ô nhiểm môi trường thực trạng và giải pháp - Pdf 24

Đề tài nghiên cứu: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Với xu thế xã hội ngày càng phát triển cơ giới kỹ thuật ngày càng được
nâng cao thì việc ô nhiễm môi trường là điều không tránh khỏi. Với tình hình xã
hội hiện nay thì vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng và
nặng nề hơn. Ô nhiễm môi trường còn làm cho môi trường thay đổi tính chất của
môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường. Chất gây ô nhiễm là những nhân tố
làm cho môi trường trở nên độc hại. Sự ô nhiễm môi trường dẫn đến hậu quả rất
nghiêm trọng của các hoạt động tự nhiên như hoạt động núi lửa, động đất, lũ lụt,
bão,
Vì vấn đề ô nhiễm môi trường hiện là vấn đề nóng bổng trên toàn cầu,
được cả thế giới quan tâm và tìm cách để ngăn chặn việc ô nhiễm môi trường. Vì
nếu không ngăn chặn kòp thời thì sẽ gây ra những hậu quả mà cả nhân loại
không thể tưởng tượng được. Vì môi trường tự nhiên gồm đất, nước, không khí đó
là nền tảng sự sống của con người, nếu một trong hai yếu tố môi trường đó thì
ảnh hưởng đến đời sống con người.
Nội dung đã nêu ra ở trên, em chọn đề tài “ Ô nhiễm môi trường” để
thấy được những hậu quả của con người gây ra cho môi trường mà con người
gánh phải chòu do hậu quả chính mình gây ra là những trận bão lụt, động đất, núi
lửa làm tổn thất vật chất và tinh thần mà con người gây nên những biến động
trong xã hội. Con người và những sinh vật phải gánh chòu.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :
Ô nhiễm môi trường cho thấy được hậu quả của tác hại gây ô nhiễm môi
trường ảnh hưởng đến đời sống con người trở nên khó khăn trước những biến
đổi của môi trường do hậu quả của sự ô nhiễm môi trường và qua đó, trước
những tai biến do môi trường gây ra mà con người có sự hạn chế trong việc gây
ra các tác hại về môi trường và qua đó môi trường cần có trách nhiệm để cải
tạo cho môi trường ngày càng xanh, sạch đẹp và trong lành.
III. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU:
Là những vấn đề về việc gây ra tác hại ô nhiễm môi trường nó có thể
trực tiếp gây ra các tác hại đối với con người mà cần được khắc phục và tìm

đất, đất và nước giao nhau vì ô nhiễm một trong hai môi trường đó sẽ làm ô
nhiễm cả hai. Sau đó là môi trường không khí, trong môi trường đất các chất ô
nhiễm trong không khí khi lắng tụ sẽ rơi vào môi trường đất như mưa axít , bụi
kim loại từ môi trường đất. Ngoài ra còn có nhân tố chính gây nên ô nhiễm môi
trường đất như các chất thải nông nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu, các phế thải
sản phẩm và cây trồng, chất thải gia súc và tàn tích cây trồng. Trong đó cũng có
2
Đề tài nghiên cứu: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
những chất làm ảnh hưởng xấu và làm thoái hóa môi trường đất nếu vượt quá
mức tự làm sạch của đất nhưng cũng có chất làm cho đất phì nhiêu hơn.
Phân bón hóa học có tác dụng nâng cao năng xuất cây trồng nhưng cũng
có một số chất làm ô nhiễm môi trường đất như phân đạm, phân lân.Bởi vì khi
bón cho cây thì cây chỉ sử dụng hết 30% số còn lại một phần bò rửa trôi, một
phần nằm lại trong đất .Khi các loại phân đạm bám vào đất qua chuỗi các phản
ứng dưới tác dụng của một số loại vi khuẩn tạo thành NO
3
quá trình Nitrat hóa.
Một phần Nitrate được thực vật hấp thụ nhưng sự tích cao Nitrate trong hạt không
có lợi cho sức khỏe con người đặc biệt đối với trẻ em có thể gây thiếu máu phần
lớn còn lại ngấm xuống đất và đi vào vùng nước ngầm.Trong nước ngầm có lớn
10mg/1 N- O3 thì nước đó không được uống theo mức cho phép của USEPA cơ
quan bảo vệ môi trường của Mỹ.Tổ chức y tế khuyến cáo hàm lượng ni trate
trong rau không được cao quá 30mg/ kg tươi .Một người trong 24 giờ không nên
sử dụng 5mg / kg thể trọng . Ngoài ra nit rate còn làm tăng tính chua của đất.
Phân lân là yếu tố cần thiết cho cây rau, đậu.Nhưng với hàm lượng cao sẽ gây
chua cho môi trường đất vì bản thân trong phân lân thường chứa 10% acid tự do.
Mặc khác, các dạng phân bón hóa học đều là các muối của các acid . Vì vậy khi
hòa tan thường gây chua cho môi trường đất ảnh hưởng đến hệ sinh vật trong đó.
Phân hữu cơ nếu ủ đúng kỹ thuật trước khi bón và bón đúng liều lượng
thì không gây hại nhiều cho môi trường đất. Nhưng dùng phân bắc, nước tiểu

khi tiếp xúc môi trường đất . Trong phân động vật lại chứa nhiều giun sán . Con
người tiếp xúc với môi trường đất hoặc trong rể , lá rau không rửa sạch sẽ bò
nhiễm giun sán. Ngoài ra các chuồng trại chăn nuôi gia súc cần được xử lý đảm
bảo vệ sinh môi trường .
Tàn tích của cây trồng , của rừng trong điều kiện yếm khí tàn tích này
nhiều hơn với tỷ lệ C/N quá lớn sẽ gây nên hiện tượng phân giải yếm khí sinh ra
nhiều độc tố .VD như tàn tích trong ruộng khoai ngập nước thối sẽ gây nên mùi
thối khó chòu, sau khi cũ và lá tan rả sẽ gây nên hiện tượng độc cho hầu hết các
vi sinh vật trong môi trường đất .
Sau khi khai thác gỗ, chặt phá rừng làm nương ray, lá cây rừng sẽ nằm
lại trong đất nếu không được phân hủy kòp thời để tạo mùn cho đất thì khả năng
chuyển hóa thành các dạng khó tiêu và gây chua nhiều hơn . Nếu tàn tích bò vùi
lắp trong điều kiện yếm khí lâu ngày sẽ tạo ra các đầm lầy than bùn hoặc bùn
phèn gây nên môi trường acid quá trình phân giải chúng tạo nên các khí gây nên
mất cân bằng không khí tăng lên và ngay trong đầm lầy nhiều loại sinh vật háo
khí , thực vật trên cạn bò hủy diệt thay vào đó là hệ thủy sinh vật và bán sinh vật.
1 .2 Ô nhiễm môi trường đất do chất thảy công nghiệp :
Các loại chất thải công nghiệp dưới dạng rắn, lỏng và khí đều có ảnh
hưởng đến môi trường sinh thái đất . Dạng khí như CO
2
, S0
2
,, H
2
S từ trong quá
trình đốt nhiên liệu và chế biến Sản Phẩm mà thành . Dạng lỏng có các axít, acid
hữu cơ , dầu mỡ , phehol . dạng gắn có các chất thải hữu cơ . Ảnh hưởng của
chúng lên môi trường sinh thái đất về nhiều mặt.
4
Đề tài nghiên cứu: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

Ô nhiễm môi trường nước là sự có mặt của một chất ngoại lai trong môi
trường nước tự nhiên. Khi vượt quá ngưỡng nào đó thì chất ngoại lai trở nên độc
hại đối với sinh vật và con người
5
Đề tài nghiên cứu: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Theo hiến chương Châu Âu về ô nhiễm môi trường nước. Ô nhiễm môi
trường nước là do tác động của con người gây nên một biến đổi nào đó làm thay
đổi chất lượng nước, chính sự thay đổi chất lượng nước này gây nên nguy hiểm
cho con người, công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, với động vật nuôi và cả động
vật hoang dã.
Nguyên nhân của sự ô nhiễm môi trường nước có thể xuất phát từ
nguồn gốc tự nhiên hay do con người trực tiếp gây ra với các nguyên nhân sau:
+ Ô nhiễm do nguồn gốc tự nhiên chủ yếu do mưa mang theo từ các
chất bẩn từ mái nhà, đường phố, bụi công nghiệp thải xuống, các lónh vực
nước như: sông, hồ, ao, mạch nước ngầm. Các chất bẩn này đôi khi có cả
vi trùng, virus gây bệnh từ xác chết sinh vật vào nước.
+ Ô nhiễm nhân tạo: do hoạt động sống của con người gây ra, chủ yếu
là nguồn nước thải sinh hoạt khu dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao
thông vận tải, thuốc trừ sâu, phân bón hóa học.
+ Dựa vào các tác nhân gây ô nhiễm người ta phân biệt các loại ô
nhiễm mà có các tác hại của từng loại ô nhiễm khác nhau. Ví dụ: rối loạn
các dòng chảy tự nhiên do đập thủy điện, kênh đào, thủy lợi, đê bao.
+ Sản phẩm thải trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt
các chất hữu cơ hóa học, phổ biến là sự phân hủy các chất Proticl, lipid và
glucid gây hôi thối trong nước, các loại thuốc xác trùng, trừ sâu chỉ có tác
dụng 10% còn lại 90% hòa tan vào môi trường nước ngầm vào sản xuất
gây hại trực tiếp cho con người tiêu thụ hoặc nếu còn ở môi trường thì
phải 10 năm sau nó mới phân hủy hết độc tố. Điều đáng sợ hiện nay chất
hữu cơ phân loại có hàng ngàn loại không có nguồn gốc trong tự nhiên
nên nó không bò phân hủy trong nước, gây tác hại tìm ẩn lâu dài. Một số

Các dòng chảy nước mạch và nước ngầm khi đã đi qua các vùng
nông nghiệp, khai thác mỏ và đô thò đã bò nhiễm bẩn với những mức độ khác
nhau. Ô nhiễm nước hiện nay trở nên tệ nạn phổ biến ở hầu hết các nước.
+ Trước hết, ô nhiễm do các chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt và
phân bón đã gây nên tình trạng phì nhưỡng hóa nhiều dòng chảy làm tác
hại lớn đến sức khỏe người nông dân và năng xuất thủy sản. Theo cơ quan
y tế thế giới hàng năm có 25 triệu dân chết do dòch tả, thương hàn và
những bệnh lây lan qua nước uống khác trung bình 65 000 người/ ngày.
+ Sự suy giảm oxy hòa tan trong nước do phân hủy chất hữu cơ đã có
ảnh hưởng đến năng suất thủy sản. Theo mẫu kiểm tra của hệ thống theo
dõi môi trường toàn cầu vào những năm 80 cho thấy. Lượng O
2
hòa tan
trong nước sông ở các nước có thu thập cao luôn ở mức cho phép. Nghóa là
mức tối thiểu đảm bảo được sự sống sinh vật dưới nước: trên 6 mg / l và có
xu thế cải thiện. Các nước thu nhập trung bình có hàm lượng O
2
hòa tan
trunh bình của sông bẩn nhất và sạch nhất gồm 7mg / l và không đổi trong
suốt thập niên 80. Riêng các nước có thu nhập thấp O
2
hòa tan ở thời kỳ
đầu những năm 80 giữ được mức 7mg / l : vào cuối thập niên thì tình trạng
trở nên xấu đi chỉ còn khoảng 6,5 mg/ l , đây là mức O
2
tự do trung bình ở
các sông, ở sông bẩn nhất có O
2
tự do trung bình rất thấp chỉ có 4 mg/l.
+ Hiện nay, ở Việt Nam có số lượng các sông bò ô nhiễm càng ngày

nhiễm hữu cơ đã làm cho khoảng 4000 km
2
vùng vònh Tnexico, gần cửa sông
Tnissipi bò xem như vùng chết do thiếu O
2
. Tảo ở những vùng nước bẩn tảo nở
hoa thường tiết ra những độc tố ảnh hưởng đến thực phẩm biển. Năm 1987, ngộ
độc do thực phẩm có độc tố tảo đỏ đã giết chết 26 người ở Guatamala. Hiện
tượng nở hoa của tảo là thuật ngữ dùng để chỉ sự phát triển mạnh của tảo đỏ do
sự nhiễm bẩn nước biển gây nên. Ở các biển nội đòa Nhật Bản mổi năm xuất
hiện 200 vụ tảo nở hoa. Xung quanh phía Nam bán đảo Scandinave. Dọc bờ biển
8
Đề tài nghiên cứu: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Nauy sự nở hoa đã làm thiệt hại một số ngư trường và đời sống biển khơi. Nhiều
nghiên cứu thực nghiệm cho thấy những người bơi lội ở vùng biển bò ô nhiễm
hữu cơ thì mang bệnh rối loạn tiêu hóa, viêm tai, viêm đường hô hấp, vàng da
tăng lên bình thường. Sử dụng thức ăn biển ô nhiễm dẫn đến tăng bệnh viêm gan
siêu vi và dòch tả.
Hằng năm có hơn 2,3 triệu tấn dầu từ các nguồn khác nhau xâm nhập vào
biển. Trong đó chủ yếu là từ các chất thải đô thò và các hoạt động vận tải đường
biển. Các tai nạn đắm hoặc vở tàu chiếm 20% nguồn thải vào biển. Nguồn dầu
thải vào biển nói chung còn thấp chưa gây hại đến các hệ sinh thái biển. Sự cố
tràn dầu có thể gây mất can bằng sinh thái cục bộ trong một khoảng thời gian dài
nếu không xử lý kòp thời, đặt biệt những sự cố có những tầm cở lớn có thể gây
nguy hiểm ở các vùng ven bờ.
Việc thải bỏ các hóa chất độc và những cuộc thử nghiệm hạt nhân cũng
được thực hiện ở các đại dương đặc biệt vào trước năm 1987 do Mỹ, Tây Âu,
Nhật và một số nước công nghiệp khác. Từ năm 1981 - 1984 , các nước châu Âu
đã thêu hủy gần 624 nghìn tấn hóa chất ngoài biển. Năm 1986, có gần 578 nghìn
tấn chất thải đổ ra biển khỏi với phân nữa là chất độc hại. Mặc dầu năm 1982,

tọa lạc trên biển. Tại các làng chài thải toàn bộ rác sinh hoạt xuống biển chưa
qua xử lý rất khó thu gom dẫn tới một số sông rạch đã xảy ra hiện tượng tắc
dòng chảy vì rác. Ngoài ra diện tich nuôi trồng thủy sản ở Quảng Ninh hiện đã
lên tới 15000 ha/ năm phần lớn là nhửng nơi nuôi quản canh nên nước thải đổ
trực tiếp ra biển.
Các nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường nước:
+ Theo các nghiên cứu về ô nhiễm môi trường nước cho thấy rằng sự ô
nhiễm môi trường nước bắt đầu xuất hiện từ khi cuộc cách mạng công nghiệp
bùng nổ, lúc đầu trong phạm vi khu vực, sau đó đến các lục đòa và bây giờ đãtrở
nên vấn đề cần quan tâm hàng đầu trên toàn cầu. Nguồn nước lợ nhiễm bẩn do
các nguyên nhân chính sau:
• Đô thò hóa do dân số tăng, sự phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, công
nghiệp gây nhiễm bẩn nước ngọt, thu gom xử lý không tốt việc cấp nước có thể
bò quá tải. Hàm lượng O
2
hòa tan trong nước bò giảm do các chất bẩn phân hủy
gây nên hiện tượng phì dưỡng. Sự nhiễm khuẩn đặc biệt nghiêm trọng ở các
nước đang phát triển vừa thiếu nguồn nước sạch vừa không có quá trình xử lý
nước đầy đủ. Dân số càng tăng lên môi trường nước càng bò ô nhiễm nhất là
tầng nước mặt.
10
Đề tài nghiên cứu: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
• Phá rừng: rừng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nguồn nước, nhưng
hiện nay việc chặt phá rừng để làm nương rẫy, xây dựng đô thò làm cho đất bò
lớp phủ gây sạt lở đất, nước sông ngòi bò đục, các chất dinh dưỡng bò hòa tan và
năng lượng giữ nước của đất bò suy giảm.
• Khai mỏ và phát triển công nghiệp ở năm 2000 các nước đang phát triển
có khối lượng nước thải tăng gấp đôi. Sản xuất nông nghiệp với lượng phân bón
hóa học từ dưới 1kg/ha ở châu Phi; ở Hà Lan 700kg/ha đủ làm nguồn nước cấp
bò ô nhiễm nitrat và phosphate. Hiện tượng dùng phân hóa học, thuốc trừ sâu ở

- Ô nhiễm môi trường không khí mà nguyên nhân chính là bắt nguồn từ ô
nhiễm môi trường đất và nước dẫn đến ô nhiễm không khí kèm theo sự ô nhiễm
môi trường không khí cũng gây nên những hậu quả đáng lo ngại và báo động
cho toàn cầu về cuộc sống và đời sống con người. Sinh vật đứng trước hậu quả
mà không ai có thể ngờ trước được khi không khí bò ô nhiễm nó làm tổn hại đến
tầng khí quyển nhiều nơi mối lo có thể xảy ra về tầng ô zon bò thủng nhiều gây
cho khí hậu trái đất ngày càng nóng lên gây ra hiện tượng băng tan ở các nước
Bắc Cực là một thảm họa mà con người phải gánh chòu trước những biến đổi khí
hậu mà con người đã gây ra. Nó được biểu hiện ở hai vụ thảm họa mà con
người phải gánh chòu là trận sóng thần I-đô- nê-xi -a và động đất ở Trung Quốc
đã cướp đi hàng nghìn tính mạng con người mà hậu quả của nó đã gây ra là
không thể ngờ trước được. Từ những hoạt động gây ô nhiễm môi trường không
khí.
12
Phương tiện vận tải
Cháy rừng Ô nhiễm không khí
Đun nấu trong gia
đình
Sản xuất công nghiệp
Đề tài nghiên cứu: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
- Từ những nguyên nhân gây hậu quả ô nhiễm môi trường không khí trên
mà con người phải gánh chòu những thảm họa khóc liệt từ thiên tai trong tự
nhiên.
4 Ô nhiễm tiếng ồn
- Ô nhiễm tiếng ồn là khi tiếng trở nên mạnh và gây khó chòu, đặc biệt khi
nó gây chấn thương sinh lý hoặc tâm thần cho con người.
- Thính giác của con người có khả năng chòu nổi tối đa tầng số âm thanh là
80 deciben trong nhà có âm thanh cở 60 deciben đã làm ảnh hưởng đến tim
mạch và huyết áp, thường tầng số trên 80 deciben là nguyên nhân gây bệnh
điếc. Công nhân ở các nhà máy dệt, sắt thép, phá nổ thường bò điếc nghề

Cỏ bò nhiễm
chất phóng
xạ
Bò ăn cỏ bò
nhiễm chất
phóng xạ
Sữa bò bò
nhiễm chất
phóng xạ
Người
uống sữa
bò nhiễm
chất
phóng xạ
Đề tài nghiên cứu: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Vì vậy ô nhiễm môi trường phóng xạ cũng làm sức khỏe con người trở
nên nguy hiểm khi bò nhiễm chất phóng xạ từ môi trường.
6 Ô nhiễm môi trường xã hội:
- Ô nhiễm môi trường xã hội là môi trường đặc biệt chỉ xảy ra ở loài
người , nó khác xa về bản chất đối với một số sinh vật có đời sống xã hội cao
như, kiến. Điểm khác cơ bản ở xã hội loài người được con người điều khiển
bằng tư duy trừu tượng trong quá trình tồn tại và phát triển. Còn ở độïng vật có
đời sống xã hội được tồn tại do bản năng di truyền sinh học. Chính sự khác
biệt trên dẫn đến khái niệm về ô nhiễm môi trường xã hội loài người khác
hẳn với khái niệm ô nhiễm môi trường tự nhiên. Ở môi trường tự nhiên
nguyên nhân gây ô nhiễm có bản chất là vật chất, còn ô nhiễm môi trường xã
hội có bản chất là hoạt động tinh thần tức ô nhiễm về tư duy trừu tượng.
- Ngày nay các nguy cơ về ô nhiễm môi trường tự nhiên trong tất cả các
lónh vực đều đạt đến mức độ cao, làm cho sự sống của hành tinh xanh chúng
ta đứng trước nguy cơ bò hủy diệt, mà nguyên nhân chính là sự ô nhiễm môi

hoại xã hội chống tư tưởng tôn thờ vật chất làm rối loạn xã hội.
Tất cả các biểu hiện ô nhiễm trên đều dẫn đến các cuộc chiến tranh
đẫm máu ở các mức độ khác nhau trên hành tinh, làm chậm phát triển văn minh
loài người và gây ô nhiễm trầm trọng cho môi trường tự nhiên.
+ Biểu hiện ô nhiễm về văn hóa
• Thiếu tinh thần dân tộc trong việc sử dụng ngôn ngữ và chữ
viết trong hoạt động xã hội, hoạt động kinh doanh và quan hệ đối
ngoại.
• Học đòi và tiếp thu mù quáng văn hóa phương Tây, không
phù hợp với nếp sống dân tộc.
• Xa lánh nền văn hóa dân tộc như hát tuồng, chèo, cải long,
• Lãng quen các phong tục tập quán cổ truyền của quê hương
đất nước , các lễ hội đình làng, thờ cúng các anh hùng dân tộc.
• Học đòi một cách thiếu thẫm mỹ về hình dáng trang phục ,
màu sắc, kiểu dáng của nước ngoài.
Tất cả các biểu hiện trên đều có nguy cơ dẫn đến mất gốc, mất nước
trước những biểu hiện diễn biến hòa bình của kẻ thù.
+ Biểu hiện ô nhiễm về tôn giáo.
15
Đề tài nghiên cứu: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
• Một số cá nhân lợi dụng tôn giáo phục vụ cho mục đích chính
trò mờ ám làm cản trở sự phát triển tiến bộ của xã hội.
• Lợi dụng mê tính vò đoan để lừa bòp, cướp đọt tài sản vật chất
của xã hội.
• Lợi dụng sự hoang man mất tự chủ của một số người trước sự
phát triển quá nhanh của khoa học kỹ thuật đã lập ra hàng nghìn
đạo giáo kỳ hoặt có mục đích tôn chỉ hoạt động khác hẳn xu thế
tiến hóa của thời đại dẫn đến các vụ thảm xác hàng loạt vào thế kỷ
XX.
Tất cả các biểu hiện này đều dẫn đến sự rối loạn tôn giáo , chính trò ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status