THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP TIẾNG VIỆT VỀ CÂU
THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nói đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, người ta thường đòi hỏi trang thiết bị
hiện đại, phòng thí nghiệm, phương tiện nghe nhìn, v.v… và thường lại quên điều chính
yếu nhất. Đó là sự đổi mới trong tư duy và cách dạy của người thầy, cùng sự chủ động
hưởng ứng của người học. Từ ngàn xưa, Lão Tử đã nói: “Cái gì ta nghe ta quên, cái gì ta
thấy ta nhớ, cái gì ta làm ta biết”. Phải tự mình làm mới biết. Gần đây hơn, các nhà tâm lí
giáo dục đã đúc kết :
CHÚNG TA NHỚ NHỮNG GÌ TA
10 % Đọc
20 % Nghe
30 % Thấy
50 % Nghe và thấy (các phương tiện nghe nhìn)
80 % Nói (đối thoại với thầy, thảo luận nhóm.v.v)
90 % Nói và làm điều chúng ta suy nghĩ (đóng kịch, sắm vai,
thực tập trong phòng thí nghiệm hay hiện trường để áp
dụng điều đã học.v.v)
(Nguyễn Thị Oanh – Bắt đầu từ người thầy - Tuổi trẻ chủ nhật số 47/2003)
Những số liệu trên cho chúng ta thấy các phương tiện nghe nhìn có thể giúp cho
người học nhớ được 50 % nội dung kiến thức. Do đó, theo chúng tôi, vấn đề cốt lõi của đổi
mới phương pháp dạy học là con người – nhân tố quan trọng của quá trình dạy học. Chính
người học chủ động nói hay làm thì hiệu quả sẽ cao hơn nhiều. Với ý nghĩa đó, chúng tôi
cố gắng thực hiện đề tài “Thiết kế hệ thống bài tập tiếng việt về câu theo quan điểm giao
tiếp” với mong muốn thiết thực là góp phần định hướng cho bản thân và các đồng nghiệp
thêm một cách tiếp cận trong quá trình dạy học tiếng Việt.
2. Mục đích nghiên cứu
Giúp giáo viên và học sinh nhận thức đúng về ý nghĩa và tác dụng của việc dạy học
tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp. Đây được xem là quan điểm cơ bản nhất trong việc tổ
chức dạy học tiếng Việt ở nhà trường phổ thông. Quan điểm giao tiếp chi phối toàn bộ quá
sinh phổ thông cũng như việc dạy học tiếng Việt nói chung. Khi thiết kế bài tập tiếng Việt,
không nên lấy mục đích cung cấp và củng cố các tri thức ngôn ngữ học về tiếng Việt làm
cơ bản mà mục đích chính cần xác định là nhằm củng cố cho học sinh vốn tri thức nhất
định về tiếng Việt và kĩ năng sử dụng vốn tri thức ấy trong hoạt động giao tiếp. Trên cơ sở
ấy, việc thiết kế bài tập tiếng Việt cần đảm bảo những định hướng cụ thể dưới ánh sáng
của lý thuyết hoạt động giao tiếp như sau:
Trước hết, bài tập tiếng Việt phải gắn với hoạt động giao tiếp của học sinh. Cần đặt
bài tập tiếng Việt trong những hoạt động giao tiếp cụ thể để quan sát, thể nghiệm, đồng
thời sử dụng các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức để xây dựng các ngôn bản
trong bài tập tiếng Việt. Những hoạt động giao tiếp cụ thể có thể là những tình huống giao
tiếp học sinh có thể trực tiếp tham gia, có thể là những tình huống giao tiếp ngoài xã hội
2
mà học sinh đủ khả năng nắm bắt. Lấy ví dụ trong dạy học từ ngữ tiếng Việt. Từ tiếng Việt
trong hoạt động giao tiếp gồm 3 bình diện: ngữ âm và cấu tạo, nghĩa của từ, và chức năng
của từ. Nghĩa của từ tiếng Việt được ghi trong từ điển là những nghĩa hết sức khái quát và
trừu tượng. Thường thì nghĩa trong từ điển chỉ thể hiện được một trong ba thành phần
nghĩa: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái mà rất ít khi đảm bảo được cùng lúc
cả ba thành phần nghĩa này. Dạy nghĩa của từ tiếng Việt cho học sinh, hướng dẫn học sinh
mở rộng vốn từ không thể chỉ dạy bằng từ điển. Hệ thống bài tập tiếng Việt đặt từ trong
hoạt động giao tiếp nhằm làm cụ thể các nét nghĩa của từ. Không thể đặt ra một bài tập tiếng
Việt với yêu cầu: Hãy xác định nghĩa của từ "ăn" chung chung, mà phải là từ "ăn" trong một
ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, ví dụ:
ăn
(1)
: Mẹ nói với các con: "Khi ăn cơm, các con không nên cười đùa!"
ăn
(2)
: Người bán vé nói với mọi người ở cửa rạp chiếu phim:"Bộ phim này hiện
đang ăn khách nhất đấy!"
ăn
Đề tài quảng cáo là đề tài được xã hội quan tâm, ngôn ngữ và hình ảnh trong quảng
cáo luôn tác động trực tiếp tới các giác quan của mọi người, đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh.
Tuy nhiên, khi thiết kế bài tập tiếng Việt có liên quan tới những đề tài nhạy cảm, ngôn ngữ
chưa được trau chuốt, chọn lọc, người thiết kế cần có định hướng rõ cho học sinh biết nên
góp nhặt và học hỏi những gì và nghi ngờ, chối bỏ những gì khi tiếp cận và sử dụng những
ngữ liệu có trong giao tiếp xã hội đó.
Thứ ba, trong hệ thống bài tập tiếng Việt, cần phải chỉ rõ cho học sinh hướng giao
tiếp khi tiến hành áp dụng các tri thức tiếng Việt sẽ thực hành nhằm định hình trước cho
các em tác dụng của việc thực hiện các bài tập tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp của bản
thân. Điều này có nghĩa là: với một bài tập tiếng Việt cụ thể, sau khi thực hành, các em sẽ
rút ra hoặc củng cố một tri thức tiếng Việt hoặc một kĩ năng sử dụng tiếng Việt cụ thể. Tri
thức, kĩ năng ấy được các em sử dụng để nói và viết. Bài tập tiếng Việt được thiết kế dưới
ánh sáng của lý thuyết hoạt động giao tiếp sẽ phải giúp các em định hướng được: nói (viết)
với ai? về cái gì? trong hoàn cảnh nào?
Ví dụ: thiết kế hệ thống bài tập tiếng Việt cho phần dạy học về câu đặc biệt tiếng
Việt nhằm giúp cho học sinh biết cách sử dụng câu đặc biệt trong cuộc sống. Các ngữ liệu
được sử dụng khi thiết kế bài tập tiếng Việt nên là các câu đặc biệt như: "Vâng ạ.",
"Dạ."… khi nói với người lớn tuổi hơn, các câu nói được hiểu là luôn kèm theo kiểu giao
tiếp có văn hóa, trong những tình huống đặc biệt (các thông báo ở sân bay, nhà ga, văn
phòng, biển quảng cáo…). Các ngữ liệu phải thực tế, đảm bảo tính nghiêm túc, có văn hóa,
học sinh có thể áp dụng ngay vào trong thực tiễn giao tiếp của bản thân một cách hiệu quả.
Cuối cùng, bài tập tiếng Việt cần chỉ ra những nhiệm vụ giao tiếp cụ thể để định
hướng cho học sinh tạo lập những lời nói cụ thể. Khi thiết kế bài tập tiếng Việt cần quan
tâm tới các mối quan hệ xung quanh học sinh, chỉ rõ cho học sinh nhiệm vụ và cách giao
tiếp với từng đối tượng trong những hoàn cảnh, tình huống cụ thể. Ví dụ: Bài tập về việc
tạo lập văn bản là những đoạn của một bức thư. Viết cho người lớn tuổi hơn, văn bản ấy
đòi hỏi cần phải đảm bảo những bước nào, những nội dung thông tin gì. Viết cho bạn bè,
văn bản ấy yêu cầu thực hiện những nhiệm vụ đó ở mức độ nào. Mặt khác, mục đích học
tiếng Việt của học sinh rất cụ thể, bởi vậy, việc giúp cho học sinh tạo lập những ngôn bản
cụ thể phục vụ cho mục đích học tiếng Việt của học sinh là rất cần thiết. Thiết kế bài tập
(Ngữ văn 11 cơ bản), luyện tập thay đổi trật tự các thành phần của cụm từ và các thành
phần của câu , luyện tập về tách câu (Ngữ văn 11 – Nâng cao).
- Về bình diện ngữ nghĩa: bên cạnh bài học lí thuyết về nghĩa của câu (Ngữ văn 11
cơ bản và nâng cao), chương trình ngữ pháp tiếng Việt ở bậcTHPT hướng vào thực hành
luyện tập về nghĩa của câu, luyện tập về câu nghi vấn tu từ (Ngữ văn 11 – Nâng cao), thực
hành một số biện pháp tu từ cú pháp, thực hành về hàm ý (Ngữ văn 12)
5
Điểm qua các đơn vị bài học về ngữ pháp ở bậc câu trong chương trình THPT
chúng tôi nhận thấy rằng các đơn vị bài học đều hướng vào việc khảo sát và trình bày câu
trong hoạt động hành chức của nó. Các đơn vị bài học về ngữ pháp tiếng Việt ở bậc câu
không chỉ dừng lại ở việc nhận thức mô hình cấu tạo của câu như một cấu trúc tồn tại độc
lập, tách rời khỏi mối liên hệ với hoàn cảnh giao tiếp, với những câu khác trong ngôn bản,
mà còn khảo sát câu trong mối liên hệ với hoạt động hành chức. Việc dạy và học câu trong
mối quan hệ hành chức của nó chính là phục vụ cho các mục tiêu của tiếng Việt: không chỉ
cung cấp kiến thức, nâng cao nhận thức về các bình diện của câu, mà còn rèn luyện các kĩ
năng tạo câu trong các hoạt động nói và viết, giúp người học có thể tạo lập câu vừa đúng
với cấu tạo ngữ pháp bên trong, vừa thích hợp với việc thể hiện các nội dung ý nghĩa (nhận
thức, tư tưởng, tình cảm) định biểu lộ, lại vừa phù hợp với hoàn cảnh giáo tiếp và các câu
khác trong ngôn bản.
Mặt khác, theo quan điểm tích hợp trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn,
việc dạy và học tiếng Việt, trong đó có phần ngữ pháp tiếng Việt, còn chú ý đến mối quan
hệ giữa ngôn ngữ và văn học. Vì thế, việc dạy và học tiếng Việt còn nhằm mục đích bồi
dưỡng năng lực phân tích, thẩm định các giá trị văn chương, để thấy được cái đẹp, cái hay
của nó, đồng thời để lĩnh hội được hết các giá trị tư tưởng, tình cảm, lí tưởng thẩm mĩ của
các tác giả và các tác phẩm nghệ thuật. Đó là phần ngữ nghĩa của câu và của văn bản nghệ
thuật, trong đó có nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn.
Việc gắn với chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ văn chương còn được thể hiện ở
phần chương trình trình bày về sự lựa chọn trật tự sắp xếp các thành phần câu: thực hành
lựa chọn các bộ phận trong câu, luyện tập thay đổi trật tự các thành phần của cụm từ và
các thành phần của câu, thực hành một số kiểu câu trong văn bản,…Chính những sự lựa
phát hiện, củng cố, vận dụng … và được sắp xếp theo trình tự phù hợp với tiến trình của
tiết học. Khi thực hiện hệ thống bài tập này, giáo viên sẽ thực hiện tốt hơn vai trò hướng
dẫn, đôn đốc, động viên, giám sát… tức là chỉ đạo mọi hoạt động của lớp học.
Bên cạnh những ưu điểm trên, chúng tôi nhận thấy rằng hệ thống bài tập trong sách
giáo khoa về câu trong chương trình hiện hành chỉ mới dừng lại ở mức vận dụng những
kiến thức để phân tích, nhận diện, so sánh, đối chiếu, thay thế các yếu tố hay hoàn chỉnh
văn bản, sửa chữa lỗi… mà chưa có những bài tập yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức để
tạo lập một văn bản mới (đoạn văn) trong đó có sử dụng các kiến thức vừa học.
Trong phạm vi bài viết này, trên cơ sở vận dụng quan điểm dạy học tiếng Việt theo
định hướng giao tiếp, chúng tôi xin đi vào thiết kế hệ thống bài tập về câu theo quan điểm
giao tiếp trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 – ban cơ bản, cụ thể gồm những đơn vị bài học
như sau:
- Ngữ cảnh
- Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu
- Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản
- Nghĩa của câu
2.2. Thiết kế hệ thống bài tập về câu theo quan điểm giao tiếp
2.2.1. Nguyên tắc thiết kế hệ thống bài tập theo quan điểm giao tiếp
7
Theo quan điểm của lý thuyết hoạt động giao tiếp, hệ thống bài tập tiếng Việt được
xác định là phương tiện thực hành nhằm tạo dựng và phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt
của học sinh. Học sinh phổ thông ở các lứa tuổi khác nhau, trình độ khác nhau thì yêu cầu
về năng lực sử dụng ngôn ngữ cũng khác nhau, cách thể hiện các kĩ năng sử dụng ngôn
ngữ cũng rất khác nhau. Vì vậy, cần xuất phát từ hệ thống những kĩ năng sử dụng tiếng
Việt để thiết kế hệ thống bài tập tiếng Việt. Điều đó cũng có nghĩa là xuất phát từ bản chất
của một kĩ năng cụ thể để thiết kế một hệ thống bài tập tiếng Việt tương ứng.
Hiện nay, hầu hết hệ thống bài tập tiếng Việt ở các sách giáo khoa Ngữ Văn chương
trình phổ thông chủ yếu được dùng để minh họa lý thuyết về tiếng Việt mà học sinh vừa
học. Hệ thống bài tập tiếng Việt này nặng về thực hành ngôn ngữ học mà chưa thể hiện
được rõ nét các nguyên tắc giáo dục học trong dạy học thực hành tiếng Việt. Vì thế, khi
sửa chữa
Sơ đồ hệ thống bài tập về câu theo quan điểm giao tiếp
2.2.2.1. Bài tập nhận diện, phân tích
Đây là một bài tập cho sẵn một ngữ liệu và yêu cầu phân tích, xác định, nhận diện
một hiện tượng ngữ pháp đã có trong ngữ liệu, như: một yếu tố ngữ pháp, một kết cấu ngữ
pháp, một thành phần ngữ pháp…
Mục đích: Loại bài tập này có mục đích làm sáng tỏ và cũng cố, phát triển một
khái niệm ngữ pháp đã được tiếp thu từ bài học lí thuyết. Có thể, trong ngữ liệu cho sẵn
của bài tập, khái niệm được biểu hiện trong nhiều dạng, nhiều vẻ. Học sinh (HS) cần phải
dựa vào những đặc trưng cơ bản của khái niệm, hoặc dựa vào những câu hỏi định hướng
của giáo viên (GV) để nhận diện, phân tích khái niệm
Cấu tạo: Loại bài tập này thường gồm hai phần: phần trình bày yêu cầu, phần dẫn
ngữ liệu. Yêu cầu có thể được diễn đạt bằng nhiều cách như: tìm, xác định, phân tích, cho
biết, tìm hiểu, phân loại, thống kê… Đồng thời có thể kết hợp thêm các yêu cầu khác như
giải thích, so sánh, lí giải… các hiện tượng ngữ pháp.
Cách tiến hành: Với loại bài tập này, khi thực hành, giáo viên (GV) cần hướng
dẫn cho học sinh (HS) thực hiện các bước sau:
– Căn cứ vào đặc trưng của khái niệm ngữ pháp.
– Vận dụng vào ngữ liệu của bài tập để xác định đối tượng cần nhận diện, phân tích.
– Phân tích đối tượng tìm được để xác định đặc điểm của nó, xem nó có đáp ứng đặc
trưng của khái nịêm lí thuyết không. Từ đó củng cố thêm khái niệm.
Ví dụ: Để hình thành khái niệm Ngữ cảnh trong bài Ngữ cảnh (Ngữ văn 11 – ban cơ
bản), GV có thể thực hiện bằng cách tổ chức cho HS đọc, phân tích ngữ liệu trong những
tình huống cụ thể, từ đó rút ra khái niệm bằng hệ thống câu hỏi như sách giáo khoa đã thiết
kế.[3, 102]
Ngữ liệu 1: Nếu đột nhiên nghe được câu “Giờ muộn thế này mà họ chưa ra nhỉ?”
(ngữ liệu 1), chúng ta có thể hiểu như thế nào về những nội dung sau đây trong câu hỏi đó:
– Câu hỏi trên là của ai nói với ai? Đó là những người như thế nào và có quan hệ với
nhau ra sao?
9
pháp, vừa góp phần rèn luyện năng lực tạo lập các sản phẩm mới.
10
Cấu tạo: Loại bài tập này thường gồm hai phần: phần trình bày yêu cầu, phần dẫn
ngữ liệu. Yêu cầu có thể được diễn đạt bằng nhiều cách như: hãy chuyển đổi, sắp xếp các
câu sau đây theo một trình tự hợp lí (theo đề tài, hoặc theo một trình tự nào đấy mà đề bài
yêu cầu)
Cách tiến hành: Thực hiện loại bài tập này, cần chú ý đến các bước:
– Nắm vững yêu cầu của đề bài và hiểu rõ ngữ liệu đã cho (cần tiến hành phân tích
ngữ liệu và yêu cầu).
– Thực hiện đúng các yêu cầu chuyển đổi của đề tài cùng các điều kiện giới hạn (nếu
có).
– Kiểm tra lại sản phẩm mới theo yêu cầu luyện tâp và theo các chuẩn mực ngôn ngữ,
đồng thời so sánh ngữ liệu đã cho với sản phẩm mới để thấy sự giống nhau, khác
nhau và giá trị của chúng.
Ví dụ: Bài tập 1[3.194].
Đọc đoạn văn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu bên dưới.
“Hắn chỉ thấy nhục, chứ yêu đương gì. Không, hắn chưa từng được một người đàn
bà nào yêu cả, vì thế mà bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm
bạn được, sao lại chỉ gây kẻ thù?”
(Nam Cao, Chí Phèo)
a. Xác định câu bị động trong đoạn trích.
b. Chuyển câu bị động sang câu chủ động có nghĩa cơ bản tương đương.
c. Thay câu chủ động vào vị trí câu bị động và nhận xét về sự liên kết ý ở đoạn văn
đã có sự thay thế đó.
Như vậy, với những yêu cầu nêu trên, chúng tôi nhận thấy bên cạnh thao tác thực
hành nhận diện, phân tích (a), bài tập trên còn thực hiện thao tác chuyển đổi (b), chuyển
đổi và so sánh (c) giúp học sinh củng cố và nâng cao kiến thức về một số kiểu câu thường
dùng trong tiếng Việt: cấu tạo, tác dụng liên kết ý trong văn bản của chúng.
2.2.2.3. Bài tập tạo lập (sáng tạo)
Bài tập tạo lập là loại bài tập yêu cầu học sinh tự mình tạo nên (nói hoặc viết) sản
tập 1, 2, 3. Với hình thức học tập hợp tác trong nhóm nhỏ, HS có điều kiện tương tác, chia
sẻ kiến thức, kĩ năng, đáp ứng định hướng dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp.
c) Tạo lập sản phẩm chỉ dựa vào những yêu cầu nhất định
Loại bài tập này không có mẫu, cũng không có bộ phận nào cho trước, mà chỉ có
những yêu cầu về một số phương diện nào đó của sản phẩm: về quan hệ ngữ pháp, về
phương tiện ngữ pháp, về quan hệ ý nghĩa, về hoàn cảnh sử dụng… Có thể có nhiều mức
độ yêu cầu: từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp. Cho nên việc tạo lập sản phẩm phải
12