Tiểu luận ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
***************

Tiểu luận
ĐỀ TÀI:

PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
CỦA NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT
NAM

Sinh viên: Nguyễn Khánh Linh
MSSV: 11060027
Ngày sinh: 31/03/1993
Chuyên ngành: Đất đai – Môi trường

1


HÀ NỘI – NĂM 2014

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam là nước có tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh. Cùng với việc xây
dựng các chương trình, dự án nhằm phát triển kinh tế xã hội, tạo ra những tác động thúc
đẩy phát triển là các tác động làm thay đổi môi trường sinh thái, biến đổi các hệ sinh thái
tự nhiên, những vấn đề này có thể không được nhận ra hoặc chúng ta đã chấp nhận đánh
đổi để phát triển. Vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển đó là chính là sự bền vững,
điều này đã đưa việc đánh giá tác động môi trường trở nên hết sức quan trọng. Đánh giá
tác động môi trường là công cụ pháp lý và kỹ thuật quan trọng để xem xét, dự báo tác

Năm 1969, “Đạo luật môi trường” (National Envirimental Policy Act, NEPA) đầu
tiên của Mỹ ra đời nhằm thiết lập những chính sách và luật định cho việc bảo vệ môi
trường. Yêu cầu đánh giá tác động môi trường (ĐTM) ở Mỹ cũng bắt đầu từ thời điểm
đó. Và đây cũng coi là mốc thời gian đánh dấu sự ra đời của Pháp luật về đánh giá tác
động môi trường trên thế giới, là cơ sở cho sự phát triển của pháp luật về đánh giá tác
động môi trường hiện nay. Tiếp sau Mỹ là một số nước như Nhật Bản, Hồng Kông,
Singapore đã nhận thức được tầm quan trọng của đánh giá tác động môi trường và yêu
cầu có báo cáo ĐTM cho các dự án phát triển.
Nhu cầu về công tác đánh giá tác động môi trường bắt đầu lan rộng đến nhiều
nước trên thế giới, không chỉ ở những nước lớn có nền công nghiệp phát triển mà ngay cả
3


các nước đang phát triển cũng nhận thức được các vấn đề môi trường và vai trò của
ĐTM, đây cũng là bước tiến có ý nghĩa quan trọng cho sự nghiệp bảo vệ môi trường toàn
cầu. Thời gian bắt đầu thực hiện ĐTM của một số quốc gia như sau:
Tên quốc gia

Năm

Tên

quốc

Năm

gia

Tên


Thuỵ Sĩ

1983

Italia

1988

Singapore

1972

Thái Lan

1984

Ba Lan

1989

Canada

1973

Malaysia

1985

Norway



Hà Lan

1986

C.hoà

1991

Czech
Philippenes

1977

Tây Ba Nha

1986

New

1991

Zealand
Đài Loan

1979

Bồ Đào Nha

1987

đổi về sinh thái, hướng sử dụng đất; nhiều cơ hội nghiêm túc cho việc thiết lập những
trường hợp trước công chúng và trình bày tóm tắt lại báo cáo ĐTM. Nhấn mạnh
những nhu cầu và cung cách thiết kế của dự án và những phương pháp đo đạc, những
hạn chế của dự án.
+Giai đoạn 1975 – 1980: Báo cáo ĐTM tập trung nhiều khía cạnh, bao gồm ĐTM về
xã hội của những thay đổi trong cấu trúc hạ tầng của cộng đồng, những dịch vụ và lối
sống; việc trình bày trước công chúng trở nên cần thiết cho việc hoạch định dự án: gia
tăng việc nhấn mạnh về việc điều chỉnh dự án trong quá trình xem xét dự án; phân
tích những rủi ro của những trang thiết bị nguy hiểm và những thiết bị chưa rõ kỹ
thuật sử dụng.
- Giai đoạn 1980 – 1992: Báo cáo ĐTM thường đưa ra những thiết lập tốt hơn nhằm liên
kết giữa đánh giá tác động và hoạch định chính sách, ứng dụng trong giai đoạn quản lý;
nghiên cứu tập trung vào việc theo dõi hay giám sát những ảnh hưởng trong quá trình
đánh giá dự án và sau đó. Cũng trong giai đoạn này, báo cáo ĐTM được phổ biến rộng
khắp trên thế giới, các quốc gia đa số đều nhận thức được vai trò quan trọng cảu báo cáo
ĐTM và đưa vào hệ thống pháp luật của quốc gia đó.
- Giai đoạn sau 1992: Vai trò của ĐTM trong thực hiện những mục tiêu của phát triển bền
vững. Cung cấp ĐTM tới chính sách và kế hoạch sử dụng đất. Chiến lược đánh giá môi
trường, vai trò trong việc hỗ trợ giữa chiến lược môi trường và chính sách. Từ năm 1992
đến nay, báo cáo ĐTM ngày càng được coi trọng và trở thành một công cụ pháp lý tất yếu
sử dụng trong công cuộc bảo vệ môi trường. Nội dung của báo cáo ĐTM ngày càng được

5


cụ thể, và hiệu quả của báo cáo ĐTM trong việc dự báo và hạn chế tác động xấu đến môi
trường ngày càng cao.

2. Khái quát chung về lịch sử Pháp luật về đánh giá tác động môi trường tại


Năm 1993, Luật Bảo vệ Môi trường ở Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày
27/12/1993. Luật gồm 07 chương và 55 điều, nhiều thuật ngữ chung về môi trường đã
được định nghĩa, những quy định chung về bảo vệ môi trường trên lãnh thổ Việt Nam đã
được đưa ra. Đặc biệt, Điều 11, 17 và 18 trong luật này có định nghĩa ĐTM và những quy
định các dạng dự án đang hoạt động và sẽ triển khai trên lãnh thổ Việt Nam nhất thiết
phải lập báo cáo ĐTM; điều 37 và 38 quy định các cơ quan chức năng có trách nhiệm
thẩm định báo cáo ĐTM. Ngoài ra, Chính phủ đã ra Nghị định về hướng dẫn thi hành
Luật Bảo vệ Môi trường vào 10/1994.
Sau khi Luật Bảo vệ Môi trường được thông qua và có hiệu lực, công tác ĐTM đã
được triển khai nhanh chóng. Từ năm 1993 – 1995 đã có 423 báo cáo ĐTM trình nộp lên
Bộ KHCN&MT. Ngoài ra, một số lớn báo cáo ĐTM được nộp cho Sở KHCN&MT ở các
tỉnh. Kể từ khi có Luật Bảo vệ môi trường, công tác ĐTM ở Việt Nam mới được triển
khai có hệ thống, bài bản và đồng bộ từ các Bộ, nghành, Trung ương đến các địa phương.
Từ 1994 đến 1998, Bộ KHCN&MT ban hành nhiều văn bản hướng dẫn công tác
ĐTM và tiêu chuẩn môi trường. Ngày 25/3/1995, Bộ trưởng Bộ KHCN&MT đã ra Quyết
định số 229/QĐ/TDC chính thức công bố 10 tiêu chuẩn môi trường nước và không khí
quốc gia. Hiện nay, đã có 09 dự thảo hướng dẫn ĐTM của chuyên nghành: là Thuỷ điện;
Nhiệt điệt; Quy hoạch đô thị; Quy hoạch khu công nghiệp; Xây dựng công trình giao
thông; Nhà máy xi măng; Sản xuất rượu, bia; Xí nghiệp dệt, nhuộm.
Đến năm 2005, Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam đã sửa đổi và được Quốc hội
thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005. Trong đó có nhiều quy định bổ sung về ĐTM tại
chương 3 và kèm theo Nghị định 80 quy định chi tiết hơn về ĐTM và cam kết bảo vệ môi
trường (tại mục 2). Thông tư này có kèm theo các phụ lục về biểu mẫu liên quan đến lập
báo cáo, xin thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐMC, ĐTM và cam kết bảo vệ môi trường.
7


Năm 2008, nghị định 21/2008/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
80/2006. Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến
lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.

tạp. Vào mùa đông, gió lạnh và khô của miền Siberia thổi về hướng Nhật Bản, đã gặp
không khí ẩm và nóng của Thái Bình Dương, tạo ra các trận tuyết lớn trên các phần đất
phía tây, miền đông ít bị tuyết rơi hơn nhưng cũng rất lạnh. Mùa hè với các luồng khí từ
Thái Bình Dương thổi tới, làm cho phần lớn lãnh thổ Nhật Bản nóng và ẩm. Mùa xuân và
mùa thu có thời tiết tương đối dịu hơn, với ít mưa và các ngày quang đãng.
Nhật Bản có các thú vật di cư từ Triều Tiên và Trung Hoa qua, có nhiều loại thú
đặc biệt, chẳng hạn như loài gấu nâu của đảo Hokkaido cao tới 2 mét và nặng 400
kilogam, loài khỉ cỡ trung bình cao khoảng 60 phân và có đuôi ngắn…Nhật Bản là quốc
gia có rất ít tài nguyên thiên nhiên, tất cả các khoáng sản đều phải nhập cảng từ nước
ngoài. Hiện nay, do sự phát triển đô thị, việc bành trướng du lịch, môi trường sống của
một số sinh vật đã bị ảnh hưởng xấu. Để bảo vệ môi trường thiên nhiên, Nhật Bản đã xây
dựng nên nhiều công viên quốc gia.
Các vấn đề về môi trường ở Nhật Bản hiện nay
1.2.1. Động đất và núi lửa
1.2.

Theo lý thuyết đĩa lục địa, Nhật Bản nằm trên chỗ tiếp xúc giữa 4 đĩa lục địa là ÁÂu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương và biển Philippines, các quần đảo của Nhật Bản hình
thành do vài đợt vận động tạo núi và có từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu năm. Chính vì
vậy, Nhật Bản có hai đặc trưng tự nhiên khiến cho nó nổi tiếng thế giới, đó là nhiều núi
lửa, lắm động đất. Mỗi năm Nhật Bản chịu khoảng 1000 trận động đất, tập trung chủ yếu
ở vùng Kanto. Động đất cấp 3,4 xảy ra thường xuyên. Nhật Bản có 186 núi lửa còn hoạt
động, trong đó có núi phú sĩ. Đi kèm với núi lửa là các suối nước nóng cũng có nhiều ở
Nhật Bản. Động đất và núi lửa là một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường
tại Nhật Bản nhất là về ô nhiễm không khí.
1.2.2. Ô nhiễm môi trường thiên nhiên
Hiện nay, Nhật Bản cũng như nhiều quốc gia công nghiệp phát triển trên thế giới
đã và đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường gay cấn.
9



2.

Đánh giá tác động môi trường của Nhật Bản
ĐTM đã được giới thiệu vào Nhật Bản từ 1972, tuy nhiên đến năm 1984 Chính

phủ mới quy định chính thức về thực hiện ĐTM cho các dự án và Luật riêng về “Đánh
giá tác động môi trường” (Environmental Impact Assessment Law) được ban hành tháng
6 năm 1997 (Hàn Quốc vào năm 1993, Trung Quốc vào năm 2003 đã ban hành “Luật
đánh giá tác động môi trường”, trong khi ở Việt Nam ĐTM vẫn chỉ là 1 chương trong
Luật BVMT sửa đổi năm 2014). Hệ thống ĐTM Nhật Bản có những đặc điểm là:
-

Số loại hình cần bắt buộc ĐTM rất hạn chế: ít hơn nhiều so với yêu cầu của Việt Nam:
chỉ có 13 loại hình dự án cần lập ĐTM (đường bộ, chỉnh trị sông, đường sắt, cảng hàng
không, nhà máy điện, khu đổ thải, cải tạo đất, điều chỉnh sử dụng đất, khu dân cư mới, cơ
sở hạ tầng khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng thành phố mới, tổ hợp trung tâm phân phối,
phát triển đất ở và đất công nghiệp do các tổ chức chuyên dụng). Mỗi loại hình có một số
kiểu dự án và được chia thành 2 loại (class) dự án: dự án loại 1 (class -1) và dự án loại 2
(class-2), theo quy mô hoặc diện tích. Mỗi loại có yêu cầu riêng về mức độ ĐTM. Tuy
nhiên, số loại hình dự án cần ĐTM ít như vậy có thể không phù hợp với nước ta trong giai
đoạn hiện nay.
- ĐTM được thực hiện rất thận trọng cả khâu nghiên cứu lập báo cáo và cả khâu thẩm
định: 1 báo cáo ĐTM cần trung bình 3 năm (không kể thời gian chờ thẩm định) từ khi
nghiên cứu đến khi được cấp phép thẩm định (ở Việt Nam thường chỉ mất 0,6 – 2,0 năm
đối với dự án quy mô lớn cấp Bộ TN-MT thẩm định (kể cả thời gian chờ) và chỉ 3 – 9
tháng đối với dự án nhỏ do các Sở TN-MT thẩm định, vậy mà còn bị nhiều bộ, ngành,
nhà đầu tư than phiền). Chính sự thận trọng này giúp các dự án tại Nhật Bản hạn chế đến
mức thấp nhất các tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội. Tuy nhiên sự kéo dài
quá trình ĐTM gây không ít khó khăn cho các nhà đầu tư và các cơ quan quản lý môi
trường do vậy đã có một số đề xuất “hợp lý hóa/đơn giản hóa (streamlining) quy trình

cho rằng, Nhật Bản là một quốc gia có nhiều thành công trong quản lý ô nhiễm môi
trường, kinh nghiệm của họ được đánh giá cao ở các nước Đông Á. Thực tế cho thấy,
những giải pháp mà người Nhật Bản thực thi để bảo vệ môi trường đã mang lại rất nhiều
thành công. Mặc dù có sự khác nhau về lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị song những
kinh nghiệm của họ trong công cuộc bảo vệ môi trường đặc biệt là trong lĩnh vực đánh
giá tác động môi trường rất đáng để cho nhiều quốc gia nghiên cứu và vận dụng trong đó
có Việt Nam.
1. Thực tế thấy rằng hình ảnh về hiện trạng và mức độ phát triển về ĐTM ở Nhật
Bản nói riêng và các nước Đông Bắc Á nói chung là tiên tiến hơn ta dù họ cũng chỉ đi
trước ta vài năm – 10 năm về ban hành luật pháp, hướng dẫn kỹ thuật về ĐTM. Đây là
các vấn đề các cơ quan quản lý ĐTM, các đơn vị, cá nhân làm trong lĩnh vực này nên tìm
12


hiểu, học hỏi hoặc rút bài học kinh nghiệm, trực trạng hiện nay là không ít vị cán bộ quản
lý, giảng viên, “chuyên gia” rất chủ quan tự cho mình đã hiểu đủ về ĐTM nhưng hầu như
ít đọc nguyên bản các tài liệu quốc tế về các khía cạnh khoa học của lĩnh vực này, trong
khi như đã nêu trên: các nhà khoa học Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc còn phải khiêm
tốn học tập các nước khác!.
2. Trong tương lai gần (đến năm 2020 - 2025) Việt Nam nên có “Luật Đánh giá
tác động môi trường” (dĩ nhiên bao gồm cả ĐMC và cam kết bảo vệ môi trường) và đến
năm 2020 một tạp chí khoa học chuyên ngành về ĐTM cũng cần được xuất bản để tập
trung và khuyến khích các nghiên cứu đặc thù về phương pháp luận và tác động do tự
nhiên hoặc hoạt động của con người đến môi trường, sức khỏe, xã hội. Luật về đánh giá
tác động môi trường đã ra đời từ năm 1994, và hiệu quả của nó với hoạt động ĐTM là
không thể chối cãi. Việt Nam muốn hoạt động ĐTM được diễn ra một cách tự nguyện,
khách quan, hiệu quả và thực sự có ý nghĩa với bảo vệ môi trường thì một luật chuyên
ngành là không thể thiếu. Hơn nữa một tạp chí khoa học chuyên ngành về ĐTM cũng góp
phần rút kinh nghiệm và tổng kết hoạt động ĐTM qua từng giai đoạn, để hạn chế cái
chưa được và phát huy cái tốt rồi, đồng thời cũng là diễn đàn để các cá nhân, tổ chức có

xã hội. Với các đối tượng này lại phải có biện pháp khả thi, đặc thù địa phương, đối
tượng bảo tồn, có tham khảo tài liệu quốc tế, trong nước, chứ không sao chép từ hướng
dẫn kỹ thuật.
6. Không nên có điều, khoản nào trong Luật, nghị định, thông tư, hướng dẫn kỹ
thuật yêu cầu báo cáo ĐTM phải nêu rõ: danh mục, số lượng thiết bị bị xử lý môi trường,
nước, năm sản xuất; số lượng chủng loại hóa chất, hoặc khối lượng đất thải, số lượng
công nhân, số lượng chất lượng xe, máy…Không có hướng dẫn ĐTM của các nước tiên
tiến nào nêu yêu cầu bất khả thi như vậy vì thực tế thi công tại hiện trường cụ thể, mua
sắm thiết bị qua đấu thầu sẽ khác với những gì đã nêu trong báo cáo nghiên cứu khả thi
(nếu báo cáo ĐTM nào cung cấp đúng và đủ các thông tin trên chắc chắn số liệu đó chỉ là
phỏng đoán, không đáng tin). Để công tác giảm thiểu được thực hiện sát thực tế và có
hiệu quả điều quan trọng trong ĐTM là phải lập Kế hoạch Quản lý môi trường
14


(Environmental Management Plan - EMP) nêu rõ các loại hình tác động trong từng giai
đoạn và các biện pháp giảm thiểu tương ứng, tổ chức thực hiện, giám sát. Trên cơ sở
EMP này ngay trước khi triển khai xây dựng Chủ dự án (hoặc nhà thầu xây dựng) phải
lập “Kế hoạch Quản lý môi trường tại công trường (Site Environmental Management
Plan – SEMP). Đến lúc này SEMP mới phải nêu chi tiết từng biện pháp, từng thiết bị xử
lý, tính toán cụ thể khối lượng chất thải, xác định và thiết kế các khu đổ thải, lập kế hoạch
an toàn, kế hoạch vệ sinh môi trường khu lán trại, kế hoạch kiểm soát ô nhiễm, kế hoạch
xử lý xói lở, kế hoạch bảo vệ sức khỏe, kế hoạch trồng rừng đền bù (nếu cần), kế hoạch
bảo quản phát lộ khảo cổ ….ở mức chi tiết. SEMP đã và đang được các tổ chức WB,
JICA, ADB yêu cầu bắt buộc áp dụng cho các dự án trong giai đoạn xây. Do vậy, Luật,
Nghị định, thông tư về ĐTM nên bổ sung yêu cầu về lập Kế hoạch Quản lý môi trường
tại công trường.
7. Luật BVMT nên có quy định bắt buộc về “giám sát hậu thẩm định” đối với các
ĐTM. Quốc gia tiên tiến nào trong đó có Nhật Bản cũng xem hậu thẩm là yêu cầu quan
trọng để đảm bảo giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. Tuy nhiên trong “giám sát

và các căn bản mang tính pháp qúi như nghị định, thông tư, chỉ thị...v.v. của các cấp trong
hệ thống chính trị quá nhiều. Ngoài Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, còn có các văn
bản dưới luật cũng điều chỉnh hoạt động đánh giá tác đônngj môi trường bao gồm Nghị
định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 8 năm 2006, Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18
tháng 4 năm 2011, Nghị định số 35/2014/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2014, Nghị định
số 179/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013, Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày
18 tháng 7 năm 2011. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, cần phải luật hóa các loại văn
bản này và các đạo luật được ban hành phải tương đối chi tiết mà không cần các văn bản
dưới luật giải thích. Quản lý nhà nước về môi trường phải theo luật chứ không theo các
văn bản pháp quy như Việt Nam thì sẽ có hiệu quả hơn. Hơn nữa, trong điều kiện hội
nhập quốc tế hiện nay, việc hoàn thiện hệ thống luật theo thông lệ quốc tế là một đòi hỏi
bức xúc, trong đó có các luật liên quan tới bảo vệ môi trường. Có thể nói, việc làm này là
hết sức quan trọng bởi nó tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý môi trường và tạo cơ sở
để nâng cao năng lực quản lý ô nhiễm môi trường ở nước ta.
Phải thừa nhận rằng, cách thức xây dựng cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về
môi trường như của Nhật Bản nhất là trong lĩnh vực đánh giá tác động môi trường là một
16


kinh nghiệm tốt để Việt Nam có thể vận dụng, bởi hiện nay, chúng ta đang thực thi xây
dựng nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền do dân vì dân. Làm được
như vậy hoạt động quản lý xã hội nói chung và quản lý ô nhiễm môi trường nói riêng sẽ
có hiệu quả hơn.
-

Gia tăng vai trò của chính phủ trong hoạt động quản lý ô nhiễm môi trường. Theo truyền
thống, chính phủ tại các nước công nghiệp phát triển có vai trò không lớn trong điều tiết
các hoạt động kinh tế, xã hội mà Nhật Bản cũng không là một ngoại lệ. Song riêng trong
trường hợp quản lý môi trường đặc biệt cả hoạt động đánh giá tác động môi trường,
Chính phủ Nhật Bản có vai trò rất lớn. Phải chăng tầm quan trọng của môi trường đối với

hoạch định chính sách, kết hợp với một chương trình truyền thông sâu rộng để nâng cao
nhận thức của người dân, nhất là những người sống ở đô thị về công tác bảo vệ môi
trường. Cho dù còn nhiều việc phải làm, song từ thực tế công tác bảo vệ môi trường nói
chung và công tác ĐTM nói riêng của Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với việc
thực thi những giải pháp đã đề xuất ở trên, có thể lạc quan dự báo rằng, năng lực quản lý
ô nhiễm môi trường đô thị Việt Nam sẽ được gia tăng và môi trường đô thị nhất định sẽ
được cải thiện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Luật Bảo vệ môi trường 2005
Bài viết: “MÔI TRƯỜNG THIÊN NHIÊN NHẬT BẢN VÀ Ý THỨC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CỦA NGƯỜI DÂN NHẬT BẢN” của Đinh Thị Minh Duyên, Nguyễn Tường
Vy, Nguyễn Thu Lê Khoa Ngôn ngữ và Văn hoá Phương Đông-ĐH Ngoại Ngữ-ĐH QG
Hà Nội.
Bài viết: “QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG Ở NHẬT BẢN VÀ NHỮNG GỢI Ý
CHO VIỆT NAM” của TS. Nguyễn Thị Ngọc-Viện nghiên cứu Đông Bắc Á đăng trên
trang chủ Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam ngày 14 tháng 3 năm 2013. Đường
18


link: http://www.inas.gov.vn/162-quan-ly-nha-nuoc-ve-moi-truong-o-nhat-ban-va-nhunggoi-y-cho-viet-nam.html
Bài viết: “SỰ RA ĐỜI CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
Ở MỘT SỐ QUỐC GIA” của Chu Mạnh Hùng đăng trên trang Trung tâm văn hoá học và
ứng dụng-ĐHQG thành phố Hồ Chí Minh-Trường ĐHKHXH&NV. Đường link:
http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-hoc-ung-dung/van-hoa-quan-tri/2370-chumanh-hung-su-ra-doi-cua-viec-danh-gia-tac-dong-moi-truong-o-mot-so-quoc-gia.html
Bài viết: “Một số vấn đề trong nghiên cứu Đánh giá môi trường chiến lược, Đánh giá tác
động môi trường ở các quốc gia Đông Bắc Á và khuyến nghị” của Lê Trình đăng trên
trang chủ Viện Khoa học Môi trường và Phát triển ngày 31 tháng 1 năm 2014. Đường
link:
http://vesdec.com.vn/index.php?language=vi&nv=scientific&op=Bao-cao-khoahoc/Mot-so-van-de-trong-nghien-cuu-Danh-gia-moi-truong-chien-luoc-Danh-gia-tacdong-moi-truong-o-cac-quoc-gia-Dong-Bac-A-va-khuyen-nghi-53


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status