Pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam. ThS. Luật - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THANH TÙNG “PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƢỜNG
TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ Ở VIỆT NAM” LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Vũ Quang Hà Nội, 2013
MỤC LỤC

Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt i
Danh mục các bảng ii
Danh mục các biểu đồ iii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƢỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ Ở VIỆT NAM 6
1.1. Khái quát chung về đánh giá tác động môi trƣờng 6
1.1.1. Sự ra đời và phát triển của đánh giá tác động môi trường 6
1.1.2. Khái niệm đánh giá tác động môi trường 9
1.1.3. Bản chất pháp lý của đánh giá tác động môi trường 13
1.1.4. Yêu cầu của quá trình đánh giá tác động môi trường 13
1.1.5. Ý nghĩa của quá trình đánh giá tác động môi trường 14
1.1.6. Các giai đoạn chính của quá trình đánh giá tác động môi trường 16

2.3. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đánh giá
tác động môi trƣờng trong hoạt động đầu tƣ 58
Kết luận chương 2 66
Chƣơng 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
MÔI TRƢỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ Ở VIỆT NAM 67
3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về đánh giá tác động môi trƣờng
trong hoạt động đầu tƣ ở Việt Nam 67
3.1.1. Công tác đánh giá tác động môi trường trong hoạt động đầu tư ở Việt
Nam 67
3.1.2. Thực thi pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động đầu
tư ở Việt Nam của các tổ chức, cá nhân 79
3.2. Những tồn tại của pháp luật về đánh giá tác động môi trƣờng trong
hoạt động đầu tƣ ở Việt Nam 85
3.2.1. Một số văn bản quy phạm pháp luật về đánh giá tác động môi trường
trong hoạt động đầu tư không đồng bộ, chồng chéo và thiếu tính khả thi 85
3.2.2. Một số văn bản hướng dẫn về đánh giá tác động môi trường không
thống nhất với Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 87
3.2.3. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam phục vụ quá trình lập và thẩm
định báo cáo đánh giá tác động môi trường còn chưa đầy đủ 88
3.2.4. Chưa có quy định kiểm soát chất lượng báo cáo đánh giá tác động môi
trường 90
3.3. Kiến nghị phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về đánh giá tác
động môi trƣờng trong hoạt động đầu tƣ ở Việt Nam 91
3.3.1. Ban hành quy định đảm bảo chất lượng của báo cáo đánh giá tác động
môi trường 92
3.3.2. Quy định cơ chế đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào quá trình
đánh giá tác động môi trường 92
3.3.3. Quy định rõ trách nhiệm đối với chủ thể tham gia vào việc lập, thẩm
định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường 93
iii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải tập
trung tại các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động 81 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, sự suy thoái và ô nhiễm môi trường đã để lại nhiều hậu quả
bất lợi như: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm tiếng ồn gây
nên sự biến đổi về môi trường, khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống
của con người. Điều đó đã gióng lên hồi chuông báo động đòi hỏi các quốc
gia trên thế giới phải có những biện pháp thiết thực để bảo vệ môi trường.
Liên Hợp Quốc - tổ chức quốc tế lớn nhất thế giới hiện nay đã nhiều lần tổ
chức hội nghị về môi trường nhằm giảm nhẹ các tác động của ô nhiễm môi
trường, thay đổi khí hậu lên môi trường sống của con người bằng việc tuân
thủ nghiêm ngặt các quy định bảo vệ môi trường. Có thể nói đây là vấn đề
bức thiết mang tính toàn cầu, bảo vệ môi trường đã trở thành mối quan tâm
hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Ở Việt Nam, từ những năm đầu của thế kỷ XXI, đặc biệt là sau khi
nước ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới – WTO, nền kinh tế nước ta đã
phát triển nhanh chóng, các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước đã không
ngừng đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được,

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay vẫn xảy ra nhiều vụ việc vi phạm pháp
luật gây ô nhiễm môi trường do các hoạt động đầu tư gây ra được dư luận đặc
biệt quan tâm như: Vụ công ty Vedan xả thải nước thải không qua xử lý ra
sông Thị Vải tại tỉnh Đồng Nai, vụ công ty Tung Kuang ở Hải Dương xả thải
chất độc ra môi trường, gây ra nhiều bức xúc cho xã hội. Vấn đề đặt ra ở
đây là: tại sao các vụ việc như vậy vẫn xảy ra trên thực tế, thậm chí còn có xu
hướng gia tăng? Liệu hoạt động quản lý môi trường, hoạt động về ĐTM trong
hoạt động đầu tư ở Việt Nam hiện nay có vấn đề gì không? Có cần phải thay
đổi hay bổ sung gì không? Để hạn chế xảy ra các vụ việc tương tự cũng như

3
hoàn thiện hơn nữa pháp luật về ĐTM ở Việt Nam chúng ta cần phải có
những công trình khoa học nghiên cứu kỹ lưỡng từ các biện pháp công trình
đến phi công trình, trong đó các đề tài nghiên cứu pháp luật về đánh giá ĐTM
trong hoạt động đầu tư là hết sức cần thiết.
Như vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành và tìm
hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về ĐTM trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam;
từ đó, tìm ra hướng hoàn thiện pháp luật và đề xuất một số biện pháp nhằm
thực thi có hiệu quả pháp luật về ĐTM trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam,
góp phần vào việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường là
việc làm hết sức cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Đây chính là lý
do luận chứng cho việc tôi quyết định lựa chọn đề tài “Pháp luật về đánh giá
tác động môi trƣờng trong hoạt động đầu tƣ ở Việt Nam” làm Luận văn
thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
ĐTM ở nước ta đã được nghiên cứu và đề cập từ nhiều năm nay. Tuy
nhiên, những nghiên cứu sâu về pháp luật về ĐTM trong hoạt động đầu tư ở
nước ta thì vẫn còn hạn chế.
Liên quan đến đề tài này có Luận án tiến sĩ “Những vấn đề pháp lý của
việc đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư” của Lê Sơn Hải –

Việc nghiên cứu của đề tài nhằm mục đích sau:
- Làm rõ thực trạng hoạt động ĐTM trong họat động đầu tư ở Việt Nam;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về ĐTM trong hoạt động đầu tư.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của đề tài
Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện pháp
luật về ĐTM trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam. Luận văn dự kiến đạt được:
- Lý luận về ĐTM, các khái niệm, nội hàm… làm cơ sở khoa học cho
các nghiên cứu ở phần sau.

5
- Thực trạng pháp luật về ĐTM trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam, các
phân tích, luận giải chuyên sâu…
- Kinh nghiệm các nước
- Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về ĐTM
trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm 3 phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết
luận. Phần nội dung bao gồm các chương:
Chương 1. Tổng quan đánh giá tác động môi trường và pháp luật về
đánh giá tác động môi trường trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam
Chương 2. Thực trạng pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong
hoạt động đầu tư ở Việt Nam
Chương 3. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam
Bằng vốn kiến thức đã được trang bị ở nhà trường, nỗ lực của bản thân,
kinh nghiệm thực tiễn và sự chỉ dẫn tận tình của thầy giáo hướng dẫn, Tiến Sỹ
Vũ Quang, tôi không có tham vọng đưa ra được những giải pháp và phương
hướng tối ưu để hoàn thiện pháp luật về ĐTM trong các hoạt động đầu tư ở
Việt Nam hiện nay, nhưng mong muốn góp phần tạo cơ sở bước đầu cho việc
hoàn thiện pháp luật về ĐTM trong thời gian tới. Ngoài ra, những nghiên cứu

liệu được những tác động nào là tiêu cực để hạn chế. Đòi hỏi này của thực tiễn đã
dẫn đến sự hình thành nên khái niệm ĐTM.
Vào những năm 60, 70 của thế kỷ trước, người dân tại các nước công
nghiệp phát triển quan tâm sâu sắc hơn tới nhân tố chất lượng môi trường.
Những nguy cơ về thảm họa môi trường do sự phát triển công nghiệp mang

7
lại đã biến mối quan tâm về môi trường thành những vấn đề chính trị rất quan
trọng tại nhiều quốc gia. Chính phủ nhiều nước phải đề ra những đường lối,
chính sách cụ thể về môi trường. Việc cần thiết phải đánh giá toàn diện những
hậu quả kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình thực hiện những dự án
phát triển đã trở thành những nghĩa vụ pháp lý. Chính vì vậy, thuật ngữ ĐTM
đã xuất hiện trong chính sách và luật pháp môi trường của một số nước [23].
Hoa kỳ là quốc gia đầu tiên trên thế giới chính thức đưa khái niệm
ĐTM vào trong pháp luật môi trường của nước mình. Năm 1970, Hoa kỳ
thông qua Luật về chính sách môi trường quốc gia, trong đó yêu cầu phải tiến
hành ĐTM đối với các hoạt động ở cấp liên bang có khả năng ảnh hưởng
nhiều tới chất lượng môi trường sống của con người. Ngay sau đó, khái niệm
ĐTM đã lan rộng sang nhiều hệ thống pháp luật khác như Anh, Đức và phần
lớn các nước Bắc Âu [23].
Năm 1973 và 1977, các Bộ trưởng Bộ môi trường các nước thành viên
EC đã nhóm họp để xem xét về chương trình hành động môi trường của Cộng
đồng. Ngày 27/6/1985 EC ra Hướng dẫn 85/337/EC về ĐTM như là bước
thực hiện những thỏa thuận đạt được tại các kỳ họp trên. Các nước thuộc cộng
đồng châu Âu đã yêu cầu đáp ứng các quy định của hướng dẫn trên. Theo
hướng dẫn của EC thì ĐTM là việc xác định, mô tả và đánh giá các hoạt động
trực tiếp hoặc gián tiếp của dự án tới con người, hệ động, thực vật, đất, nước,
không khí… cũng như sự tác động qua lại lẫn nhau của các yếu tố này.
Ngoài ra, các tổ chức tài chính quốc tế cũng tích cực thúc đẩy việc tiến
hành ĐTM tại các nước thành viên. Chẳng hạn như Ngân hàng phát triển châu

những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện chính sách BVMT. Theo
Điều 17 Hiến pháp năm 1992, thì rừng núi, sông ngòi, đất đai và các tài

9
nguyên thiên nhiên khác ở nước ta đều thuộc sở hữu toàn dân nên việc thực
hiện chính sách thống nhất, những biện pháp khẩn cấp để BVMT có cơ sở
pháp lý khá vững chắc.
Ngày 27/12/1993, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã thông qua Luật BVMT đã tạo nên bước ngoặt quan trọng trong công tác
BVMT ở Việt Nam. Luật này đã quy định các tổ chức và cá nhân khi tiến
hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh theo pháp luật Việt Nam phải thực
hiện ĐTM dưới các hình thức khác nhau. Qua hơn 12 năm thực hiện, các quy
định của Luật BVMT năm 1993 nói chung, các quy định về ĐTM nói riêng đã
góp phần rất lớn vào công cuộc BVMT, phát triển bền vững đất nước. Đã có
hàng nghìn dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện trách nhiệm lập báo
cáo ĐTM, qua đó đã đề ra và thực hiện những giải pháp thiết thực về BVMT,
trong đó có những dự án quan trọng cấp quốc gia như dự án xây dựng đường
Hồ Chí Minh, dự án xây dựng Nhà máy thủy điện Sơn La… [22]
Để khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật về môi trường, ngày 29
tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật BVMT (sửa đổi) có nội dung
phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và phù hợp với xu
thế chung của thế giới. Trong đó, khẳng định yêu cầu thực hiện ĐTM đối với
các dự án đầu tư. Từ đây pháp luật về ĐTM trong hoạt động đầu tư đã dần đi
vào ổn định và hoàn thiện hơn.
1.1.2. Khái niệm đánh giá tác động môi trƣờng
Trên thế giới, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những định nghĩa khác
nhau về ĐTM. Tuy những định nghĩa này có điểm khác nhau về diễn đạt
nhưng về nội dung cơ bản thì thống nhất với nhau, điển hình như:
Định nghĩa của Munn (1979), theo đó ĐTM cần phải “phát hiện và dự
đoán những tác động đối với môi trường cũng như đối với sức khoẻ và sự


11
đến môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, của các
cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc
phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về BVMT”.
Định nghĩa này của Việt Nam chứa đựng những yếu tố giống như định
nghĩa của các bang của Australia. Khoa học luật môi trường của Australia
định nghĩa: “ĐTM là cách thức đánh giá một dự án phát triển mà theo đó
những tác động có thể về môi trường được xác định và được giảm thiểu” [22].
Luật BVMT năm 2005 đã đưa ra định nghĩa khá ngắn gọn về ĐTM:
“ĐTM là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự án đầu tư
cụ thể để đưa ra các biện pháp BVMT khi triển khai dự án đó” (khoản 20
Điều 3). Như vậy, định nghĩa này của Việt Nam đã cân nhắc đến những đặc
tính pháp lý cơ bản của những khái niệm tương ứng được sử dụng rộng rãi
trên thế giới.
Theo Luật BVMT năm 2005, có 3 loại hoạt động đánh giá môi trường
là: (i) Đánh giá môi trường chiến lược (sau đây viết tắt là ĐMC); (ii) ĐTM và
(iii) Cam kết BVMT. Trong phạm vi Luận văn này, tác giả chỉ đi sâu nghiên
cứu ĐTM. Tuy nhiên, để hiểu rõ được ĐTM là gì thì chúng ta cần phải so
sánh ĐTM với ĐMC và cam kết BVMT.
(ii) ĐMC: là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của dự
án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo
đảm phát triển bền vững (khoản 19 Điều 3 Luật BVMT năm 2005)
Qua định nghĩa trên cho ta thấy về cơ bản, ĐMC và ĐTM đều dựa trên
nguyên tắc phát hiện, dự báo và đánh giá những tác động tiềm tàng của hoạt
động phát triển có thể gây ra đối với môi trường tự nhiên, kĩ thuật – xã hội, để
từ đó đưa ra các giải pháp nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu và xử lý các tác động
tiêu cực tới mức thấp nhất có thể chấp nhận được [22]. Quy trình thực hiện
của ĐTM và ĐMC đều được thực hiện qua các bước sàng lọc, xác định phạm


ĐTM chúng ta cũng cần phải biết về bản chất pháp lý của nó. Khi tìm hiểu về
bản chất của ĐTM chúng ta có thể xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới
mỗi góc độ ĐTM lại được nhìn nhận một cách khác, cụ thể như sau:
Xét dưới góc độ quản lý, ĐTM được coi là biện pháp quản lý nhà nước
về môi trường.
Xét dưới góc độ khoa học thì ĐTM là những nghiên cứu về mối liên hệ,
những tác động biện chứng giữa các chính sách, hoạt động phát triển và môi trường.
Xét dưới góc độ là khái niệm pháp lý thì ĐTM là hệ thống các quan hệ
pháp luật hình thành giữa cơ quan quản lý nhà nước với các cơ quan, tổ chức,
cá nhân đề xuất, thực hiện các chính sách, hoạt động phát triển trong việc
khảo sát và đánh giá tác động của các hoạt động phát triển đó đối với các yếu
tố của môi trường cũng như các giải pháp giảm thiểu các tác động đó [22].
Xét ở khía cạnh chủ quan của pháp luật thì ĐTM là hệ thống các quy
tắc xử sự mà các chủ thể cần phải thực hiện khi tiến hành dự án phát triển có
khả năng tác động tới môi trường [22].
Như vậy, bản chất của ĐTM thể hiện ở chỗ nó là nghĩa vụ pháp lý phát
sinh từ yêu cầu của quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, từ nghĩa vụ hiến
định của tất cả cá nhân, tổ chức về BVMT.
1.1.4. Yêu cầu của quá trình đánh giá tác động môi trƣờng
Mục đích cơ bản của quá trình ĐTM là bảo đảm hài hòa sự phát triển
kinh tế - xã hội với việc BVMT hay nói cách khác là tạo ra sự phát triển bền
vững. Để thực hiện mục đích này, quá trình ĐTM cần bảo đảm một số yêu
cầu cơ bản sau đây:
Một là, ĐTM phải được đặt trong thể thống nhất của yêu cầu phát triển
và không được đối lập với sự phát triển. Chỉ khi đặt việc ĐTM trong sự thống

14
nhất với hoạt động phát triển kinh tế - xã hội thì mới có thể tạo ra được sự
quan tâm thực sự của Nhà nước, của tổ chức, cá nhân tới việc BVMT. Các
biện pháp giảm thiểu tác động của môi trường trong trường hợp này sẽ trở

Thứ hai là, ĐTM góp phần ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các chủ
dự án, các cơ sở. Một trong những nội dung quan trọng của quá trình ĐTM đó
là hoạt động giám sát dự án. Hoạt động này giúp cho cơ quan có thẩm quyền
xem xét hoạt động của các cơ sở có vi phạm những gì mà họ đã cam kết trong
báo cáo ĐTM đã được phê duyệt hay không.
Kết quả của ĐTM được thể hiện dưới hình thức văn bản gọi là báo cáo
ĐTM. Đây là văn bản quan trọng và sau khi được cơ quan có thẩm quyền
thẩm định, phê duyệt sẽ có ý nghĩa rất lớn, cụ thể như sau:
- Là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định cho phép
triển khai thực hiện dự án.
- Là cơ sở để xác định trách nhiệm của các chủ thể của dự án về những
hậu quả gây ra đối với môi trường sau này.
- Là căn cứ để xác định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với
những hậu quả mà dự án gây ra đối với môi trường, đặc biệt là cơ quan trực
tiếp thẩm định báo cáo.
Như vậy, qua phân tích trong phần này ta thấy ĐTM có ý nghĩa hết sức
quan trọng trong việc xét duyệt và quyết định triển khai thực hiện dự án đầu
tư. Song nó chỉ là một nhân tố bên cạnh những nhân tố khác của sự quyết
định như nhân tố kỹ thuật, kinh tế-xã hội. ĐTM không có ý nghĩa phủ quyết
đối với quyết định chung và thường xét đến trước tiên. Trong thực tế, nhiều
báo cáo ĐTM chỉ là tài liệu tham khảo phụ thêm cho người ra quyết định.

16
1.1.6. Các giai đoạn chính của quá trình đánh giá tác động môi trƣờng
Trong quá trình ĐTM được chia thành các giai đoạn chính. Các giai
đoạn của quá trình này ở Việt Nam cũng được áp dụng tại nhiều nước trên thế
giới. Các giai đoạn này bao gồm:
- Giai đoạn sàng lọc: Đây là giai đoạn xác định đối tượng phải tiến
hành ĐTM. Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam đã đưa ra một
cách tương đối rõ ràng danh mục các dự án cần phải tiến hành ĐTM.

tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội” [33].
Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các
nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế, xã hội những kết quả trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó [21].
Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để xây dựng và phát triển kinh tế, là “chìa
khóa” của sự tăng trưởng kinh tế. Các nguồn lực được sử dụng để đầu tư có
thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ. Trong cơ chế thị
trường, hoạt động đầu tư có thể do những chủ thể khác nhau tiến hành và
ngày càng đa dạng, phong phú cả về tính chất và mục đích. Tuy vậy, mọi hoạt
động đầu tư suy cho cùng đều nhằm mang lại những lợi ích xác định. Những
lợi ích đạt được của đầu tư có thể là sự tăng thêm tài sản vật chất, tài sản trí
tuệ hay nguồn nhân lực cho xã hội. Kết quả đầu tư không chỉ là lợi ích trực
tiếp cho nhà đầu tư mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội.
Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình
thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích
lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác. Hoạt động đầu tư có thể có tính chất
thương mại hoặc phi thương mại. Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn xây
dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là

Trích đoạn Trình tự, thủ tục thẩm định và quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá Kiểm tra, giám sát sau thẩm định Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đánh giá Các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam phục vụ quá trình lập và thẩm Kiến nghị phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về đánh giá tác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status