know) – Những điều muốn biết
+ L (Learned) - những điều đã được học.
Sau khi giới thiệu bài học,mục tiêu cần đạt của bài học, giáo viên phát
phiếu học tập KWL. Kĩ thuật này có thể thực hiện cho cá nhân hoăc cho nhóm
học sinh.
Ví dụ: Khi học bài về my favourite sports and games
Yêu cầu học sinh viết vào cột K những môn thể thao mà các em đã biết
(tên, số người chơi, địa điểm chơi, luật chơi….).
Sau đó viết vào cột W những gì các em muốn biết môn thể thao các em chưa
biết, có thể cho phép học sinh sử dụng tiếng Việt.
Sau khi kết thúc bài học hoặc chủ đề, học sinh điền vào cột L của phiếu
những gì vừa học được. Lúc này, học sinh xác nhận về những điều các em đã
học được qua bài học đối chiếu với điều muốn biết, đã biết để đánh giá được kết
quả học tập, sự tiến bộ của mình qua giờ học.
17


K

W

(Những điều đã biết)

(Những điều muốn biết)

có thể do chưa thực sự tập trung chú ý hoặc chưa tham gia tích cực vào hoạt động
học tập. Điều đó sẽ giúp cho học sinh tự điều chỉnh hoặc cần nghiên cứu lại tài
liệu hay cần đề nghị giáo viên hỗ trợ để bổ sung những kiến thức còn thiếu, chưa
hiểu hoặc hiểu chưa rõ. Đồng thời qua đó giáo viên cũng đánh giá được kết quả
giờ dạy của mình để điều chỉnh cách dạy.
13. Kỹ thuật chia nhóm

Khi tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách
chia nhóm khác nhau để gây hứng thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em
được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp. Dưới đây là một số
cách chia nhóm:

18


Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các
mùa trong năm,...:
- GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6...(tùy theo số nhóm GV muốn
có là 4,5 hay 6 nhóm,...); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng,...);
hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc,...); hay điểm danh theo
các mùa (xuân, hạ, thu, đông,...)
- Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một màu/cùng
một loài hoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm.
Chia nhóm theo hình ghép
- GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5... mảnh khác nhau, tùy theo số
HS muốn có là 3/4/5... HS trong mỗi nhóm. Lưu ý là số bức hình cần tương ứng
với số nhóm mà GV muốn có.
- HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt.
- HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm
hình hoàn chỉnh.


I am 8 years old. My mother is 40. My father is 42 and my
sister is 20……
15. Kỹ thuật “Chúng em biết 3”
- GV nêu chủ đề cần thảo luận.
- Chia HS thành các nhóm 3 người và yêu cầu HS thảo luận trong vòng 10
phút về những gì mà các em biết về chủ đề này.
- HS thảo luận nhóm và chọn ra 3 điểm quan trọng nhất để trình bày với cả
lớp.
- Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên.
Ví dụ: Sau khi học xong Unit 12: Don’t ride your bike too fast, GV đưa ra
chủ đề How to prevent accidents in your school.
Groupwork: We know 3:
1. Don’t climb the tree.
2. Don’t run down the stairs
3. Don’t ride your bike too fast.
16. Kỹ thuật “Hỏi Chuyên gia”
- HS xung phong (hoặc theo sự phân công của GV) tạo thành các nhóm
"chuyên gia" về một chủ đề nhất định.
- Các "chuyên gia" nghiên cứu và thảo luận với nhau về những tư liệu có liên
quan đến chủ đề mình được phân công.
- Nhóm "chuyên gia" lên ngồi phía trên lớp học
- Một em trưởng nhóm "chuyên gia" (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi "tư vấn",
mời các bạn HS trong lớp đặt câu hỏi rồi mời "chuyên gia" giải đáp, trả lời.

20


17. Kỹ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
- GV đưa ra một câu chuyện/một vấn đề/một bức tranh/một thông điệp/...

những gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các
em phải tìm ra.
- Tìm ý chính: HS tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung vào
các ý quan trọng theo cách hiểu của mình.
- Tóm tắt ý chính.
- HS chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho
nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc đọc.
- HS nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có).
Lưu ý: Một số câu hỏi GV thường dùng để giúp HS tóm tắt ý chính:
+ Em có chú ý gì khi đọc ............ ?
+ Em nghĩ gì về ................... ?
+ Em so sánh A và B như thế nào?
+ A và B giống và khác nhau như thế nào?
20. Kỹ thuật “Nói cách khác”
- GV chia HS thành các nhóm, yêu cầu các nhóm hãy liệt kê ra giấy khổ
lớn 10 điều không hay mà thỉnh thoảng người ta vẫn nói về một ai đó/việc gì đó.
- Tiếp theo, yêu cầu các nhóm hãy tìm 10 cách hay hơn để diễn đạt cùng
những ý nghĩa đó và tiếp tục ghi ra giấy khổ lớn.
- Các nhóm trình bày kết quả và cùng nhau thảo luận về ý nghĩa của việc
thay đổi cách nói theo hướng tích cực.
Ví dụ:
I hate pizza

My favourite cake is not pizza

This classroom is dirty

This room is not clean

Hoa is ugly



Phần 2:
HOẠT ĐỘNG ỨNG DỤNG VỚI CÁC BÀI TẬP TÌNH HUỐNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC GIAO TIẾP CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
Trong giáo dục ngôn ngữ, để học sinh có thể ứng dụng các kiến thức ngôn
ngữ vào đời sống, bài tập ngôn ngữ tốt nhất nên là sự mô phỏng các tình huống
giao tiếp có thật trong cuộc sống để học sinh có thể dễ dàng tìm thấy hứng thú
và ích lợi của việc luyện tập. Từ đó bản thân các em sẽ nỗ lực giải quyết các vấn
đề mà bài tập đặt ra, cuối cùng đi đến việc hình thành các kinh nghiệm và kỹ
năng giao tiếp cần thiết.
1. Tầm quan trọng của các hoạt động ứng dụng, bài tập tình huống
trong việc phát triển năng lực giao tiếp cho học sinh.
Hoạt động ứng dụng là các tình huống sử dụng ngôn ngữ thật trong cuộc
sống hoặc là cung cấp đầy đủ các nhân tố giao tiếp làm cơ sở để học sinh có thể
tạo lập văn bản (cả ở dạng nói và viết) sao cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp,
mục đích giao tiếp và vai giao tiếp cụ thể.
Vì vậy, bài tập tình huống, hoạt động ứng dụng có vai trò vô cùng quan
trọng trong việc hình thành và rèn luyện kỹ năng giao tiếp. Trong đời sống, khi
giao tiếp, các tình huống cụ thể xuất hiện một cách tự nhiên và con người tham
gia vào đó một cách cũng tự nhiên. Tuy nhiên trong quá trình dạy học, tình
huống giao tiếp thực thường xuất hiện tự phát, nằm ngoài sự kiểm soát của giáo
viên. Chính vì vậy, tình huống thực khó có thể bảo đảm hình thành ở học sinh
những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết. Do đó, trong dạy học ngoại ngữ, giáo viên cần
chủ động tạo dựng những tình huống học tập, tạo ra nhu cầu giao tiếp để khắc
phục hố sâu ngăn cách giữa vốn tri thức ngôn ngữ với việc sử dụng chúng như
một công cụ giao tiếp, tập dượt trước cho học sinh cách ứng xử trong những tình
huống mà họ sẽ gặp trong cuộc sống, hình thành ở học sinh năng lực giao tiếp.
Người ta gọi đó là tình huống giao tiếp giả định.
Dù là giả định nhưng các tình huống giao tiếp đó cũng phải bao hàm đầy

Người học chỉ có nhu cầu giao tiếp khi chủ đề, tình huống của bài học hấp
dẫn, phù hợp với sở thích và mối quan tâm của họ. Chủ đề của các bài tập tình
huống trong sách giáo khoa hiện nay, theo đánh giá của giáo viên và học sinh, đa
phần còn mang tính chất luyện tập, thiếu tình huống giao tiếp được lấy từ những
chủ đề gần gũi, thiết thực với cuộc sống và thực tế giao tiếp của các em.
Tình huống giao tiếp phải phù hợp với đặc điểm tâm lí và kinh nghiệm
sống của học sinh, có ích cho học sinh trong cuộc sống.
Tình huống đưa ra phải phù hợp với đặc điểm tâm lí và kinh nghiệm sống của
học sinh, và đặc biệt là phải thật sự có ích cho các em. Tình huống quá xa lạ sẽ
đưa người học đến ngõ cụt; họ sẽ lúng túng, thậm chí còn gây ra phản ứng
không có lợi cho các giờ học tiếp theo.
Tình huống phải vừa sức với học sinh.
Nếu tình huống đưa ra quá sức đối với học sinh, các em sẽ không có đủ
vốn sống và kinh nghiệm để giải quyết, dẫn đến tình trạng chán nản, im lặng.
Ngược lại, tình huống quá dễ cũng làm cho người học không tích cực, hứng thú.
Tình huống đưa ra phải vừa sức với học sinh, nhưng phải chứa đựng những vấn
đề mâu thuẫn với những gì học sinh đã biết, đòi hỏi các em phải cố gắng mới
hoàn thành; có như vậy mới kích thích được sự tìm tòi, sáng tạo của người học.
Tình huống cũng không nên dài dòng, khó hiểu khiến giáo viên phải mất nhiều
thì giờ giảng giải, dễ gây ức chế cho người học. Giáo viên nên cân nhắc, lựa
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status