Sử dụng một số dạng bài tập hóa học để phát triển năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh tại trường THPT tĩnh gia 4 - Pdf 44

Mục lục
Trang

1. Mở đầu……………………………………………...

1

1.1. Lí do chon đề tài………………………………….

1

1.2. Mục đích nghiên cứu……………………………..

1

1.3. Đối tượng nghiên cứu…………………………….

1

1.4. Đối tượng nghiên cứu…………………………….

1

1.5. Những điểm mới………………………………….
2.1. Cơ sở lí luận……………………………………...
2.2. Thực trạng………………………………………..
2.3. Giải pháp…………………………………………
2.4. Hiệu quả………………………………………….
3. Kết luận, kiến nghị…………………………………

2

dục là phát triển tư duy cho học sinh ở mọi bộ môn, trong đó có bộ môn hoá
học. Hoá học là môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết, vì thế bên cạnh việc
nắm vững lý thuyết, người học cần phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo mọi
vấn đề thông qua hoạt động thực nghiệm, thực hành giải bài tập.
Bài tập hoá học là phương tiện cơ bản để dạy học sinh tập vận dụng kiến
thức hoá học vào thực tế đời sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học. Kiến
thức học sinh tiếp thu được chỉ có ích khi sử dụng nó. Bài tập hoá học là một
trong những phương tiện có hiệu quả để giảng dạy môn hoá ở trường THPT,
tăng cường định hướng tư duy sáng tạo của học sinh.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Ở bất cứ công đoạn nào của quá tình dạy học đều có thể sử dụng bài tập.
Khi dạy học bài mới có thể dùng bài tập vào bài, để tạo tình huống có vấn đề, để
chuyển tiếp từ phần này sang phần kia, để củng cố bài, hướng dẫn học sinh học
ở nhà. Đặc biệt khi ôn tập, củng cố, luyện tập và kiểm tra - đánh giá thì việc sử
dụng bài tập là một trong các phương pháp quan trọng để nâng cao chất lượng
dạy học bộ môn. Đối với học sinh giải bài tập là một phương pháp học tập tích
cực. Thông qua việc giải bài tập giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức,
năng lực phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề và năng lực tư duy logic, biện
chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo và còn nhiều đức tính cần
thiết khác. Bên cạnh đó nhiều bài tập hoá học còn rèn luyện cho học sinh nhiều
kĩ năng cần thiết như kĩ năng thực hành thí nghiệm hoá học như lắp ráp thí
nghiệm, quan sát và giải thích hiện tượng.
Từ thực tiễn trên để giúp cho công việc giảng dạy đạt hiệu quả tốt hơn và
phát huy được tính tích cực của học sinh thì việc xây dựng và sử dụng các bài
tập là rất cần thiết cho học sinh THPT Tĩnh Gia 4. Vì vậy với những lý do ở trên
và để giúp các em tiếp cận và học tốt môn hoá học tôi đã chọn đề tài sau
“ Sử dụng một số dạng bài tập hoá học để phát triển năng lực tư duy sáng tạo
cho học sinh tại trường THPT Tĩnh Gia 4”
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài sáng kiến kinh nghiệm là học sinh lớp 12 (gồm các

cũng nâng cao chất lượng dạy và học tại trường THPT Tĩnh Gia 4 tạo điều kiện
để các em “phát triển năng lực tư duy sáng tạo” giúp các em ngày càng hoàn
thiện bản thân theo tiêu chí “đức, trí, thể, mĩ” của một học sinh THPT.
2.2. Thực trạng vấn đề
Những buổi đầu tôi tiếp xúc với học sinh lớp 12C1, 12C3, 12C5, 12C6 nhận
thấy các em còn rất yếu về tư duy sáng tạo bộ môn học nói riêng cũng như các
bộ môn học khác nói chung. Chính vì thế tôi đã tiến hành khảo sát các em xem
chất lượng bộ môn học như thế nào để điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù
hợp với từng đối tượng học sinh.
Kết quả thống kê:
Loại giỏi
Loại khá
Loại TB
Loại yếu
Lớp
SL
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
12C1
38
0
0
7
18,4 21

phương pháp này vào giảng dạy cho học sinh THPT Tĩnh Gia 4 trong năm học
2016 - 2017. Nhằm nâng cao năng lực tư duy và sáng tạo đồng thơi nâng cao
chất lượng giáo dục môn học đạt kết quả cao hơn.
2.3. Giải pháp
2.3.1. Tư duy, sáng tạo
a. Điều kiện để có tư duy, sáng tạo
- Kiến thức: Sáng tạo là vận động từ cái cũ đến cái mới, nên tư duy phải linh
hoạt, mềm dẻo trên cơ sở thông hiểu sâu sắc bản chất của các khái niệm, định
luật, các qui luật tương tác giữa các chất và các quá trình hóa học, chứ không
3


hiểu một cách hình thức (hiểu hình thức thì tư duy rất cứng nhắc không linh
hoạt được).
- Phương pháp khoa học: Phải có năng lực độc lập trong tư duy và trong hành
động. Tính linh hoạt và sáng tạo của tư duy liên quan mật thiết với độc lập của
tư duy. Độc lập ở trình độ cao dẫn đến sáng tạo, độc lập là tiền đề cho sáng tạo.
b. Phát triển tư duy hóa học cho học sinh
Việc phát triển tư duy cho học sinh trước hết là giúp cho học sinh nắm vững
kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành qua đó mà
kiến thức học sinh thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động hơn. Học sinh
chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của họ được phát triển và nhờ sự
hướng dẫn của giáo viên mà học sinh biết phân tích, khái quát tài liệu có nội dung
sự kiện cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết.
Tư duy càng phát triển thì càng có nhiều khả năng lĩnh hội tri thức một cách
nhanh chóng, sâu sắc và khả năng vận dụng tri thức càng linh hoạt, có hiệu quả
hơn. Như vậy sự phát triển tư duy của học sinh được diễn ra trong quá trình tiếp
thu và vận dụng tri thức. Do đó hoạt động giảng dạy cần phải tập luyện cho học
sinh khả năng tư duy sáng tạo qua các khâu của quá trình dạy học
2.3.2. Bài tập hóa học

cách và lựa chọnGiải
cách tốt nhất. Kiểm tra
cứu đề
Cách giải
+ Giúp học sinh rèn luyện sự nhạy bén với các tình huống, làm quen với việc
giải quyết nhanh gọn, là đức tính cần có với con người trong thời đại mới
2.3.3. Mối quan hệ giữa bài tập hóa học và rèn luyện tư duy sáng tạo
Quan sát

Trí nhớ

So sánh

Trừu tượng

Khái quát

Phê phán

Tổng hợp

4
Tư duy phát triển


2.3.4. Vận dụng
a. Dạy học sinh các kiến thức cơ bản để giải nhanh một bài toán.
Giáo viên dạy cho học sinh vận dụng các định luật
+ Định luật bảo toàn khối lượng
+ Định luật bảo toàn điện tích

24 )
Cách giải thông thường: Các em tiến hành viết PTHH, đặt ẩn số tính khối lượng
của từng muối sau đó tính tổng khối lượng.
PTHH: Na2CO3 + BaCl2 → BaCO3 ↓ + 2NaCl ( 1)
x
x
2x
K2CO3 + BaCl2 → BaCO3 ↓ + 2KCl ( 2)
y
y
2y
Đặt số mol Na2CO3 là x, K2CO3 là y.
39,4
Số mol nBaCO3 = 197 = 0,2 mol
106 x + 138 y = 24,4
 x = 0,1
⇒ 
Theo bài ra ta có hệ phương trình: 
 x + y = 0,2
 y = 0,1

Khối lượng muối tạo thành trong dung dịch là:
mmuối = 0,1 x 2 x 58,5 + 0,1 x 2 x 74,5 = 26,6 gam.
=> Đáp án ( C )
Để giải bài tập này một cách ngắn gọn hơn ta có thể dạy học sinh áp dụng định
luật bảo toàn khối lượng như sau:
Muối cacbonat + BaCl2 → BaCO3 ↓ + muối clorua
Nhận thấy : số mol bariclorua = số mol kết tủa.
Khối lượng muối clorua:
mmuối = mhh + mBaCl2 - mBaCO3



( Trích đề thi tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2012 )
1,12

Cách giải thông thường: Số mol H2 = 22,4 = 0,05 mol
Gọi số mol của Mg là x, Zn là y
PTHH: Mg + H2SO4 → MgSO4 + H2 ↑
x
x
x
Zn + H2SO4 → ZnSO4 + H2 ↑
y
y
y
Lập phương trình về khối lượng của hai kim loại, l ập phương trình về số mol H2
24 x + 65 y = 2,43
 x = 0,02
⇒ 
 x + y = 0,05
 y = 0,03

Ta có hệ phương trình: 

Khối lượng muối trong dung dịch là:
mmuối = 0,02 x 120 + 0,03 x 161= 7,23 (g)
=> Đáp án D.
Để giải bài này ngắn gọn hơn và nhanh hơn ta có thể hướng dẫn học sinh phát
hiện ra vấn đề như sau:
2M +n H2SO4 → M2(SO4)n + nH2

D. 90 ml
( Trích phương pháp giải nhanh trắc nghiệm hóa vô cơ – Phạm
Đức Bình, ThS.Lê Thị Tam, NXB Đại học sư phạm, 2010, trang
32 )
7


Cách giải thông thường:
Gọi số mol các chất Mg, Cu, Al lần lượt là: x, y,z.
Ta có PTHH: 2Mg + O2 →
2MgO
x mol
x mol

2Cu + O2
2CuO
y mol
y mol

4Al + 3 O2
2Al2O3
z mol

1
z mol
2

→ MgCl2 + H2O
MgO + 2HCl
x

VHCl =

=

1,2
=0,075 mol.
16

nH+ = 2nO = 2 x 0,075 = 0,15 mol

n
0,15
=
= 0,075 ( lít) = 75 ml
CM
2
⇒ Đáp án C

Bài tập áp dụng:
1. Nung 2,23 gam hỗn hợp X gồm các kim loại Fe, Al, Zn, Mg trong oxi, sau
một thời gian thu được 2,71 gam hỗn hợp Y. Hòa tan hoàn toàn Y vào dung dịch
HNO3 (dư), thu được 0,672 lít khí NO (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Số mol
HNO3 đã phản ứng là
A. 0,12
B. 0,14
C. 0,16
D. 0,18
( Trích đề thi tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2013 )
Giải: Ta có: nHNO3 = 2nO (oxit) + 4nNO =


1
( 2 nCO2 + nH2O - 2nancol)
2
1
nO2 = (2. 0,5 + 0,7 – 0,2.2) = 0,65 mol ⇒ V = 14,56 lít
2

nO2 =

=> Đáp án A
3. Thổi một luồng khí CO dư đi qua ống nghiệm đựng hỗn hợp m gam hai oxit
Fe3O4 và CuO nung nóng đến khi phản ứng hoàn toàn thu được 2,32 g hỗn hợp
kim loại. Khí thoát ra được đưa vào bình đựng dung dịch Ca(OH) 2 dư thấy có 5
gam kết tủa trắng. Khối lượng hỗn hợp hai oxít là
A. 3,12 g
B. 3,21g
C. 4 g
D. 4,2 g
( Trích phương pháp giải nhanh trắc nghiệm hóa vô cơ – Phạm
Đức Bình, ThS.Lê Thị Tam, NXB Đại học sư phạm, 2010, trang
33 )
Nhận xét: Bài toán khử oxit kim loại bằng các chất khử CO( H 2) thì CO( H2)
chiếm oxi của oxit kim loại ra khỏi oxit. Mỗi phân tử CO( H 2) chỉ chiếm được 1
mol O ra khỏi oxit.
Khi đó :
nO (Oxit) = nCO=nCO2
m0xit = mkl + mO
Học sinh giải quyết vấn đề như sau:
nO (Oxit) = nCO=nCO2 = nCaCO3 =


=> Đáp án A
9


Dạng 2: Sử dụng bài tập thực tiễn
Hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm do đó dạy và học hóa học
không chỉ dừng lại ở khả năng truyền đạt và lĩnh hội kiến thức. Hóa học là một
môn khoa học vừa lí thuyết vừa thực nghiệm với nhiều kiến thức trừu tượng và
được ứng dụng rộng rãi trong đời sống mà sử dụng bài tập hoá học để phát triển
năng lực tu duy sáng tạo cho học sinh THPT, phải biết dạy các em học hoá học
còn được ứng dụng thực tế rất nhiều. Giúp các em có thái độ học tập đúng đắn,
phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo, lòng ham học, ham hiểu biết,
năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
Hiện nay bài tập về thực tiễn còn ít vậy cũng ít được sử dụng. Đây là bài
tập mang tính thực tiễn, ứng dụng vào đời sống hàng ngày gắn liền với kiến thức
các em đã học.
Sau đây là một số ví dụ
Ví dụ 1: Axit fomic co trong nọc kiến. Khi bị kiến cắn, nên chon cách nào sau
đây bôi vào vết thương để giảm sưng tấy
A. Vôi tôi
B. Giấm ăn
C. Nước
D. Muối ăn
( Trích đề thi THPT quốc gia năm 2016 )
Nhận xét: Để giải bài tập này đòi hỏi học sinh hiểu và có kĩ năng suy luận tại
sao lại bôi vôi tôi. Và vôi tôi có tính kiềm vậy dùng để trung hoà axit.
Giải thích: Để giải thích cách làm đó, các em cần biết khi ong, muỗi, kiến đốt
chúng tiết ra một chất hoá học đó là axit fomic( HCOOH). Chất này làm cho
chúng ta bị ngứa và nhức. Khi bôi vôi tôi Ca(OH) 2 lên chỗ da bị đốt, Ca(OH)2 sẽ
tác dụng với axit fomic ( HCOOH) theo phương trình hoá học

sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy
nước, sau đó phân bố đều trong toàn bộ dung dịch. Như vậy khi có phản ứng xảy
ra, nhiệt lượng sinh ra được phân bố đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ
không làm cho nước sôi lên một cách quá nhanh. Một chú ý thêm là khi pha
loãng axit sunfuric bạn luôn luôn nhớ là " phải đổ từ từ " axit vào nước và
không nên pha trong các bình thủy tinh. Bởi vì thủy tinh sẽ dễ vở khi tăng nhiệt
độ khi pha.
Ví dụ 4: Vì sao khi ăn trái cây không nên đánh răng ngay ?
( Sưu tầm trên Internet )
Giải thích: Vì chất chua (tức axit hữu cơ) có trong trái cây sẽ kết hợp với
những thành phần trong thuốc đánh răng theo bàn chải sẽ tấn công các kẽ răng
và gây tổn thương cho lợi. Bởi vậy người ta đợi đến khi nước bọt trung hòa
lượng axit trong trái cây, nhất là táo, cam, nho, chanh
Ví dụ 5: Vì sao người ta dùng tro bếp để bón cho cây ?
( Sưu tầm trên Internet )
Giải thích: Trong tro bếp có chứa muối K2CO3 cung cấp nguyên tố kali cho cây.
Ví dụ 6:Vì sao ta hay dùng bạc để "đánh gió" khi bị bệnh cảm ?
( Sưu tầm trên Internet )
Giải thích: Khi bị bệnh cảm, trong cơ thể con người sẽ tích tụ một lượng khí
H2S tương đối cao. Chính lượng H2S sẽ làm cho cơ thể mệt mỏi. Khi ta dùng Ag
để đánh gió thì Ag sẽ tác dụng với khí H2S. Do đó, lượng H2S trong cơ thể giảm
và dần sẽ hết bệnh. Miếng Ag sau khi đánh gió sẽ có màu đen xám:
4Ag + 2H2S + O2 → 2Ag2S + 2H2O
Ví dụ 7: Tại sao khi đánh phèn chua vào nước thì nước lại trở nên trong?
( Sưu tầm trên Internet )
Giải thích: Công thức hóa học của phèn chua là muối sunfat kép của nhôm và
kali ở dạng tinh thể ngậm 24 phân tử nước: K2SO4.Al2(SO4)324H2O. Do khi đánh
phèn trong nước, phèn tan ra tạo kết tủa Al(OH)3, chính kết tủa keo này đã dính
kết các hạt đất nhỏ lơ lửng trong nước đục thành các hạt đất to hơn, nặng và
chìm xuống làm nước trong. Nên trong dân gian có câu:

(Trích đề thi minh họa của bộ GD-ĐT lần 1 năm 2016-2017)
Giải thích: Khí cacbonic CO2 trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những
tia hồng ngoại (tức là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có
bước sóng từ 50000 đến 100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những bức
xạ nhiệt phát ra ngược lại từ mặt đất có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO 2 hấp
thụ mạnh và phát trở lại Trái Đất làm cho Trái Đất ấm lên. Theo tính toán của các
nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO2 trong khí quyển tăng lên gấp đôi so với hiện
tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên 4oC.
Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO2 ở trong khí quyển tương đương với lớp
thủy tinh của các nhà kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện
tượng làm cho Trái Đất ấm lên bởi khí CO2 được gọi là hiệu ứng nhà kính.
=> Đáp án C
2. Những người đau dạ dày do dư axit người ta thường uống trước bữa ăn một
loại thuốc chứa
A. ( NH4)2CO3
B. Na2CO3
C. NH4HCO3
D. NaHCO3
Giải thích: Sử dụng kiến thức bài 25 : Kim loại kiềm và hợp chất quan trọng
của kim loại kiềm – sách giáo khoa hóa học 12
=> Đáp án D
3. Chất nào sau đây được dùng làm bột nở để làm bánh?
A. ( NH4)2CO3
B. Na2CO3
C. NH4HCO3
D. NaHCO3
Giải thích: Sử dụng kiến thức bài 11 : Amoniac và muối amoni – sách giáo
khoa hóa học 11
=> Đáp án C
12

(Trích đề thi minh họa của bộ GD-ĐT lần 2 năm 2016-2017)
Giải thích: Sử dụng kiến thức bài 45 : Hóa học và vấn đề môi trường – sách
giáo khoa hóa học 12
=> Đáp án B
7. Khí sinh ra trong trường hợp nào sau đây không gây ô nhiễm không khí?
A. Quá trình đun nấu, đốt lò sưởi trong sinh hoạt.
B. Quá trình quang hợp của cây xanh.
C. Quá trình đốt nhiên liệu trong động cơ ô tô.
D. Quá trình đốt nhiên liệu trong lò cao.
(Trích đề thi minh họa của bộ GD-ĐT lần 3 năm 2016-2017)
Giải thích:
A. C + O2 → CO2
B. 6 CO2 + 12 H2O → C6H12O6 + 6 O2 + 6 H2O
C. Bao gồm các khí CO (cacbon oxit), HC (hyđrôcacbon) và NOx (nitơ oxit) …
D. Quá trình đốt cháy nhiên liệu sinh ra các khí độc như H2S, NOx, SO2, CO…
=> Đáp án B
8. Đá vôi là nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên, được dùng làm vật liệu xây dựng,
sản xuất vôi,... Nung 100 kg đá vôi (chứa 80% CaCO3 về khối lượng, còn lại là
tạp chất trơ) đến khối lượng không đổi, thu được m kg chất rắn. Giá trị của m là
A. 80,0.
B. 44,8.
C. 64,8.
D. 56,0.
(Trích đề thi minh họa của bộ GD-ĐT lần 3 năm 2016-2017)
=> Đáp án C
9. Trường hợp nào sau đây được coi là môi trường chưa bị ô nhiễm ?
A. Nước trong ruộng lúa có chứa khoảng 1% thuốc trừ sâu và phân bón hóa học.
B. Trong đất chứa các độc tố như asen, sắt, chì,... quá mức cho phép.
13


H2S, Cl2, CH3NH2 khi chất lỏng B là
a) H2O
b) NaOH
c) Dung dịch Br2
d) Dung dịch Br2 trong CCl4
Nhận xét: Giải bài tập này đòi hỏi học sinh hiểu và có kĩ năng phân tích mối
quan hệ giữa hiện tượng quan sát và bản chất của thí nghiệm: chất lỏng B phun
vào bình cầu chứng tỏ khí A trong bình cầu phải dễ hòa tan trong B hoặc tác
dụng với B tạo ra chất lỏng trên làm cho áp suất trong bình giảm mạnh so với áp
14


suất khí quyển làm cho nước phun vào bình cầu. Từ đó căn cứ vào tính chất vật
lí và tính chất hóa học để xác định các khí đó.
Giải:
a. Chất lỏng B là nước thì các khí trong bình cầu A là những khí những dễ tan
trong nước vậy A là: NH3, HCl, CH3NH2.
b. Chất lỏng B là dung dịch NaOH thì các khí trong bình cầu A là những khí có
khả năng phản ứng với NaOH đó là: HCl, CO2, SO2, H2S, Cl2.
c. Chất lỏng B là dung dịch Brom trong dung môi nước thì các khí trong bình A
là những khí có khả năng phản ứng với bom trong nước đó là: SO 2, H2S, C2H4,
C2H2.
d. Chất lỏng B là dung dịch Brom trong CCl 4 thì các khí trong bình cầu là C2H4,
C2H2.
Ví dụ 2: Trong phòng thí nghiệm, bộ dụng cụ như hình vẽ dưới đây có thể dùng
điều chế những chất khí nào trong số các khí sau: Cl 2, O2, NO, NH3, SO2, CO2,
H2, C2H4. Giải thích.

Phân tích: Bài tập này đòi hỏi học sinh có kĩ năng phân tích để hiểu rõ tác dụng
của các bình trên và hiểu được trình tự lắp các dụng cụ thí nghiệm.


t
→ NaCl + NH 3 + H 2O
A. NH 4Cl + NaOH 
H SO
,t
→ C2 H 4 + H 2O
B. C2 H5OH 
t
→ NaHSO 4 + HCl
C. NaCl(rắn) + H2SO4(đặc) 
CaO ,t
→ Na 2 CO3 + CH 4
D. CH3COONa(rắn) + NaOH(rắn) 
Phân tích: tương tự như ở ví dụ 3
=> Đáp án B
Ví dụ 5. Cho hình vẽ mô tả thí nghiệm điều chế Cl2 từ MnO2 và dung dịch HCl.
Khí Cl2 sinh ra thường có lẫn hơi nước và hidroclorua. Để thu được khí Cl 2 khô
thì bình (1) và bình (2) lần lượt đựng chất nào trong các chất sau đây: dung dịch
Ca(OH)2, dung dịch NH3, dung dịch KMnO4 , H2O, H2SO4 đặc. Giải thích.
2

4

0

0

0


C. X là clo.
(Trích đề thi thử của sở GD-ĐT Kiên Giang năm 2016-2017)
Phân tích: tương tự như ở ví dụ 3
=> Đáp án C.
3. Thực hiện thí nghiệm điều chế khí X, khí X được thu vào bình tam giác theo
hình vẽ sau:

17


Thí nghiệm đó là
A. Cho dung dịch HCl vào bình đựng bột CaCO3.
B. Cho dung dịch H2SO4 đặc vào bình đựng lá kim loại Cu.
C. Cho dung dịch H2SO4 loãng vào bình đựng hạt kim loại Zn.
D. Cho dung dịch HCl đặc vào bình đựng tinh thể K2Cr2O7.
(Trích đề thi minh họa của bộ GD-ĐT lần 3 năm 2016-2017)
Phân tích: tương tự như ở ví dụ 3
=> Đáp án C.
4. Hình vẽ sau đây mô tả thí nghiệm điều chế chất hữu cơ Y:

Phản ứng nào sau đây xảy ra trong thí nghiệm trên?
A. 2C6H12O6 + Cu(OH)2 → (C6H11O6)2Cu + H2O
H2SO4
B. CH3COOH + C2H5OH
CH3COOC2H5 + H2O
C. H2NCH2COOH + NaOH → H2NCH2COONa + H2O
D. CH3COOH + NaOH → CH3COONa + H2O
(Trích đề thi minh họa của bộ GD-ĐT lần 1 năm 2016-2017)
=> Đáp án B.
2.4. Hiệu quả

16
38,1 4
9,5
12C5
41
6
14,6 12
29,3 17
41,5 6
14,6
12C6
43
5
11,6 10
23,3 21
48,8 7
16,3

18


Việc giúp các em phát triển năng lực tư duy sáng tạo không chỉ giúp các
em có phương pháp làm bài tốt mà còn góp phần phát triển nhiều đức tính cần
thiết khác trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Các lớp thực nghiệm bao gồm 12C1, 12C3, 12C5, 12C6 đều có sự tiến bộ về
số lượng và chất lượng nhất là số lượng học sinh yếu giảm đáng kể cũng như sự
tăng về chất lượng học sinh giỏi bộ môn đây là điểm đáng mừng giúp cho giáo
viên tự tin khi triển khai rộng rãi cho các khối lớp nhằm nâng cao chất lượng
môn học của minh lên đay là hệ qảu của việc phát triển năng lực tư duy sáng tạo
cho học sinh giúp các em tự tin hơn trong việc học các môn khoa học tự nhiên

minh, bài tập có nhiều cách giải, bài tập có nhiều trường hợp xảy ra ... để kích
thích sự phát triển tư duy và óc thông minh, sáng tạo của học sinh.
+ Giáo viên cần chú ý rèn cho học sinh giải nhanh, thành thạo các bài tập
cơ bản bằng những lí giải cụ thể cho mỗi bước suy luận và mỗi phép toán nhằm
phát triển năng lực tư duy cho học sinh.
19


XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 25 tháng 5 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
NGƯỜI THỰC HIỆN

Trịnh Thị Tâm
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các bộ sách giáo khoa hóa học lớp 10, 11,12 ( năm 2007 )
2. Đề thi tuyển sinh đại học và cao đẳng ( năm 2012, 2013 )
3. Đề thi THPT quốc gia ( năm 2016 )
4. Đề thi minh họa của bộ GD-ĐT năm 2016-2017( lần 1, lần 2, lần 3)
5. Đề thi thử một số trường THPT và sở GD-ĐT năm 2016-2017
6. Đồ Xuân Hưng. Hướng dẫn giái nhanh các dạng bài tập trắc nghiệm hóa học
hữu cơ ( năm 2008)
7. Nguyễn Chí Linh. Luận văn thạc sĩ: “Cách xây dựng các câu trắc nghiệm có
cách giải nhanh dùng để rèn trí thông minh cho học sinh”.
8. . Thư viện, tài liệu
9. Tiến sĩ Cao Cự Giác. Bài tập lí thuyết và thực nghiệm hóa học vô cơ ( tái bản
lần thứ hai, NXB Giáo dục Việt Nam )


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status