TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 37 (2011 – 2015)
PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
MÔI TRƯỜNG - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giảng viên hướng dẫn:
VÕ HOÀNG YẾN
Bộ Môn: Luật Thương Mại
Sinh viên thực hiện:
TRẦN THỊ MỸ TIÊN
MSSV: 5115942
Lớp: Luật Tư Pháp - K37
Cần Thơ, Tháng 12/2014
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
....................................................................................................................................
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2014
5. Bố cục đề tài..............................................................................................................................2
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
MÔI TRƯỜNG ..............................................................................................................................3
1.1. Một số khái niệm...................................................................................................................3
1.1.1. Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường ....3
1.1.1.1. Khái niệm môi trường .....................................................................................3
1.1.1.2. Khái niệm ô nhiễm môi trường .......................................................................5
1.1.1.3. Khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường ........................................................6
1.1.2. Khái niệm đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi
trường và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường ...........................................7
1.1.2.1. Khái niệm đánh giá tác động môi trường .......................................................7
1.1.2.2. Khái niệm báo cáo đánh giá tác động môi trường .........................................9
1.1.2.3. Khái niệm thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường ........................9
1.2. Khái quát tình hình môi trường hiện nay và sự cần thiết bảo vệ môi trường .........................9
1.2.1. Khái quát tình hình môi trường .............................................................................9
1.2.2. Sự cần thiết bảo vệ môi trường ............................................................................12
1.3. Mục đích, ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường trong bảo vệ môi trường ..........13
1.3.1. Mục đích của đánh giá tác động môi trường ......................................................13
1.3.2. Ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường .........................................................14
1.4. Sơ lược quá trình phát triển của pháp luật về đánh giá tác động môi trường..............16
1.4.1. Trên Thế giới.........................................................................................................16
1.4.2. Tại Việt Nam .........................................................................................................18
CHƯƠNG 2. PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP............................................................................................................................21
2.1. Quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường.....................................................21
2.1.1. Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ................................21
2.1.2. Nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường................................................24
2.1.3. Thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường .......................25
2.1.3.1. Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.......................................25
2.1.3.2. Phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường........................................29
Với sự gia tăng nhanh chóng của công nghiệp hóa, đô thị hóa, chất lượng môi trường
toàn cầu ngày càng suy giảm. Các vấn đề ô nhiễm môi trường và tác hại của ô nhiễm
đang đe dọa đến sức khỏe của con người và hệ sinh thái. Việc xây dựng các chiến lược,
qui hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ưu đãi thu hút đầu tư mà không dự báo,
đánh giá và có giải pháp giảm thiểu hợp lý những tác động tiêu cực đã gây ra những tác
hại nghiêm trọng đến môi trường. Việc triển khai các dự án phát triển cụ thể mà không
quan tâm đến công tác xử lý chất ô nhiễm cũng để lại hậu quả nghiêm trọng về môi
trường. Ô nhiễm môi trường và áp lực với thiên nhiên đang diễn ra hàng ngày và ở nhiều
quốc gia, khu vực và toàn trái đất. Nhận thức được điều đó, trong những năm qua, đặc
biệt là một số năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến việc thực hiện các
biện pháp khác nhau để bảo vệ môi trường. Một trong những công cụ quan trọng trong
việc bảo vệ môi trường luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng là hệ thống pháp luật về
bảo vệ môi trường. Định hướng xây dựng, hoàn thiện pháp luật về môi trường được coi là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững.
Để góp phần đưa ra cơ sở khoa học cho đánh giá tác hại của các chất gây ô nhiễm
môi trường đến sức khỏe con người và hệ sinh thái; đồng thời dự báo trước các tác động
môi trường và đưa ra giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường cũng như đảm bảo sự phát
triển bền vững của đất nước. Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam được Quốc hội Nước
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11
năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 thay thế cho Luật Bảo vệ môi trường
năm 1993 đã đưa ra quy định về đánh giá tác động môi.
Từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 ra đời cho đến nay, hoạt động đánh giá tác
động môi trường đã được quan tâm đúng mức và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội
thì vấn đề bảo vệ môi trường cũng như công tác đánh giá tác động môi trường đã nảy sinh
nhiều vấn đề bất cập, gặp không ích khó khăn cũng như vướng mắt. Do đó, việc nghiên
cứu các quy định của pháp luật hiện hành và tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về đánh
giá tác động môi trường ở Việt Nam để từ đó, tìm ra hướng hoàn thiện pháp luật và đề
xuất một số biện pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật về đánh giá tác động môi
trường ở Việt Nam, góp phần vào việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi
động môi trường trong hoạt động bảo vệ môi trường.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để hoàn thành luận văn nghiên cứu người viết vận dụng những kiến thức đã có kết
hợp với thu thập, tổng hợp những tài liệu liên quan đến quy định pháp luật về đánh giá tác
động môi trường. Đồng thời người viết sử dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu,
phương pháp phân tích luật viết các quy định liên quan cùng điều chỉnh lĩnh vực mà
người viết nghiên cứu góp phần làm rõ đề tài.
5. Bố cục đề tài
Luận văn gồm 3 phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Phần nội
dung bao gồm các chương:
Chương 1. Khái quát chung về môi trường và đánh giá tác động môi trường
Chương 2. Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Thực trạng và giải
pháp
GVHD: Võ Hoàng Yến
2
SVTH: Trần Thị Mỹ Tiên
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Thực trạng và giải pháp
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG
VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường và hoạt động bảo vệ môi trường
1.1.1.1. Khái niệm môi trường
Khi nói đến môi trường, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, thuật ngữ này được định
nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nó có nguồn góc từ tiếng Pháp là “environner” có nghĩa
3
SVTH: Trần Thị Mỹ Tiên
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Thực trạng và giải pháp
- Các thành tố xã hội nhân văn gồm: Dân số, động lực dân cư (tiêu dùng, xả thải),
nghèo đói, giới tính, dân tộc, phong tục tập quán, văn hóa, lối sống, luật chính sách,
hương ước, lệ làng, tổ chức cộng đồng xã hội.
- Các điều kiện tác động (chủ yếu là hoạt động phát triển kinh tế) bao gồm: các
chương trình, dự án phát triển kinh tế, hoạt động quân sự, chiến tranh các hoạt động kinh
tế (nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, ngư nghiệp, du lịch, xây dựng và đô thị hóa),
công nghệ kỹ thuật quản lý.
Còn theo từ điển tiếng Việt, môi trường theo định nghĩa thông thường “là toàn bộ
nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hôi trong đó con người hay một sinh vật tồn tại,
phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”2.
Trong lĩnh vức khoa học pháp lý theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, môi
trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật
chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát
triển của con người và sinh vật”3. Môi trường sống của con người được chia thành:
Môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố tự nhiên như là ánh sáng mặt trời, núi sông,
biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất, nước. Môi trường tự nhiên cho ta không khí để
thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài
nguyên khoán sản, cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải,
cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú.
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ,
thể chế, cam kết, quy định. Ở các cấp khác nhau như: các quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan,
làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể. Môi trường xã
hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh
tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật
1.1.1.2. Khái niệm ô nhiễm môi trường
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng
lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát
triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm
các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc
tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ. Tuy nhiên, môi
trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các
tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu.
Dưới góc độ sinh học ÔNMT là chỉ tình trạng môi trường trong đó những chỉ số hóa
học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Dưới góc độ kinh tế học ÔNMT là
sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hóa học, sinh học,
mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe con người, các loài động,
thực vật và các điều kiện đời sống khác. Dưới góc độ pháp lý Luật Bảo vệ môi trường
năm 2005 định nghĩa: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi các thành phần môi trường
không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”5.
Các chất hoặc năng lượng được tạo ra bởi các quá trình tự nhiên và nhân tạo, có mặt trong
các thành phần môi trường như đất, nước, không khí, sinh vật. Các vật chất năng lượng
với hàm lượng nào đó có thể ảnh hưởng đến chất lượng môi trường. Như vậy ÔNMT là
sự hiện diện của các vật chất ở 3 dạng rắn, lỏng, khí và năng lượng có nguồn gốc tự nhiên
hoặc nhân tạo với một hàm lượng nhất định sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường.
Mức vật chất và năng lượng hay còn gọi là tiêu chuẩn cho vật chất và năng lượng có trong
môi trường. Với mức này, chất lượng môi tường chưa bị ảnh hưởng, trên mức này sẽ gây
tác động xấu đến chất lượng môi trường, hoặc tác động xấu đến sức khỏe con người. Vật
chất, năng lượng thải vào môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép gây ô nhiễm môi
trường.6
4
Khoản 1, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
Khoản 6, Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
thể thường được xác định dựa vào mức vượt tiêu chuẩn chất lượng môi trường cho phép.
Theo Điều 92 Luật Bảo vệ môi trường 2005: “Môi trường bị ô nhiễm trong trường hợp
hàm lượng một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi
trường. Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất,
kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 3 lần trở lên hoặc hàm
lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi
trường từ 5 lần trở lên. Môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng khi hàm lượng của
một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ
5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu
chuẩn về chất lượng môi trường từ 10 lần trở lên.”
1.1.1.3. Khái niệm hoạt động bảo vệ môi trường
Môi trường luôn gắn liền với đời sống của con người, nó không thể tách rời đối với
đời sống con người. Có thể nói con người sống phụ thuộc vào môi trường. Môi trường
trong sạch thì đời sống con người mới đảm bảo, xã hội mới phát triển một cách lành mạnh
và ngược lại, môi trường bị ô nhiễm thì hậu quả không thể lường trước được. Khói, bụi,
nước thải của các cơ sở sản xuất là một thứ vũ khí giết người thầm lặng, vì vậy mỗi cá
nhân, mỗi gia đình, mỗi tổ chức và toàn xã hội phải ý thức hơn nữa về công tác bảo vệ
môi trường đặc biệt là vai trò của Nhà nước đóng một mắt xích hết sức quan trọng.
GVHD: Võ Hoàng Yến
6
SVTH: Trần Thị Mỹ Tiên
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Thực trạng và giải pháp
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội. Hoạt động BVMT nhằm
làm cho môi trường giảm ô nhiễm hoặc ngăn chặn việc gây ra ô nhiễm với những hành
động thực tế, đảm bảo cho sự phát triển bền vững.
Hoạt động BVMT được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như tuyên truyền phát
khu vực thực hiện dự án, xem xét hiệu quả chính của dự án và các hoạt động khác tại
vùng khai thác dự án. Trên cơ sở đó dự báo các tác động môi trường sẽ diễn ra, đồng thời
GVHD: Võ Hoàng Yến
7
SVTH: Trần Thị Mỹ Tiên
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Thực trạng và giải pháp
xác định các biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực để dự án thích hợp hơn với môi
trường.
Có nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về đánh giá tác động môi trường và
nhìn chung đều cho rằng ĐTM là một công cụ bảo vệ môi trường áp dụng cho các giai
đoạn xem xét, phê duyệt một dự án phát triển. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những
định nghĩa khác nhau về đánh giá tác động môi trường tuy những định nghĩa này có điểm
khác nhau về cách diễn đạt nhưng về nội dung cơ bản thì thống nhất với nhau.
Năm 1991, Ủy ban Liên Hiệp Quốc về các vấn đề kinh tế Châu Âu đã đưa ra một
định nghĩa ngắn gọn và xúc tích, đánh giá tác động môi trường là đánh giá tác động của
hoạt động có ảnh hưởng đối với môi trường.
Đánh giá tác động môi trường của hoạt động phát triển kinh tế xã hội là xác định,
phân tích và dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài mà việc thực hiện
hoạt động có thể gây ra cho tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống của con
người tại nơi có liên quan tới hoạt động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng tránh,
khắc phục các tác động tiêu cực.
Theo chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc “đánh giá tác động môi trường là
quá trình nghiên cứu nhằm dự báo các hậu quả môi trường của một dự án phát triển
quan trọng. ĐTM xem xét việc thực hiện đề án sẽ gây ra những vấn đề gì với đời sống con
người tại khu vực dự án, tới kết quả của chính dự án và của các hoạt động khác tại vùng
đó. Sau dự án báo cáo ĐTM phải xác định các biện pháp làm giảm đến mức tối thiểu các
phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện
pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó. Còn báo cáo đánh giá tác động môi
trường là một bản báo cáo dưới hình thức bằng văn bản giấy hoặc phần mềm, là kết quả
của hoạt động ĐTM, chứa đựng các thông tin, kết quả của hoạt động ĐTM. Báo cáo
ĐTM được lập theo những yêu cầu về nội dung và hình thức nhất định.
1.1.2.3. Khái niệm thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXB Đà Nẵng thì “thẩm định” là “xem xét
nhằm đánh giá để xác định, quyết định”. Như vậy, có thể hiểu rằng thẩm định báo cáo
đánh giá tác động là việc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xem xét, thẩm tra về
mặt pháp lý cũng như nội dung khoa học của báo cáo đánh giá tác động môi trường để
xác định nhằm đưa ra các quyết định chính xác, khách quan liên quan đến bản báo cáo đó.
1.2. Khái quát tình hình môi trường hiện nay và sự cần thiết bảo vệ môi trường
1.2.1. Khái quát tình hình môi trường
Môi trường có vai trò quan trọng đối với con người, nhưng thực tế hiện nay môi
trường nước ta đang xuống cấp nghiêm trọng, bởi con người đã khai thác môi trường vượt
quá giới hạn chịu đựng của nó. Hiện nay hàng loạt các vấn đề về môi trường đang ở mức
báo động như hiện tượng Trái đất đang nóng dần lên làm cho thiên tai tăng đột biến và
mức nước biển dâng cao, thủng tầng ôzon, ô nhiễm môi trường gia tăng làm cho chất
lượng cuộc sống bị xuống cấp.
Vấn đề ô nhiễm môi trường đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng. Đó là một
trong những vấn đề toàn cầu của thế giới hiện nay; ô nhiễm môi trường có tác động trực
tiếp đến mọi quốc gia, vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó có
Việt Nam. ÔNMT đã trở thành một vấn đề cấp bách, gây bức xúc trong dư luận xã hội
của nước ta hiện nay. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự phát triển
kinh tế - xã hội, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai.
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển
kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ
môi trường chưa được chú trọng đúng mức. Môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị tàn phá
nghiêm trọng, ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động. Có thể nói cùng với sự phát triển
nhanh chóng của nền kinh tế, đất nước ta thực sự đang đứng trước nhiều thách thức về sự
hệ thống xử lý chất thải tập trung, hoặc có nhưng không đáp ứng yêu cầu, dẫn đến trên
60% trong số 1m3 nước thải/ngày đêm từ các khu công nghiệp xả thẳng vào các nguồn
tiếp nhận, không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng ở nhiều nơi.
Bên cạnh đó, ô nhiễm ở các làng nghề tồn tại từ rất lâu nhưng chưa có biện pháp
khắc phục và giải quyết hiệu quả. Hình thức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng
có thể là gia đình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp. Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự
phát, sử dụng công nghệ thủ công lạc hậu, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư xây
dựng hệ thống xử lý rác thải, nước thải ít được quan tâm, ý thức bảo vệ môi trường của
người dân làng nghề còn kém, bên cạnh đó lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các
cơ quan có thẩm quyền, chưa có chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề thủ công gây
ô nhiễm môi trường nên tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng trầm
trọng. Một số kết quả đạt được còn mang tính cục bộ, thiếu tính bền vững và chưa được
nhân rộng.
Bên cạnh đó, hầu hết chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị và nông thôn chưa được phân
loại tại nguồn. Vẫn còn trên 60% số xã ở khu vực nông thôn chưa tổ chức thu gom rác
thải. Chất thải rắn chủ yếu chỉ xử lý bằng cách chôn lấp. Hàng năm ước tính tổng lượng
phân bón vô cơ sử dụng trong canh tác nông nghiệp vào khoản 2,5 - 3 triệu tấn, trong đó
có đến 50 - 70% không được cây trồng hấp thụ thải ra môi trường. Riêng lượng thuốc bảo
GVHD: Võ Hoàng Yến
10
SVTH: Trần Thị Mỹ Tiên
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Thực trạng và giải pháp
vệ thực vật tồn lưu cần tiêu hủy trên cả nước khoảng 90 tấn, 75 tấn bao bì đựng thuốc bảo
vệ thực vật vẫn còn tồn đọng từ trước đến nay.9
Tình trạng ô nhiễm môi trường có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác
nhau, song tập trung ở các nguyên nhân chủ yếu sau:
Tin Môi trường ,Ô nhiễm môi trường nguy cơ vượt ngưỡng chịu đựng của hệ sinh thái,
http://www.tinmoitruong.vn/bao-ve-moi-truong/o-nhiem-moi-truong-nguy-co-vuot-nguong-chiu-dung-cua-cac-hesinh-thai_80_21706_1.html [truy cập ngày 14/08/2014].
GVHD: Võ Hoàng Yến
11
SVTH: Trần Thị Mỹ Tiên
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Thực trạng và giải pháp
Thứ năm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngủ cán bộ chuyên trách công tác
bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp
ứng được đòi hỏi của thực tiễn. Do đó, trong nhiều trường hợp, đoàn kiểm tra không thể
phát hiện được những thủ đoạn tinh vi của các doanh nghiệp khi xả chất thải gây ô nhiễm
môi trường.10
1.2.2. Sự cần thiết bảo vệ môi trường
Môi trường là cái nôi hình thành và phát triển của con người. Những yếu tố cấu
thành môi trường như không khí, nước, ánh sáng đều rất quan trọng đối với con người.
Không khí để thở, nước để uống và sinh hoạt, không gian là nơi con người sinh sống, tất
cả đều là thành phần của môi trường có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát triển
của nền kinh tế và sự sống sống của con người bởi vì môi trường là nơi cung cấp nguồn
tài nguyên đầu tư cho sản xuất, tiện nghi sinh hoạt cho con người mà còn là nơi chứa và
hấp thu phế thải sinh hoạt và chất thải sinh hoạt do con người tạo ra.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, môi trường nước ta đang bị xuống cấp nhanh, có
nơi, có lúc đã đến mức báo động; đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn
nước bị suy giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng nề; khối
lượng phát sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên
trong nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có qui hoạch; đa dạng sinh học bị đe
người.11
Nguy cơ môi trường bị hủy hoại với những hậu quả nghiêm trọng của nó đã buộc
các quốc gia chú ý hơn tới những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ môi trường. Nhiều
quốc gia đã thực hiện việc giảm hoặc miễn thuế đối với kinh doanh trồng rừng, mễn thuế
đối với các chi phí đầu tư vào các biện pháp bảo vệ môi trường, áp dụng việc đánh giá tác
động môi trường đối với các dự án đầu tư, dự án sản xuất kinh doanh của các tổ chức cá
nhân trong nước. Nhiều trung tâm nghiên cứu môi trường được thành lập để nghiên cứu
các tác động môi trường và các biện pháp đối phó nhằm giảm thiểu những hậu quả tiêu
cực mà sự trả thù của môi trường mang lại. Do vậy việc bảo vệ môi trường vừa là mục
tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của sự phát triển bền vững, phải được thể
hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội của từng
ngành và từng địa phương. BVMT là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình
và của mỗi người dân, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng
của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự
nhiên của cha ông chúng ta. BVMT phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế
tác động xấu với môi trường là chính, kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải
thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy
mạnh huy động nguồn lực trong xã hội, kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương
pháp phòng chống ô nhiễm môi trường. Có như vậy, chúng ta mới có thể hy vọng vào
một tương lai tươi sáng với môi trường sống trong lành không có sự ô nhiễm. Vì vậy, cần
phải ra sức hơn nữa để bảo vệ môi trường, bởi vì bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc
sống xanh của chính chúng ta.
1.3. Mục đích, ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường trong bảo vệ môi trường
1.3.1. Mục đích của đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường là một quy trình với nhiều mục đích khác nhau. Đó là
một hoạt động nhằm cung cấp một quy trình xem xét tất cả các tác động có hại đến môi
trường của các chính sách, chương trình, hoạt động và của các dự án.
Đánh giá tác động môi trường tạo ra cơ hội để có thể trình bày với người ra quyết
định về tính phù hợp của chính sách, chương trình, hoạt động, dự án về mặt môi trường,
nhằm ra quyết định có tiếp tục thực hiện hay không.
Đánh giá tác động môi trường được coi là công cụ phục vụ phát triển, khuyến khích
phát triển tốt hơn, trợ giúp cho tăng trưởng kinh tế.
Trong nhiều trường hợp, đánh giá tác động môi trường chấp nhận sự phát thải, xả
thải, phát thải khí nhà kính cũng như việc sử dụng không hợp lý tài nguyên ở mức nào
đấy, nghĩa là chấp nhận phát triển, tăng trưởng kinh tế, nhưng cũng đồng thời bảo vệ môi
trường.
1.3.2. Ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường
Qua phân tích mục đích của đánh giá tác động môi trường ta thấy rõ ý nghĩa to lớn
của nó trong sự phát triển chung của nhân loại, thể hiện ở chỗ đánh giá tác động môi
trường là công cụ quản lý môi trường quan trọng. Song nó không nhằm thủ tiêu, loại trừ,
gây khó dễ cho phát triển kinh tế - xã hội mà nó hỗ trợ phát triển theo hướng đảm bảo
hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường. Vì vậy nó góp phần vào mục tiêu phát triển bền
vững. ĐTM còn giúp phát hiện ra các tác động có hại đối với môi trường trước khi chúng
xảy ra, nhờ đó các đề xuất dự án phát triển có thể được thay đổi sao cho các tác động môi
trường được giảm thiểu tới mức thấp nhất hoặc được loại trừ và nếu các tác động tiêu cực
này ở mức không thể chấp nhận được hoặc không giảm nhẹ được thì dự án sẽ phải bãi bỏ.
Nói cách khác, ĐTM là một công cụ quản lý môi trường có tính chất phòng ngừa.
Đánh giá tác động môi trường giúp chúng ta xem xét nhiều vấn đề quan trọng, đặc
biệt là công nghệ xử lý chất thải, giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường và giám sát
môi trường. Đánh giá tác động môi trường có thể được tiến hành theo nhiều phương án
thực hiện dự án, hoạt động phát triển, với những so sánh về lợi và hại của các tác động
GVHD: Võ Hoàng Yến
14
SVTH: Trần Thị Mỹ Tiên
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Thực trạng và giải pháp
theo những dự án đó, trên cơ sở đó kiến nghị việc lựa chọn một phương án phù hợp cả
thịnh vượng trong tương lai. Thông qua các kiến nghị của các đánh giá tác động môi
trường, việc sử dụng tài nguyên sẽ thận trọng hơn và sự đe dọa của suy thoái môi trường
đến sức khỏe con người và hệ sinh thái được quan tâm hơn.
12
Giáo trình Luật môi trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội – 2006, tr.142.
GVHD: Võ Hoàng Yến
15
SVTH: Trần Thị Mỹ Tiên
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Thực trạng và giải pháp
Đánh giá tác động môi trường góp phần ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các chủ
dự án, các cơ sở. Một trong những nội dung quan trọng của đánh giá tác động môi trường
đó là hoạt động giám sát sau dự án. Hoạt động này giúp cho cơ quan có thẩm quyền xem
xét hoạt động của các cơ sở có vi phạm những gì mà họ đã cam kết trong báo cáo đánh
giá tác động môi trường đã được xét duyệt hay không.13
1.4. Sơ lược quá trình phát triển của pháp luật về đánh giá tác động môi trường
1.4.1. Trên Thế giới
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, các hoạt động kinh tế khai thác tài nguyên
thiên nhiên, xây dựng đô thị, nhà máy, xí nghiệp và nhiều công trình khác, bên cạnh
những cái được cho sản xuất và nâng cao đời sống cho con người, đồng thời cũng đã gây
ra nhiều phiền toái có hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng. Sự phát triển xã hội
luôn có hai mặt lợi và hại đối với cuộc sống. Sự lợi và hại đó có thể xảy ra trước hoặc lâu
dài, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Sự hiểu biết và
biện pháp phòng tránh các tiêu cực của con người qua các thời kỳ lịch sử có khác nhau.
Ngày nay nền công nghiệp và nông nghiệp phát triển, con người đang đứng trước
Pháp luật về đánh giá tác động môi trường - Thực trạng và giải pháp
khái niệm đánh giá tác động môi trường đã lan rộng sang nhiều hệ thống pháp luật khác,
đầu tiên là Anh, sau đó tới Cộng hòa liên ban Đức và phần lớn các nước Bắc Âu. Hiện
nay, ở nhiều nước đã có các quy định pháp luật tương đối hoàn chỉnh về ĐTM.
Năm 1973 và 1977, Bộ trưởng Môi trường các nước thành viên EC đã nhóm hợp để
xem xét về chương trình hành động môi trường của Cộng đồng. Ngày 27/6/1985 EC ra
Hướng dẫn 85/337/EC về ĐTM như là bước thực hiện những thỏa thuận đạt được tại các
kỳ hợp trên. Các nước thuộc Cộng đồng Châu Âu đã được yêu cầu đáp ứng các quy định
của hướng dẫn trên. Theo hướng dẫn của EC thì đánh giá tác động môi trường là việc xác
định, mô tả và đánh giá các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp vào một dự án tới con
người, hệ động, thực vật, đất nước, không khí cũng như sự tác động qua lại lẫn nhau của
các yếu tố này.
Với vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là các nước đang phát
triển, các tổ chức tài chính quốc tế đã tích cực thúc đẩy việc tiến hành ĐTM tại các nước
thành viên.14
Một số nước đang phát triển ở Châu Á Thái Bình Dương như Thái Lan, Hàn Quốc,
Philippin, Indonnesia, Malaysia…cũng đã ban hành các quy định chính thức hoặc tạm
thời về đánh giá tác động môi trường.15
Theo tư liệu của UNEP cho thấy, tính đến năm 1985, có tới ¾ các nước phát triển đã
có quy định về ĐTM ở những mức độ khác nhau hoặc ít nhất cũng đã hoàn thành một báo
cáo về ĐTM.
Tại các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, quá trình xem xét tác động của một hoạt
động tới môi trường thường được gọi là quá trình “Đánh giá sinh thái” cũng được Chính
phủ quan tâm sâu sắc. Do đặc thù của nền kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa có sự quản lý
cao của nhà nước nên các vấn đề về chương trình phát triển đều được xem xét chặt chẽ về
nhiều mặt, trong đó có các nội dung về bảo vệ môi trường. Việc kết hợp chặt chẽ quá
trình xem xét về khía cạnh môi trường với kế hoạch hóa phát triển kinh tế, quy hoạch và
thiết kế các công trình tạo nên những thuận lợi lớn cho bảo vệ TN&MT. Do yêu cầu của
tăng trưởng kinh tế cho nên việc xét duyệt các khía cạnh kinh tế, kỹ thuận, xã hội thường
lấn át khía cạnh môi trường. Không những thế, nhiều trường hợp, quá trình ĐTM chỉ
vệ môi trường là cần thiết.
Giai đoạn trước khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có hiệu lực
Ở Việt Nam, vào những năm 1980 đã có nhiều nhà khoa học bắt đầu tiếp cận với
công tác ĐTM thông qua các hội thảo và các khóa đào tạo do các tổ chức Quốc tế thực
hiện. Tiếp theo đó, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường của trường Đại học
Tổng hợp Hà Nội kết hợp với chương trình nghiên cứu quốc gia về Môi trường của tổ
chức khóa huấn luyện về ĐTM cho các giảng viên từ các trường Đại học và Viện nghiên
cứu Trung ương đầu tiên tại Việt Nam (4/1984). Từ năm 1987, chương trình đào tạo sau
Đại học về quản lý môi trường và ĐTM được trung tâm Tài nguyên và Môi trường thuộc
Đại học Tổng hợp Hà Nội tổ chức thường xuyên.17
Trong giai đoạn từ năm 1978 đến năm 1990, nhà nước đã đầu tư vào những chương
trình điều tra cơ bản và được xem như công tác kiểm tra hiện trạng môi trường. Đó là các
chương trình điều tra vùng Tây Nguyên, vùng đồng bằn sông Cửu Long.
Sau năm 1990, mặc dù Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam chưa thiết lập, nhà nước
đã yêu cầu một số dự án phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường như: Công trình
xây dựng nhà máy giấy Bãi Bằng, công trình thủy lợi Thạch Nham, công trình thủy điện
Trị An. Một số tổ chức nhà nước như: Cục Môi trường, Sở Khoa học Công nghệ và Môi
trường, các Trung tâm, Viện Môi trường được tập huấn nhằm đảm nhận công tác tư vấn
cho lập các báo cáo ĐTM và tổ chức thẩm định các báo cáo này.
Ngày 27/12/1993 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua
Luật Bảo vệ môi trường đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong việc bảo vệ môi
trường của Việt Nam. Tại khoản 11 Điều 2 Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đã nêu lên
16
Giáo trình Luật Môi trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội - 2006, tr.134.
Nguyễn Văn Công - Nguyễn Văn Bé, Giáo trình đánh giá rủi ro và tác động môi trường, NXB Đại học Cần Thơ
năm 2012, tr. 44.
17
định và phê duyệt báo cáo ĐMC, ĐTM và bản cam kết bảo vệ môi trường.
Năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 về sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 về quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 20. Thông tư số
05/2008/TT-BTNMT hướng dẫn chi tiết về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác
động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường cũng được ban hành.
Năm 2009, Thông tư 13/2009/TT-BTNMT về tổ chức và hoạt động của Hội đồng
thẩm định ĐMC, hội đồng thẩm định ĐTM do Bộ TN&MT ban hành.
Năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị định 29/2011/NĐ-CP ban hành ngày
18/04/2011 qui định về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM và cam kết bảo vệ môi
trường. Bộ TN&MT ban hành Thông tư 26/2011/TT-BTNMT ban hành ngày 18/07/2011
quy định chi tiết một số điều của Nghị định 29/2011/NĐ-CP.
Năm 2014, Chính phủ ban hành Nghị định số 35/2014/NĐ-CP ngày 29/4/2014 sửa
đổi Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ban hành ngày 18/04/2011 quy định về đánh giá môi
GVHD: Võ Hoàng Yến
19
SVTH: Trần Thị Mỹ Tiên