Thiết kế hệ thống bài tập tiếng việt 8 nhằm phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ của học sinh - Pdf 46

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAN NHƯ QUỲNH

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT 8
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP

NGÔN NGỮ CỦA HỌC SINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHAN NHƯ QUỲNH

THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT 8
NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
NGÔN NGỮ CỦA HỌC SINH

Chuyên ngành: LL và PP dạy học bộ môn Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS. LÊ A


quan tâm, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài của mình.

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Tác giả luận văn

PHAN NHƯ QUỲNH

ii


MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan ................................................................................................... i
Lời cảm ơn ...................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ...................................................................................................... ii
Mục lục...........................................................................................................iii

Danh mục chữ cái viết tắt.......................................................................... iv
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
3. Lịch sử nghiên cứu ....................................................................................... 4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 9
5. Các phương pháp nghiên cứu...................................................................... 10
6. Cấu trúc luận văn ........................................................................................ 11
7. Dự kiến đóng góp của luận văn................................................................... 12
PHẦN NỘI DUNG........................................................................................ 13
Chương 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY
DỰNG VÀ HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI HỆ THỐNG BÀI TẬP ............ 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 84
PHỤ LỤC

iv


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

HS

Học sinh

THCS

Trung học cơ sở

TV

Tiếng Việt

SBT

Sách bài tập

SGK


được rất nhiều nước thực hiện và đạt được nhiều thành tựu không thể phủ nhận.
Tuy nhiên việc dạy học ở ta còn nặng về dạy học kiến thức ngôn ngữ, quá tải
với cả thầy và trò. Người ta đã sai lầm khi cho rằng sản phẩm của giáo dục là
những khái niệm, tri thức và sản phẩm của TV là hệ thống các khái niệm. Từ
đó dẫn đến có một lớp người hiểu được TV nhưng không thể sử dụng thành
thạo nó trong giao tiếp. Tác giả Lê A trong bài viết “Dạy Tiếng Việt là dạy một

1


hoạt động và bằng hoạt động” cho rằng: “Quá trình dạy học TV cho học sinh
(HS) cần tổ chức các hoạt động và nổi bật là dùng hoạt động ngôn ngữ để giao
tiếp” [3, tr62]. Theo quan điểm ấy ta xác định được nội dung dạy học TV là dạy
giao tiếp, đích hướng tới là giao tiếp và phương pháp hướng tới cho học sinh là
hoạt động thông qua giao tiếp. Lí luận dạy học hiện đại quan tâm đến năng lực
của người học. Hiện nay trong công cuộc đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới
mục tiêu môn học chương trình hướng vào năng lực. Điều đó có nghĩa là xem
học sinh phù hợp với năng lực nào, năng lực nào phù hợp với thực tế xã hội đòi
hỏi, trong đó xem năng lục nào là cần thiết, cốt lõi thì hình thành. Năng lực
hoạt động giao tiếp trở thành năng lực cơ bản trong dạy học môn TV. Lịch sử
hình thành và phát triển con người đều gắn với ngôn ngữ đặc biệt là trong các
hoạt động mang tính chất cộng đồng. Giao tiếp ở khắp mọi nơi, phổ biến rộng
rãi vì vậy mà nó trở thành thứ quan trọng thiết yếu với mọi người nói chung và
với HS nói riêng. Dạy học TV theo quan điểm giao tiếp gợi ý xác định nội
dung cơ bản của phân môn TV ở nhà trường phổ thông là hình thành năng lực
giao tiếp và nội dung chương trình là hoạt động giao tiếp: nghe – nói – đọc –
viết của HS. Chương trình hướng đến chuẩn bốn kĩ năng đồng thời cũng trang
bị cho HS những kiến thức về TV. Ngoài ra phải dạy cho HS những quy tắc
giao tiếp, ở đây không đơn thuần là quy tắc ngôn ngữ học mà là những quy tắc
tổng hợp phù hợp với các nhân tố giao tiếp tức là dạy HS những quy tắc xử lí

giao tiếp cũng chi phối trực tiếp từ mục tiêu, nội dung, phương pháp và khâu
kiểm tra đánh giá kết quả học tập TV của HS. Thực tế cho thấy những nội dung
vừa trình bày chưa có sự hiện diện trong hệ thống bài tập TV 8, GV chỉ chú ý
dạy lí thuyết, hệ thống bài tập cũng được tuyệt đối triển khai giống như trong
SGK mà không có sự bổ sung, sáng tạo và linh hoạt. Phương pháp giao tiếp
không được phát huy tác dụng trong khi GV hướng dẫn HS thực hành luyện
tập, các em không được trải nghiệm những tình huống giao tiếp cụ thể, gần gũi
trong cuộc sống cho nên giờ học chưa đạt được mục tiêu quy chuẩn của giờ
học. Dạy học TV theo quan điểm giao tiếp GV phải đưa HS của mình vào các
tình huống hoạt động cụ thể, gắn với thực tiễn thông qua các bài tập thực hành

3


giao tiếp thì mới giúp các em phát triển được năng lực giao tiếp, đáp ứng nhu
cầu của xã hội hiện đại.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học Tiếng Việt 8 từ các tài liệu dạy học đến cách dạy,
cách học, cách đành giá kết quả học tập cũng như kết quả học tập Tiếng
Việt của học sinh.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống bài tập và việc triển khai hệ thống bài tập theo quan điểm giao
tiếp trong quá trình dạy học Tiếng Việt ở lớp 8.
3. Lịch sử nghiên cứu
3.1. Những nghiên cứu về quan điểm giao tiếp trong dạy học Tiếng Việt
Tiếng Việt, với vai trò là một phân môn quan trọng của bộ môn Ngữ văn
trong nhà trường phổ thông, có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những tri thức
ngôn ngữ học, hệ thống TV, quy tắc hoạt động và những sản phẩm của nó trong
mọi hoạt động giao tiếp. Mặt khác, TV là một công cụ giao tiếp và tư duy nên

những vấn đề cần truyền đạt). Sau khi trình bày về các vấn đề trên, tác giả nhấn
mạnh: “Tri thức về tiếng Việt chỉ hoàn chỉnh và chắc chắn khi các em đã thực
sự vận dụng vào hoạtđộng giao tiếp, vì “giao tiếp là chức năng trọng yếu của
ngôn ngữ” [3, tr65]. Có thể nói bài viết này là một gợi ý tốt cho việc tổ chức
các hoạt động dạy học, lựa chọn sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy
học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp. Cũng trong tạp chí Ngôn ngữ số
4/2001, Nguyễn Minh Thuyết trao đổi về Mấy quan điểm cơ bản trong việc
biên soạn SGK TV (thử nghiệm) bậc tiểu học và bậc trung học cơ sở. Bài viết
này giới thiệu một số quan điểm cơ bản trong việc biên soạn hai bộ sách trên:
Quan điểm dạy giao tiếp; Quan điểm tích hợp; Quan điểm tích cực hóa hoạt
động học tập của HS. Mặc dù bài viết trên đã được công bố cách đây nhiều
năm, nhưng những quan điểm ấy vẫn còn có giá trị và có thể áp dụng vào việc
biên soạn SGK Ngữ văn, định hướng cho việc giảng dạy TV đúng với mục tiêu

5


của phân môn này. Vấn đề giao tiếp cũng được Bùi Minh Toán và Nguyễn
Ngọc San đề cập trong giáo trình Tiếng Việt (tập 3, Nxb Giáo dục, 2002) với
các nội dung cụ thể như: Các chức năng của ngôn ngữ - chức năng giao tiếp.
Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Các yếu tố của hệ thống ngôn ngữ trong
hoạt động giao tiếp: những sự biến đổi và chuyển hóa. Vai trò của các quan hệ
hệ thống trong hoạt động giao tiếp. Nguyên tắc hệ thống và quan điểm giao tiếp
trong dạy - học tiếng Việt. Bùi Minh Toán và Nguyễn Ngọc San khẳng định:
“Quan điểm giao tiếp trong việc dạy - học ngôn ngữ (TV) xuất phát từ đặc
trưng bản chất của đối tượng và phù hợp với đối tượng. (…) Ngôn ngữ (…) cần
phải hoạt động để thực hiện chức năng giao tiếp. Trong hoạt động giao tiếp,
ngôn ngữ vừa là phương tiện, vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sự giao
tiếp” [31, tr.231 - 232]. Bàn về “độ phổ biến” của quan điểm giao tiếp, Nguyễn
Minh Thuyết và Nguyễn Thị Ly Kha cho rằng: “Quan điểm giao tiếp được thể

là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ mục tiêu giảng dạy Tiếng Việt ở tất cả các cấp
trong nhà trường phổ thông hiện nay” [12, tr10] Tác giả bài viết tiến hành khảo
sát chương trình TV ở các cấp học để làm rõ vấn đề: “liệu nội dung của chương
trình có thực sự đảm bảo cung cấp đủ kiến thức để giúp các em hình thành và
rèn luyện tốt năng lực giao tiếp?” [12, tr10]. Tác giả có trình bày kết quả khảo
sát và kết thúc bài viết với vài lời nhận xét ngắn gọn. Một trong số những
người nghiên cứu về dạy TV trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp –
Lê Thị Bích Hồng – đã khẳng định sự cần thiết phải sử dụng tình huống giao
tiếp trong dạy Tiếng Việt: “Trong dạy học, để giúp HS tích cực chủ động, huy
động mọi vốn sống, tri thức, kinh nghiệm của mình vào hoạt động tìm kiếm tri
thức mới hay giải quyết các tình huống mới, tăng cường khả năng suy nghĩ độc
lập, sáng tạo, chủ động điều chỉnh nhận thức, lời nói và hành vi, GV cần xây
dựng các tình huống giao tiếp” [10, tr32]. Trong bài viết, tác giả đã đưa ra
những định nghĩa tương đối đầy đủ về tình huống giao tiếp, đồng thời xác định
các đặc điểm cơ bản cũng như những yêu cầu cần thiết của một tình huống giao
tiếp trong giờ học tiếng; từ cơ sở đó, tác giả mô tả khái quát quy trình thực hiện
một tình huống giao tiếp trong giờ dạy TV. Giáo trình Ngữ nghĩa học (dùng

7


cho GV và sinh viên ngành giáo dục tiểu học) (Nguyễn Thị Ly Kha, Vũ Thị
Ân, Nxb Giáo dục, 2008) có đề cập đến vấn đề dạy học nghĩa của từ, câu, đoạn
văn, văn bản theo quan điểm giao tiếp. Do mục đích và giới hạn của giáo trình,
những vấn đề về dạy nghĩa của từ, câu, đoạn văn, văn bản ở đây chỉ dừng lại ở
giới hạn dạy học cho HS tiểu học. Tuy nhiên, người quan tâm vẫn có thể tìm
thấy ở đây những định hướng, những gợi ý cho việc dạy học các đơn vị mang
nghĩa theo quan điểm giao tiếp cho HS trung học. Hoạt động giao tiếp với dạy
học Tiếng Việt ở tiểu học (Nxb Đại học Sư Phạm, 2009) là một giáo trình có
ích cho những GV, những người nghiên cứu quan tâm đến việc dạy TV trong

phục vụ cho việc phát triển khả năng giao tiếp cho HS. Dạy học TV sử dụng
phương pháp giao tiếp như là phương pháp tổ chức dạy học quan trọng nhất.
Phương pháp giao tiếp là phương pháp hướng dẫn HS vận dụng lí thuyết được
học vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm và
các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp” [13].
Những tài liệu trên có đề cập về quan điểm giao tiếp và có động chạm tới
việc thiết kế bài tập TV theo quan điểm giao tiếp. Tuy nhiên tất cả chỉ dừng lại
ở việc nghiên cứu lí thuyết, hoặc có luận văn đã triển khai nhưng nó lại chưa
đầy đủ và cụ thể ở một lớp học nào. Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn
đề tài: Thiết kế bài tập Tiếng Việt 8 theo định hướng phát triển năng lực giao
tiếp của học sinh. Những tài liệu trên là những cơ sở vững chắc giúp chúng tôi
thực hiện được luận văn này.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lí thuyết về quan điểm giao tiếp và thực tiễn dạy học Tiếng
Việt, kế thừa những thành quả đã đạt được, luận văn xậy dựng và hướng dẫn
thực hiện hệ thống bài tập Tiếng Việt ở lớp 8 theo quan điểm giao tiếp nhằm
góp phần nâng cao năng lực giao tiếp của học sinh
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc xây dựng và triển khai hệ
thống bài tập

9


- Bài tập và hướng dẫn triển khai hệ thống bài tập Tiếng Việt 8
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra và đánh giá khả năng thực thi và
hiệu quả của hệ thống bài tập
5. Các phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu và tổng kết lí thuyết

6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu,kết luận, phụ lục luận văn gồm các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc xây dựng và hướng dẫn
triển khai hệ thống bài tập
Trong chương này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu, tổng hợp những tài
liệu có liên quan đến bài tập, bài tập Tiếng Việt; quan điểm giao tiếp và sự thể
hiện của quan điểm giao tiếp trong bài tập. Tiếp đó chúng tôi tiến hành khảo sát
hệ thống bài tập TV trong SGK và SBT Ngữ văn 8; thăm dò ý kiến của GV và
HS về bài tập và việc áp dụng quan điểm giao tiếp trong quá trình dạy học .Từ
những nghiên cứu lí thuyết và việc khảo sát thực tế chúng tôi lấy đó làm tiền đề
vững chắc để bước vào nghiên cứu, thiết kế hệ thống bài tập Tiếng Việt 8 theo
định hướng phát triển năng lực giao tiếp của học sinh.
Chương 2: Thiết kế và hướng dẫn triển khai hệ thống bài tập Tiếng Việt 8
theo quan điểm giao tiếp.
Trong chương này chúng tôi tiến hành nghiên cứu nguyên tắc thiết kế bài
tập, thiết kế mô phỏng hệ thống bài tập Tiếng Việt cho học sinh và hướng dẫn
sử dụng hệ thống bài tập ấy.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trong chương này chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở 2 trường:
Trung học cơ sở (THCS) Bắc Sơn và THCS Phúc Thuận để kiếm chứng phần
nội dung đã nghiên cứu ở chương 2. Qua quá trình thực nghiệm chúng tôi đã
thu được một số kết quả tương đối khả quan: đa số học sinh học tập hăng hái,
tích cực chủ động trong học tập; các em đã thực sự thích thú khi được trải
nghiệm những tình huống giao tiếp trong thực tế, kết quả mà các em đạt được
sau khi dạy học thực nghiệm nhìn chung là tương đối. Điều đó khẳng định, việc

11


thiết kế bài tập Tiếng Việt 8 theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp của

hợp này tạo thành bài tập, nhưng chúng lại không phù hợp với nhau, thậm chí
mâu thuẫn với nhau, từ đó xuất hiện nhu cầu phải biến đổi chúng để khắc phục
sự không phù hợp hay mâu thuẫn giữa chúng
Tóm lại có thể hiểu bài tập là một hệ thống thông tin xác định bao gồm
những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học , đòi hỏi
người học phải có một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng
phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được
đưa ra.” [34, tr.223 – 225].
13


Bài tập có mối quan hệ mật thiết với câu hỏi. Câu hỏi là thuật ngữ dùng
để chỉ việc nêu vấn đề trong nói hoặc viết, đòi hỏi phải có cách giải quyết. Câu
hỏi được sử dụng phổ biến trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong dạy học.
Trong dạy học, câu hỏi mà giáo viên đưa ra là vấn đề mà giáo viên đã biết, học
sinh đã học hoặc dựa trên cơ sở những kiến thức đã học mà trả lời một cách
thông minh sáng tạo. Vì vậy câu hỏi trong dạy học thường mang yếu tố khám
phá hoặc khám phá lại dưới dạng một thông tin khác bằng cách cho học sinh
tìm ra các mối quan hệ, các quy tắc, các con đường tạo ra cách giải quyết mới.
Về mặt chức năng dạy học, câu hỏi và bài tập đều là một nhiệm vụ đặt ra cho
HS, là phương tiện để GV tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra kết quả
nhận thức rèn luyện kĩ năng kĩ xảo cho học sinh. Về mặt hình thức, câu hỏi chỉ
nêu yêu cầu mà học sinh cần trả lời, còn trong bài tập vừa có dữ liệu (điều kiện)
vừa có yêu cầu để giải quyết bài tập. HS phải căn cứ vào dữ liệu đã cho để tìm
ra yêu cầu xác đáng.
Môn học nào cũng vậy, để cụ thể hóa lí thuyết thì phải có thực hành. Đúng
như cha ông ta từ thời xa xưa đã có câu “học đi đôi với hành”, điều đó quả
không sai. Trong quá trình dạy học bài tập giúp học sinh nắm kiến thức sâu sắc
và bền vững hơn; có tác dụng rèn luyện, hình thành và phát triển kĩ năng kĩ xảo
cho các em; đây là phương tiện giáo dục tốt, có khả năng phát triển trí tuệ, tình

a) Nhưng đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những
rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến... Mặc dù non một năm ròng mẹ tôi không gửi
cho tôi lấy một là thư, nhắn người thăm tôi lấy một lời và gửi cho tôi lấy một
đồng quà.
b) Hai đứa mê nhau lắm. Bố mẹ đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng
gả. Nhưng họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn
cau, còn rượu,..cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc.
c) Tính ra cậu vàng cậu ấy ăn khỏe hơn cả tôi ông giáo a !
d) Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười

15


Như vậy, bài tập Tiếng Việt vừa là cách thức ôn tập củng cố tri thức lí
thuyết vừa là phương tiện giúp HS rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ
để ứng dụng chúng một cách thuần thục trong hoạt động giao tiếp hằng ngày.
1.1.2. Quan điểm giao tiếp và sự thể hiện của nó trong bài tập.
1.1.2.1.Quan điểm giao tiếp
Quan điểm giao tiếp là quan điểm dạy học xuất phát từ chức năng giao
tiếp của ngôn ngữ và hướng tới mục đích phát triển năng lực giao tiếp cho HS.
Dạy học TV dưới ánh sáng của quan điểm giao tiếp được thể hiện ở việc vận
dụng lý thuyết của quan điểm giao tiếp vào quá trình dạy học.
Theo tác giả Lê A quan niệm:“Dạy học Tiếng Việt là dạy hoạt động giao
tiếp, trong và bằng giao tiếp nhằm củng cố và nâng cao năng lực giao tiếp cho
học sinh” [3, tr62]. Định nghĩa này đã đề cập tới ba khía cạnh sau:
Thứ nhất, bàn về nội dung dạy học TV thể hiện ở “dạy học Tiếng Việt là
dạy hoạt động giao tiếp” bởi TV là phương tiện ngôn ngữ quan trọng nhất để
giao tiếp, khi nói tới ngôn ngữ là nói tời hoạt động giao tiếp và ngược lại.
Thứ hai, bàn về cách thức dạy học ở trường phổ thông: “dạy học Tiếng

lực giao tiếp.
Trước đây, theo quan điểm truyền thống thì dạy TV là dạy theo hướng tiếp
cận tri thức, hình thành hệ thống các khái niệm về TV. Quan điểm này cho rằng
làm sao để HS chiếm lĩnh được tri thức TV càng nhiều càng tốt, càng hiện đại
càng tốt. Đây là tư tưởng cực đoan khi cho rằng sản phẩm của giáo dục là các
khái niệm, tri thức và sản phẩm của TV là hệ thống khái niệm; từ đó tạo ra một
lớp người hiểu được TV nhưng không sử dụng thành thạo trong giao tiếp. Trải
qua một thời gian dài nghiên cứu tìm tòi các nhà nghiên cứu thấy rằng việc sử
dụng quan điểm giao tiếp trong dạy học TV nó như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt
quá trình học TV của học sinh, đồng thời nó căn cứ vào bản chất thực sự của bộ
môn: dạy Tiếng Việt là dạy giao tiếp.
Từ mục đích ấy, bài tập phải đưa được HS vào tình huống giao tiếp cụ thể
mà các em có thể hiểu được, tiếp cận được chứ không nên đưa ra những tình
huống xa rời thực tế khiến các em khó hình dung.

17


VD: Dạy bài: Từ tượng thanh, từ tượng hình.
Phân tích giá trị gợi hình tượng của các từ tượng hình và tượng thanh
trong đoạn văn sau:
Buổi sáng tinh mơ ngày chủ nhật Lan theo mẹ ra đồng gặt lúa. Cánh đồng
lúa vàng óng ả trong sương sớm. Gió thổi bông lúa đung đưa làm cho những
hạt sương dần rớt xuống. Xa xa, mấy bác nông dân lom khom gặt lúa.Trong làn
sương mờ ảo Lan nghe thấy người ta tíu tít nói chuyện với nhau.Tiếng cười
hahả, hô hố từ xa vang lại.Tiếng chim hót thánh thót.Lan thấy tâm hồn thật
nhẹ nhàng.
Việc GV đã đưa học sinh vào một tình huống giao tiếp cụ thể có nhân vật
giao tiếp có đích giao tiếp từ phân tích giá trị của các từ tượng thanh, từ tượng
hình trong tình huống ấy giúp học sinh thấy Tiếng Việt đơn giản và gần gũi với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status