đánh giá tác động tổng thể khi việt nam trở thành thành viên của wto đến thay đổi xuất nhập khẩu và thể chế - Pdf 24

- HOẠT ĐỘNG HOR- 9

“Đánh giá tác động tổng thể khi Việt Nam
trở thành thành viên của WTO đến thay đổi xuất nhập khẩu và thể chể"

BÁO CÁO CUỐI CÙNG
Nhóm tác giả

Claudio Dordi, Michel Kostecki, Francesco Abbate, Andrina Lever & Paul Baker



Phạm Chi Lan, Lê Đăng Doanh,Võ Trí Thành, Đinh Hiền Minh,
Nguyễn Thị Lan Hương, Trần Thị Miêng, Nguyễn Đức Thanh,
Dương Ngọc Thí, Bùi Trung Nghĩa, Đặng Đức Anh, Nguyễn Đăng Bình,
Nguyễn Lê Minh, Nguyễn Ngọc Sơn, Bùi Thanh Huấn và Nguyễn Thị Thủy

THIỆU 2
1. Nội dung nghiên cứu 2
2. Những khó khăn khi đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn của cải cách theo các cam kết khi gia
nhập WTO 3
3. Không thể (hoặc không có khả năng) đo lường tác động mang tính chủ quan và dài hạn 3
TÓM TẮT 5
CHƯƠNG
I. TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VĨ MÔ 14
1. Giới thiệu 14
2. Cơ sở lý luận về tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế vĩ mô 15
3. Kinh tế vĩ mô của Việt Nam sau một năm gia nhập 19
3.1. Cơ cấu và tăng trưởng kinh tế 19
3.2. Cán cân thương mại 24
3.3. Thu ngân sách 27
3.4. Cán cân thanh tóan và chu chuyển vốn 31
3.5. Chính sách tiền tệ và tỷ giá 33
4. Kết luận và các bài học rút ra 38
5. Tài liệu tham khảo 41
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG 44
1. Giới thiệu: cải cách chính sách thương mại, kết quả thương mại và phát triển: Cách tiếp cận lý
luận 44
2. Lợi ích mong đợi và mối nguy tiềm tàng: mô hình biến hoá 47
3. Ảnh hưởng của WTO đến thương mại hàng hoá của Việt nam 51
3.1. Mức tăng trưởng xuất nhập khẩu và thị phần trên thế giới của Việt nam 51

3.2. Chỉ số mở cửa của Việt nam 53
3.3. Chỉ số tập trung 54
3.4. Chỉ số đa dạng 55
3.5. Cơ cấu thương mại 57
3.6. Cán cân thương mại theo sản phẩm 60

3.5. Cơ cấu sở hữu ngành công nghiệ
p 133
4. Tăng trưởng sản lượng công nghiệp 134
5. Xuất khẩu hàng chế biến theo mức độ sử dụng nhân tố sản xuất 136
6. Các đặc trưng khác của ngành công nghiệp 139

iv
6.1. Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 139
6.2. Hiệu quả của ngành công nghiệp 139
7. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và ngành công nghiệp Việt Nam 141
7.1. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế 141
7.1.1. Chỉ số RCA và ERP về sức cạnh tranh và bảo hộ 141
7.1.2. Xếp hạng quốc tế về năng lực cạnh tranh của Việt Nam 143
7.2. Năng lực cạnh tranh nhị nguyên củ
a thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước 145
8. Tác động của thay đổi chính sách 145
9. Các kiến nghị hành động 147
10. Tài liệu tham khảo 150
Phụ lục 152
CHƯƠNG
III. PHẦN II. TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTOTỚI NÔNG NGHIỆP
VIỆTNAM 153
1. Nền tảng cơ sở của nông nghiệp Việt Nam 153
1.1. Đầu tư cho nông nghiệp 153
1.2.Tăng trưởng GDP và chuyển biến vị thế của ngành nông nghiệp 153
2. Thương mại nông sản 1 năm sau khi gia nhập WTO 155
3. Tác động mong đợi của gia nhập WTO lên thương mại hàng nông sản 157
3.1. Tác động lên thương mại 157
3.2. Các nguyên tắc của WTO về trợ cấp và chính sách thương mại nông sản 162
3.3. Tác động của gia nhập WTO đến thu nhập của nông dân và đói nghèo ở nông thôn 164

6.2. Ấn Độ 270
6.3. Nam Phi 270
6.4. Đ
ài Loan Trung Quốc 271
7. Bài học kinh nghiệm 273
8. Khuyến nghị nhằm thúc đấy sự phát triển thành công của khu vực DNNVV sau khi gia nhập WTO 273
9. Tài liệu tham khảo 276
CHƯƠNG V: TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 278
1. Tự do hóa thương mại và nghèo đói: phương pháp tiếp cận khung khái niệm 278
1.1. Mối liên kết kinh tế vĩ mô 279
1.2. Mối liên kết kinh tế vi mô 279
1.2.1. Hệ thống phân phối 280
1.2.2. Doanh nghiệp: lợi nhuận, tiền lương và việc làm 282
1.2.3. Thuế mậu dịch và chi tiêu chính phủ 284

vi
2. Mô hình tổng thể về nền kinh tế và các nghiên cứu ngành 285
3. Nghiên cứu thực tiễn 288
3.1. Xóa đói giảm nghèo 288
3.2. Phát triển con người 290
3.3. Việc làm 292
3.4. Tiền lương 294
3.5. Quan hệ lao động 296
3.6. Vấn đề giới 297
3.7. Lao động trẻ em 300
4. Các tác động tiêu cực dự kiến 302
4.1. Tác động của một số cam kết khi gia nhập WTO 302

4.1.1. Nông nghiệp 303
4.1.2. Công nghiệp 304


Nghiên cứu này được tài trợ bởi dự án MUTRAP nhằm tập trung đánh giá tác động về cải cách
thể chế và thương mại mà Việt Nam đã thực hiện trong quá trình gia nhập WTO. Đặc biệt, với sự
hợp tác của các chuyên gia trong nước và Liên minh Châu Âu, nghiên cứu này tập trung phân
tích vào những chủ đề sau:

1. Tác động đến các chính sách kinh tế vĩ mô;
2. Tác động đến hoạt động ngoại thương;
3. Tác động đế
n một số ngành, cụ thể là công nghiệp và nông nghiệp
4. Tác động đến môi trường kinh doanh và đầu tư nước ngoài;
5. Tác động đến xã hội.

Phương pháp nghiên cứu của báo cáo dựa chủ yếu vào phân tích số liệu định lượng và định tính
như phỏng vấn, điều tra, với mục tiêu chủ yếu là đánh giá về tình hình kinh tế xã hội sau một
năm gia nhập WTO. Các tài liệu liên quan, đặc biệt về tác động của tự do hóa thương mại về
kinh tế xã hội, cũng được xem xét. Nghiên cứu cũng không dựa trên việc áp dụng các mô hình
kinh tế lượng với các giả định không thực tế và chuỗi số liệu không đủ dài. Các kết luận của báo
cáo được dựa trên suy luận logic và vào các số liệu thu thập được; đồng thời các tác giả cũng
nhận thức được rằng cải cách thương mại theo quy định của WTO chỉ phần nào giải thích được
xu thế của của các biến số được phân tích.

Có thể nhận thấy rằng tác động ngắn hạn của việc thực hiện các quy tắc của WTO đến nền kinh
tế của một quốc gia mới gia nhập có thể không lớn do các lĩnh vực phải tuân thủ theo các quy tắc
của WTO chỉ bao gồm thương mại hàng hóa và dịch vụ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Hơn nữa,
hầu hết các các quy định trong cam kết với WTO mang tính tiêu cực (ví dụ như không phân biệt
đối xử, không được dùng hạn chế định lượng, ) hơn là mang tính tích cực. Điều đó có nghĩa là
các cải cách kinh tế mà Việt Nam thực hiện chú yếu trên tinh thần tự nguyện hoặc do các ràng
buộc bên ngoài không liên quan đến việc gia nhập WTO. Tuy nhiên, tư cách thành viên của
WTO cũng thúc đẩy mở cửa thị trường; và do đó Việt Nam buộc phải thực hiện các hoạt động hỗ

tác động của việc gia nhập WTO.

Thứ tư, giá trị của các tham số và chỉ số được chọn lựa để đánh giá tác động của việc gia nhập có
thể chịu tác động của các biến ngoại sinh (ví dụ như biến động giá trên thị trường quốc tế, chi phí
của các nguyên liệu thô, )

Thứ năm, cần nhấn mạnh rằng tác động của những cải cách thương mại gần đây chỉ có thể được
đánh giá trong dài hạn, tức là sau khi các điều chỉnh trong nước đã được th
ực hiện toàn bộ như
thay đổi về mô hình sản xuất; cơ cấu lại các doanh nghiệp nhằm tập trung vào các hoạt động
kinh doanh chính để các doanh nghiệp này khai thác được lợi thế kinh tế nhờ quy mô và tác động
học hỏi; những nỗ lực sáng tạo mà các doanh nghiệp cần thực hiện để cạnh tranh trên cả thị
trường trong nước và toàn cầu với các doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, trong ngắn hạn, các
doanh nghiệp có thể thua lỗ trên thị trường do không thể tăng giá nhưng trong dài hạn, các doanh
nghiệp có thể thu được lợi nhuận từ việc tăng doanh số bán hàng và giảm chi phí. Do đó, tác
động của việc gia nhập có thể phức tạp hơn là cú sốc một lần đối với nền kinh tế. Việc tuân thủ
với các quy định của thương mại quốc tế và tăng trưởng trong nội tại nền kinh tế có thể lại có tác
động lớn nhất đến các vấn đề về kinh tế và xã hội trong trung và dài hạn

3. Không thể (hoặc không có khả năng) đo lường tác động mang tính chủ quan và dài hạn

Cần lưu ý rằng rất khó đo lường những tác động tích cực tức thời do việc gia nhập WTO của một
thành viên mới. Thứ nhất, trở thành thành viên của WTO ngăn cản các thành viên khác của
WTO áp dụng các chính sách phân biệt đối xử và hạn chế đối với hàng hóa và dịch vụ của Việt

4
Nam ngoại trừ những biện pháp đã được quy định trong các thảo thuận WTO. Thứ hai, Việt Nam
đã cải thiện được việc tiếp cận xuất khẩu đến thị trường của các nước thành viên. Các nước chưa
phải là thành viên phải đàm phán các hiệp định riêng lẻ với đối tác thương mại song phương
hoặc khu vực và có thể chịu rủi ro do sức mạnh của đối tác. Tình hu

c các quy tắc và nghĩa vụ trong tương lai của WTO thông sự
tham gia tích cực vào các cuộc đàm phán thương mại song phương. Gia nhập WTO cũng mang
tới cơ hội đàm phán nhằm tăng mức ưu đãi về thị trường và yêu cầu về giảm trợ cấp; những điều
có thể làm tổn hại đến phát triển sản xuất trong nước. Thứ tám, người ta có thể đặt câu hỏi liệu
có hay không quyết định chính sách được đưa ra và cải cách được thực hiện sau khi diễn ra
với/không với việc gia nhập WTO. Chi phí của việc không gia nhập WTO là gì? Cần lưu ý rằng
gia nhập WTO tác động đến hoạt động kinh tế thậm chí ở những kênh gián tiếp như lượng đầu tư
trực tiếp nước ngoài tăng lên do hệ thống pháp lý và kinh doanh mang tính ổn định và dự đoán
cao hơn. Hệ thống này sẽ không có được kết quả đó khi thiếu những cải cách cần thiết, trực tiếp
hay gián tiếp khi gia nhập WTO. 5
TÓM TẮT

Báo cáo này được chuẩn bị nhằm đánh tác giá tác động về kinh tế xã hội khi Việt Nam gia nhập
WTO. Các nghiên cứu về kinh tế vĩ mô, khung khổ pháp lý, xã hội và phân tích ngành đã xác
định những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi thực hiện các cam kết của mình. Các
khuyến nghị mang tính dài hạn đưa ra nhằm giúp Việt Nam củng cố thêm những lợi ích khi tham
gia vào hệ thống thương mại đa biên. Báo cáo được chia thành sáu lĩnh vực chủ yếu: kinh tế vĩ
mô, hoạt động ngoại thương, đầu tư và phát triển công nghiệp, phát triển nông nghiệp nông thôn,
môi trường kinh doanh và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tác động xã hội. 1. Tác động về kinh tế vĩ mô của việc gia nhập WTO

Năm đầu tiên gia nhập WTO của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có những biến
động bất thường. Cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng ở Mỹ dẫn đến những xáo trộn trên thị
trường tài chính quốc tế và có ảnh hưởng nhất định đến kinh tế Việt Nam. Ngoài ra cũng phải kể
đến tác động của sự tăng giá dầu và các hàng hóa khác ở mức cao kỷ lục. Năm 2007 cũng chứng


6
• Cán cân thương mại dự kiến sẽ xấu hơn trong ngắn hạn nhưng sẽ trở nên cân bằng trong dài
hạn;
• Tăng tiếp cận đến nguồn vốn từ bên ngoài và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Luồng vốn đầu
tư gián tiếp cũng được đổ vào thị trường tài chính trong nước;
• Khó khăn hơn trong quản lý chính sách tiền tệ khi đối m
ặt với dòng vốn chuyển vào nhiều,
với chính sách tỷ giá và hệ thống tài chính phát triển;

Năm đầu tiên gia nhập WTO của Việt Nam chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc, ở mức
8,5% mà nền tảng là sự tăng trưởng của đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng. Một số yếu tố đóng góp
vào sự tăng trưởng nói trên có thể do gia nhập WTO mặc dù giá cả trên thị trường thế giới ở mức
cao và xu hướng tăng vốn đầu tư trực tiếp từ khi thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam –
Hoa Kỳ cũng là các yếu tố quan trọng. Đồng thời, giá tiêu dùng dường như đã vượt ra khỏi tầm
kiểm sóat và tăng ở mức hai chữ số, tín dụng tăng ở mức báo động và cán cân thương mại bị suy
giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, trái ng
ược với các dự báo, giảm thuế khi gia nhập WTO không
làm giảm nguồn thu từ thuế. Thay vào đó, thu ngân sách thực tế đã tăng trong năm 2007 với mức
đóng góp nhiều hơn của nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu đến tổng thu ngân sách. Điều này một
phần là do giảm thuế của Việt Nam theo cam kết WTO là tương đối nhỏ và được thực hiện dần
dần, do đó chỉ tác động đến một số ít ngành. Quan trọng hơn, tăng nhập khẩu đã dẫn đến mức
thuế được áp dụng cho diện thu thuế lớn hơn. Chính phủ cũng thực hiện các cải cách mạnh mẽ
về thủ tục hải quan và chính sách thuế trong năm trước và tiếp tục được phát huy trong năm đầu
gia nhập đã nâng được tỷ lệ thu thuế.

Nền kinh tế của Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào xu thế biến động trên thị trường thế giới khi
gia nhập WTO với việc tăng rủi ro đối với hàng nhập khẩu và cũng như tăng rủi ro đối với thị
trường xuất khẩu. Ngoài ra, các dòng vốn đầu tư gián tiếp cũng ngày càng tăng để tài trợ cho
thâm hụt thương mại, có thể dẫn đến sự đảo chiều vốn nhanh khi có sự thay đổi về kỳ vọng của

cố định tỷ giá, chính sách tiền tệ độc lập và tài khoản vốn mở ngày càng mất tính bền vững. Hơn
nữa, cơ chế tỷ giá cố định sẽ kéo dài quá trình điều chỉnh n
ền kinh tế tới điểm cân bằng mới khi
thực hiện các cam kết gia nhập. Như vậy, các cơ quan quản lý cần tiến hành điều chỉnh chính
sách tỷ giá hiện tại, chính sách đang làm trầm trọng thêm các tổn thất mà nền kinh tế đang phải
gánh chịu trong giai đoạn điều chỉnh. 2. Tác động đến hoạt động ngoại thương

Không thể tách riêng tác động đến hoạt động ngoại thương do cải cách theo yêu cầu của WTO
mà Việt Nam đã thực hiện đơn phương hoặc trong khuôn khổ các hiệp định thương mại khu vực
(Hiệp định thương mại tự do ASEAN, Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ)
từ lâu trước ngày ngày chính thức gia nhập WTO. Do đó, kết quả của hoạt động ngoại thương
chỉ là một phần do tác động của cải cách theo cam kết với WTO.

Cải cách thương mại đóng góp tích cực vào mở cửa của nền kinh tế, làm cho kinh tế Việt Nam
nhạy cảm hơn với các cú sốc của kinh tế thế giới như việc gia tăng bất thường gần đây trong giá
nguyên liệu thô và giá hàng hóa trên thị trường quốc tế. Thâm hụt thương mại của Việt Nam gia
tăng nhanh chóng trong năm 2007, chủ yếu do nhập khẩu thép, phôi thép, xăng dầu, máy móc,
hàng điện tử và linh kiện điện tử. Việt Nam dựa nhiều vào nhập khẩu các nguyên liệu thô và máy
móc thiết bị, đặc điểm cho thấy mức độ phát triển công nghiệp và khả năng cạnh tranh thấp đối
với hàng các sản phẩm công nghiệp nặng.

Đối với xuất khẩu, tăng tỷ trọng hàng chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu trong thời kỳ 1995
-2007 cho thấy sự mở rộng của xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nhẹ và hàng thủ công. Đặc
biệt, các lĩnh vực cho thấy sự tăng trưởng nhanh nhất là dệt may, da giầy và sản phẩm điện tử.
Các sản phẩm sơ chế trong cơ cấu xuất khẩu đã giảm tỷ trọng từ 54% đến 41% trong giai đoạn
1995 – 2005, giảm đối với tất cả các sản phẩm nông nghiệp, chỉ có giá trị xuất khẩu dầu thô tăng.
Tuy nhiên, trong năm 2006, cả sản phẩm nông nghiệp và dầu thô đều tăng giá trị xuất khẩu. Năm

chi phí tại các vùng duyên hải của Trung Quốc.

Đối với xuất khẩu, thị trường xuất khẩu đã có sự thay đổi đáng kể từ hiệp định thương mại song
phương với Hòa Kỳ. Trên thực tế, năm 2002, Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn nhất, tiếp
theo đó là Hoa Kỳ, Australia, Trung Quốc và Đức trong khi các nước Đông Nam Á là thị trường
xuất khẩu lớn thứ ba. Năm 2007, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, tiếp
theo đó là Liên minh Châu Âu, các nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Từ khi bắt đầu quá trình
Đổi Mới và thực hiện các hiệp định thương mại song phương và đa phương, Việt Nam đã đa
dạng hóa mạnh mẽ các thị trường xuất khẩu. Có thể nói Việt Nam đang chuyên môn hóa vào
“các thị trường đang đi xuống” – khi mà xuất khẩu của Việt Nam vượt quá tốc độ tăng trưởng
nhập khẩu của các thị trường này, trong đó đáng chú ý là thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức,
Anh và Italia.Trong khi đó, Việt Nam đang giảm thị phần đối với các thị trường đang phát triển
mạnh mẽ như Trung Quốc, Singapore hay Hà Lan và Hàn Quốc, nơi mà tốc độ tăng trưởng xuất
khẩu của Việt Nam thấp hơn khả năng nhập khẩu của các quốc gia này.

3. Tác động đối với công nghiệp

Từ khi tiến hành đổi mới thương mại, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã có sự dịch chuyể
n đáng kể
từ lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sang lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, trong đó có công
nghiệp chế biến. Trong quá trình công nghiệp hóa, cũng có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ trong
nội bộ ngành công nghiệp chế biến, từ những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động giản đơn sang
những lĩnh vực phức tạp và có giá trị gia tăng cao hơn.

Công nghệ sản xuất trong ngành công nghiệp chế biến đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.
Từ năm 1995 đến 2006, nhờ có sự gia tăng của FDI với việc trang bị những công nghệ tiên tiến,
tỷ trọng của các ngành có kỹ thuật trung bình và cao trong tổng sản phẩm của ngành công nghiệp
chế biến đã tăng lên đáng kể.
năm 2007, cũng có một số điểm tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam như thay đổi về thể chế và
sự ổn định kinh tế vĩ mô.

Để kết luận, đặc điểm nổi bật về cơ cấu sản xuất hiện nay của Vi
ệt Nam là tính nhị nguyên, giữa
một khu vực xuất khẩu mạnh với một khu vực nội địa yếu và được bảo hộ (cạnh tranh nhập
khẩu). Ngoài ra, có sự liên kết yếu giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong
nước, giữa các ngành sản xuất sản phẩm đầu vào và đầu ra. Trong nhiều ngành, như ngành dệt
may, da giày, điện tử, sản xuất ô tô, xe máy, hầu hết nguyên liệu và đầu vào trung gian phải nhập
khẩu. Nhiều nghiên cứu và khảo sát chỉ ra một kết quả chung là các ngành phụ trợ của Việt Nam
vừa thiếu lại vừa yếu. Nhiều ngành phụ trợ phục vụ các ngành công nghiệp mới tại Việt Nam chỉ
phát triển ở giai đoạn sơ khai, như công nghiệp đúc. Việt Nam hiện nay chỉ có những ngành phụ
trợ công nghệ thấp và trung bình, như sản xuất sản phẩm kim loại, hộp carton v.v Sự liên kết
yếu giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước cũng đã hạn chế sự phát triển
lan tỏa của FDI. Các hoạt động sử dụng hàm lượng tri thức cao như nghiên cứu và phát triển
(R&D) thực hiện bởi các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam rất hạn chế. Hầu hết các công nhân
Việt Nam được tuyển dụng để làm các công việc lắp ráp giản đơn. Mặc dù FDI ngày càng đ
óng
góp nhiều hơn trong xuất khẩu, các dự án FDI định hướng xuất khẩu trong những năm gần đây
nhìn chung có tác động trở lại hạn chế đối với các doanh nghiệp trong nước và ảnh hưởng lan tỏa
hạn chế tới nền kinh tế trong nước.

104. Tác động đối với nông nghiệp

Mặc dù tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế ngày càng giảm, nhưng ngành nông
nghiệp vẫn đóng vai trò kinh tế, xã hội quan trọng, góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định và
bền vững của nền kinh tế. Sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đã có sự tiến bộ rõ rệt về năng

ệu chững
lại hoặc tăng trưởng thấp như hoa quả, rau, hải sản, gỗ và gạo. Mặt khác, Việt Nam thành công
trong việc chuyên môn hóa vào sản xuất cà phê, sản phẩm hiện nay đang có cơ hội thị trường
thuận lợi. Tuy nhiên, Việt Nam đang mất thị phần trong thị trường cao su đang có mức tăng
trưởng cao. Xu hướng đã tồn tại trước hội nhập này dường như sẽ tiếp tục duy trì sau khi gia
nhập WTO. Nhìn chung, xuất khẩu trong năm đầu tiên là thành viên WTO dường như không bị
ảnh hưởng.

Trong 11 tháng đầu năm 2007, nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp đạt hơn 3,7 tỷ USD, tăng
31% so với cùng kỳ năm 2006. Cơ cấu sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu đã thay đổi không đáng

1
Gồm các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản

11
kể sau khi gia nhập WTO vì hầu hết hàng hóa nhập khẩu là các sản phẩm mà Việt Nam không
sản xuất được (như hạt lúa mì và bột mì) hoặc có khả năng cạnh tranh thấp (như sữa, sản phẩm
sữa, bông, đường, mỡ động vật và dầu thực vật). 5. Môi trường kinh doanh Việt Nam và các DNNVV

Mặc dù những cải cách cơ cấu quan trọng và mở cửa thị trường đã được thực hiện trước khi gia
nhập WTO, nhưng việc trở thành thành viên của tổ chức này đã tạo ra động lực thúc đẩy mạnh
mẽ hơn cho những cải cách trong nước mà nhờ đó đã cải thiện môi trường kinh doanh. Điều này
đã có tác động tích cực đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ, trao đổi kiến thức về kỹ thuật,
đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư qua biên giới về tài sản tài chính của Việt Nam.

Là một bộ phận của thị trường toàn cầu, Việt Nam đang chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ những điều
kiện khác nhau của kinh tế thế giới như sự biến động của thị trường nguồn lực và năng lượng,

o Một số lượng lớn FDI đã được cam kết tại Việt Nam từ khi gia nhậ
p WTO nhưng để tiếp tục
thu hút và nâng cao tỷ lệ giải ngân nguồn vốn đầu tư này, Việt Nam phải đưa ra nhiều giải

12
pháp để bảo vệ nhà đầu tư hơn. Ví dụ như những cải cách thể chế mới đưa ra nhiều nghĩa vụ
ủy thác cho các giám đốc nhưng không thành công trong việc thực thi các nghĩa vụ này. Việc
tăng cường trách nhiệm của giám đốc tại Việt Nam đang ở mức thấp nhất trên thế giới và do
đó cần có những cải thiện mạnh mẽ trong thời gian tới.
o Một điều đã được thừa nhận rộng rãi là khu vực DNNVV mạnh và bền vững là trung tâm của
một nền kinh tế mạnh. Sự tăng trưởng của khu vực DNNVV Việt Nam trong thời gian qua là
đáng khích lệ và kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh trong thời gian tới. Tuy nhiên, cần có
sự chú ý nhiều hơn đến đào tạo, hỗ trợ, trang bị các kỹ năng về công nghệ và quản lý trong
khu vực này nhằm giúp các DNNVV tồn tại và nâng cao khả năng cạnh tranh.
o Đối với các DNNVV, vẫn còn tồn tại những vấn đề về tiếp cận tới đất đai, tài sản, vấn đề về
cơ sở hạ tầng cũng như vấn đề về cải cách cơ cấu nhanh và trên diện rộng cần được giải
quyết.
o Đối với việc thâm nhập thị trường nước ngoài, cả hàng hóa và dịch vụ Việt Nam đều phải
đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng cao và ổn định để cạnh tranh trong các thị trường phát triển.
Cần chú ý và rút kinh nghiệm từ sự phản ứng của công chúng và sự giận dữ của người tiêu
dùng đối với các mặt hàng chất lượng kém, nhất là đồ chơi, sản phẩm y tế được sản xuất tại
Trung Quốc, những sản phẩm chứa chất độc gây ra cái chết của một số người tiêu dùng ở
nước ngoài.
o Khu vực thành thị đã thu được nhiều lợi ích từ FDI nhờ việc gia nhập WTO, nhưng khu vực
nông thôn vẫn kém phát triển. Chính quyền các địa phương phải tăng cường sự cạnh tranh
trong đầu tư nhằm đảm bảo cho các khu vực truyền thống của địa phương phát triển tốt và
hạn chế làn sóng di dân ra thành thị để tìm kiếm việc làm.
o Nhiều DNNVV cho rằng đã có sự cải thiện trong môi trường thể chế nhưng vẫn có sự khác
biệt trong quá trình thực hiện, do đó vẫn còn những hàng rào thể chế cần phải được xóa bỏ.



Báo cáo này đã đưa ra một số lựa chọn chính sách để đối phó với những ảnh hưởng tiêu cực có
thể của hội nhập kinh tế quốc tế đối với xã hội Việt Nam và tăng cường các tác động tích cực.
Những đề xuất này phù hợp với Chương trình Hành động "Hậu WTO" mà Chính phủ đã ban
hành, bao gồm:

• Tăng cường khả năng tiếp cận của người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương tới các dịch vụ
an sinh xã hội, như y tế và bảo hiểm thất nghiệp, với những giải pháp nhằm giúp tạo việc làm
cho họ.
• Hiện đại hóa luật lao động và các công cụ thị trường lao động, nâng cao vai trò của công
đoàn và thúc đẩy cơ chế 3 bên và đàm phán mang tính tập thể.
• Phát triển ngu
ồn nhân lực nhằm tăng kỹ năng của lực lượng lao động Việt Nam và đối mặt
với cạnh tranh quốc tế.
• Trợ giúp lao động di cư, bao gồm các thành viên gia đình họ ở lại địa phương, nhằm giảm
bớt gánh nặng chi phí xã hội của việc di dân trong nước.
• Hoạch định các chính sách vùng nhằm giảm bớt sự bất bình đẳng giữa các tỉnh, giữa thành
thị và nông thôn cũng như tập trung vào những người nghèo cùng cực, đồng bào dân tộc
thiểu số, những nhóm người hầu như không được hưởng những lợi ích của toàn cầu hóa.
• Thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm để theo dõi những sản phẩm nông nghiệp "dễ bị tổn
thương" hoặc nhóm dễ bị tổn thương, nhờ đó kịp thời triển khai những chương trình trợ giúp
đặc biệt trong trường họp cần thiết. Các nhóm dễ bị tổn thương nên là mục tiêu hàng đầu của
các chương trình trợ giúp nông nghiệp trong các lĩnh vực như nghiên cứu, phát triển, đào tạo,
cơ sở hạ tầng và tín dụng. Một cơ chế bảo vệ hiệu quả, tuân theo các quy định của WTO, nên
được thiết lập để bảo vệ những cộng đồng dễ bị tổn thương ở nông thôn.
• Thúc đẩy và đa dạng hóa các hoạt động xuất khẩu thông qua các kênh khác nhau, như trợ
giúp về tài chính và kỹ thuật để xúc tiến xuất khẩu; nâng cao năng suất của các doanh nghiệp
thông qua việc cung cấp các cơ sở hạ tầng hiện đại, hiệu quả và các hoạt động nghiên cứu và
phát triển.
• Áp dụng các biện pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các c

năm sau đó.

Việt Nam đã bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế từ giữa những năm 1980 và gia nhập WTO là một
nỗ lực của cải cách kinh tế và đưa nền kinh tế hội nhập sâu hơn với kinh tế thế giới. Việt Nam
cũng thúc đẩy chính sách hội nhập khu vực thông qua các cam kết về Thỏa thuận thương mại tự
do ASEAN (AFTA), ASEA-Trung Quốc (ACFTA), ASEAN-Hàn Quốc và đang đàm phán một
loạt các hiệp định thương mại song phương khác như giữa ASEAN và với Nhật Bản, Ấn Độ,
Australia và New Zealand. Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được ký
năm 2001 đánh dấu một bước ngoặt to lớn trong nỗ lực tự do hóa và đảm bảo môi trường kinh
doanh ổn định cho thương mại giữa hai nước. Theo cam kết với WTO và các hiệp định song
phươ
ng, các chính sách và quy định của Việt nam sẽ có tính minh bạch và trách nhiệm giải trình
cao hơn, tạo ra một môi trường thuận lợi và bình đẳng cho cả nhà đầu tư trong nước và nước
ngoài.

Đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đến các biến số kinh tế vĩ mô gặp phải ít nhất một số
khó khăn sau: (i) khó xác định năm thay đổi về các biến số kinh tế vĩ mô do cải cách đã được
thực hiện trướ
c khi gia nhập chính thức và do đó những cải cách này đã có những tác động đến
kinh tế vĩ mô trước đó; (ii) diễn biến của thị trường tài chính thay đổi trong suốt quá trình gia
nhập trước khi nó thực sự diễn ra; do đó cũng khó xác định chính xác thời điểm tác động; (iii)
các tác động ngoại sinh như giá hàng hóa cao hơn (đặc biệt là các sản phẩm năng lượng và lương
thực) và mất ổn định tài chính thế giới năm 2007 cũng có tác động đến bối cảnh kinh tế vĩ mô
trong năm đầu gia nhập; và (iv) hội nhập khu vực và tham gia các hiệp định song phương cũng
đã có những động lực nhất định để Việt Nam tuân thủ các quy tắc thương mại quốc tế. 15
Một khó khăn khi đưa ra câu trả lời cho câu hỏi: Liệu các cải cách chính sách có được đưa ra hay
không với kịch bản gia nhập và không gia nhập WTO. Câu trả lời có thể mang tính chủ quan

thanh tóan quốc tế và chu chuyển vốn quốc tế; và (v) chính sách tiền tệ và tỷ giá. Có thể nhận
thấy sự đan xen và kết nối giữa các phần của chương nhằm đáp ứng mối quan tâm của các nhà
hoạch định chính sách. Các phần khác của báo cáo sẽ tập trung vào khu vực sản xuất và các tác
động về mặt xã hội như việc làm, đói nghèo và thị trường lao động cũng như đầu tư nước ngoài.
Mỗi khu vực trên cần được phần tích kỹ lưỡng do tầm quan trọng của chúng tối với Việt Nam. 2. Cơ sở lý luận về tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế vĩ mô

Cho đến nay, có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại đến tăng
trưởng kinh tế
2
. Nhìn chung, có sự thống nhất chung rằng mở cửa thương mại sẽ đưa đến tăng

2
Tự do hóa thương mại và gia nhập WTO được sử dụng thay thế lẫn nhau do trong trường hợp của Việt Nam, gia
nhập WTO thúc đẩy thực hiện các chính sách thương mại thương hướng tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ và
đầu tư theo Phương thức 3.

16
trưởng kinh tế so với trường hợp không có sự thay đổi chính sách nào
3
. Lợi ích chủ yếu bao gồm
phúc lợi của người tiêu dùng được tăng lên mặc dù nguồn thu ngân sách sẽ bị giảm sút; tiếp cận
tốt hơn đến công nghệ, đến hiệu ứng động của khả năng cạnh tranh và nguồn vốn đầu tư. Những
kết quả này cho thấy kỳ vọng ổn định từ tự do hóa thương mại. Tuy nhiên, như đã đề cập ở
phần
trên, sự điều chỉnh của kinh tế vĩ mô diễn ra sau khi gia nhập WTO (hay tự do hóa thương mại ở
nghĩa rộng) có thể được chia thành tác động ngắn hạn (hiệu ứng tạm thời) và tác động dài hạn
(hiệu ứng ổn định). Không phải tất cả các biến số kinh tế vĩ mô có thể điều chỉnh theo cùng tốc

độ rủi ro khi đối mặt với các cú sốc hàng hóa sơ chế; thể hiện rõ nhất ở những
cú sốc về giá dầu và lương thực trên thị trường thế giới đang diễn ra. Ngược lại, mở cửa thị
trường phi nông nghiệp lại dẫn đến các tác động tích cực, ổn định kinh tế vĩ mô
6
. Cần lưu ý rằng
cắt giảm thuế lớn nhất ở Việt Nam là đối với các mặt hàng phi nông nghiệp với mức thuế giảm
từ 16,3 % trước khi gia nhập xuống 12% vào năm 2019 (giảm 25%), so với các sản phẩm nông
nghiệp với mức giảm từ 25,7% đến 21,7% vào năm 2012 (giảm 16%). Do đó, chúng tôi kỳ vọng
có sự ổn định hơn đối với kinh tế vĩ mô của Việt Nam sau khi gia nh
ập WTO.

Tác động của mở cửa thị trường dịch vụ dự kiến sẽ có tầm quan trọng đặc biệt đến các lĩnh vực
như bảo hiểm và ngân hàng. Việt Nam đã thực hiện một loạt các cam kết về tự do hóa trong lĩnh 3
Ví dụ xem các nghiên cứu nổi tiếng của Edwards (1998) và Rodrik (1999)
4
Choudri et al (2006)
5
Tự do hóa có mục tiêu có nghĩa là chính sách tập trung vào việc đa dạng hóa thông qua việc ưu tiên đối với một
ngành so với các ngành khác (ví dụ như giữa việc tiếp cận thị trường nông nghiệp và phi nông nghiệp).
6
Xem Srour (2006), Tille (1999)

17
vực dịch vụ trong khuôn khổ WTO. Một số lý thuyết cho thấy tự do hóa thương mại làm gia tăng
đầu tư và cầu lao động. Do lao động tương đối khan hiếm, nên năng suất lao động sẽ tăng thêm
nhằm đáp ứng sự thiếu hụt đó với mức đầu tư cao hơn
7

phủ khó có khả năng điều hòa khoản chi tiêu nhằm dự phòng cho tình huống xấu diễn ra sau đó.
Kết quả là thâm hụt ngân sách tăng lên, sự bùng nổ kéo theo sự đổ vỡ. Tác động chung không
chỉ là thâm hụt ngân sách trở nên trầm trọng hơn mà sự không ổn định về ngân sách dẫn đến
những biến động về lãi suất, tỷ giá và trong chính sách tiền tệ.

Ngược lại, khi tự do hóa thương mại được thực hiện là một phần của một kế hoạch cả gói về cải
cách như đã được thực hiện ở Việt Nam, nó có thể củng cố ngân sách và qua đó điều hòa các cú
sốc tạm thời. Trong bối cảnh đó, tự do hóa thương mại không làm suy yếu ngân sách mà thay
vào đó củng cố sự bền vững. Một số nghiên cứu cho thấy sự bù đắp của giảm thuế thương mại
thông qua việc tăng nguồn thu gián tiếp trong nước hoặc cải thiện thực thi và quy định của luật
quản lý thuế và hải quan
12
.

Gia nhập WTO dự kiến sẽ tác động đến cơ cấu của nền kinh tế do thay đổi về tiếp cận thị trường
sẽ tác động đến giá tương đối của hàng nhập khẩu ở những khu vực có sự thay đổi về thuế quan.
Ngành có thể chịu tác động lớn bởi WTO là dệt may, khi mà mức thuế quan tối huệ quốc (MFN)
trước khi gia nhập WTO là 36,4% nhưng mức thuế cuối cùng cho năm 2007 chỉ là 13,6%. Thay

7
Baldwin và Forslid (2006)
8
Taylor (2008)
9
Chang et al (2005)
10
Abiad et al (2007)
11
Combes và Saadi-Sedik (2006). Báo cáo này không bao gồm Việt Nam trong các mẫu nước nghiên cứu
12

lại bị tác động tiêu cực bởi sự lên giá của đồng nội tệ. Tác động tổng thể của cán cân thương mại
là tiêu cực trong ngắn hạn
14
nhưng có khả năng với hiệu ứng động, cán cân sẽ cân bằng trong dài
hạn.

Tự do hóa thương mại được kỳ vọng sẽ làm tăng dòng vốn vào. Điều này là do bản chất của các
dòng thương mại giữa các thời kỳ khi thâm hụt của các cân vãng lai cần được tài trợ bởi các
luồng vốn vào và do nền kinh tế mở cửa thu hút các cơ hội đầu tư mới, đặc biệt đối với ngành
xuất khẩu và dịch vụ. Dòng vốn vào sẽ bổ sung thêm cho đầu tư trong nước, dự trữ ngoại hối và
thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn.

Ở khía cạnh khác, dòng vốn vào dẫn đến sự mở rộng tín dụng trong nước thông qua hệ thống
ngân hàng. Lượng tín dụng nhiều hơn thúc đẩy chi tiêu thông qua tăng đầu tư và bùng nổ tiêu
dùng (với khuynh hướng tăng tiêu dùng các mặt hàng nh
ập khẩu đắt tiền và tạo ra mức thêm hụt
thương mại lớn hơn) hoặc đầu cơ vào bong bóng tài sản. Trong trường hợp một quốc gia theo
đuổi chính sách neo tỷ giá, chính sách tiền tệ thích ứng được áp dụng để ngăn cản sự lên giá của
đồng nội tệ; điều này dẫn đến tăng cung tiền và sức ép lên lạm phát. Ngân hàng trung ương có
thể triệt tiêu sức ép này bằng việc sử dụng các công cụ nhằm trung hòa tác động của dòng vốn
vào thông qua nghiệp vụ thị trường mở hoặc tăng dự trữ bắt buộc. Tuy nhiên, hành động này có
thể dẫn đến vòng xóay lãi suất cao hơn và thu hút nhiều hơn vốn từ bên ngoài vào, đẩy lãi suất
và giá trị của đồng nội tệ lên cao hơn. Ngoài ra, dòng vốn vào đem lại nhiều rủi ro và làm trầm
trọng thêm những yếu kém về cơ cấu kinh tế v
ĩ mô căn bản; đặc biệt khi các dòng vốn vào ngắn 13
Fukase và Winters (1999)
14


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status