Hoàn thiện pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở việt nam hiện nay - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHU THẾ HUYỀN

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 603801001

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Lê Văn Long

HÀ NỘI - 2013


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ, Thầy giáo Lê Văn
Long. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn nêu trong luận văn
đảm bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực. Những kết luận
khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Chu Thế Huyền

:
:
:
:

Bảo vệ môi trường
Dự án
Đánh giá tác động môi trường chiến lược
Đánh giá tác động môi trường
Hội đồng nhân dân
Phát triển bền vững
Quy chuẩn Việt Nam
Tiêu chuẩn môi trường
Tài nguyên và Môi trường
Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài .................................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn ..............................................5
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn ..............................................5
5. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của Luận văn .....5
6. Giá trị lý luận và thực tiễn của Luận văn...........................................................5
7. Cơ cấu của Luận văn ............................................................................................6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH
GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .........................7
1.1. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ

2.2.2. Những hạn chế, bất cập của pháp luật về Đánh giá tác động môi
trường ở Việt Nam và nguyên nhân ...................................................................45
2.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY...........................................................56
KẾT LUẬN

68


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con người, sinh vật
và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội bền vững. Trước tình trạng trái đất đang
nóng dần lên, ô nhiễm môi trường không chỉ là vấn nạn của một quốc gia mà đã trở
thành một vấn nạn của tất cả các quốc gia trên thế giới. Ngày nay, việc bảo vệ môi
trường (BVMT) đang trở thành nhiệm vụ vô cùng quan trọng của tất cả các quốc
gia. BVMT gắn liền với phát triển bền vững và trở thành một nội dung quan trọng
trong chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Việt Nam
cũng nằm trong xu thế đó.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc BVMT nên Đảng và Nhà nước ta đã
xác định “bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn không chỉ của
nước ta mà còn của cả nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với
cuộc đấu tranh xóa đói, giảm nghèo ở mỗi quốc gia và cuộc đấu tranh vì hoà bình,
tiến bộ của xã hội trên phạm vi toàn thế giới”[28]. Nhằm thể chế hoá quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng về bảo vệ môi trường, Nhà nước ta đã ban hành
hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), trong đó Luật BVMT năm
1993, cũng như Luật BVMT năm 2005 là quan trọng nhất.
Đồng thời, Nhà nước cũng ban hành hàng loạt các Luật và Pháp lệnh quy định
việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường như Luật đất đai năm 2003; Luật bảo vệ

cấp trách nhiệm giữa các cơ quan, tổ chức chưa rõ ràng, thậm chí có những quy
định giữa các văn bản còn bị mâu thuẫn, chồng chéo lên nhau làm hạn chế hiệu quả
của việc thực thi các quy định pháp luật về ĐTM trên thực tế.
Trên cơ sở các quy định pháp luật chưa hoàn chỉnh ấy, kết quả của hoạt
động ĐTM chưa đạt được như mong muốn và vẫn chưa “thoát” ra khỏi cách làm
cũ, chưa phát huy được những điểm mạnh của các điều kiện thuận lợi của nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việc nhiều chủ đầu tư chưa nghiêm túc
thực hiện ĐTM, việc một số cơ quan, tổ chức tư vấn về ĐTM chưa thật sự
nghiêm túc trong tư vấn, dẫn đến chất lượng Báo cáo ĐTM còn thấp; việc quy


3
định không rõ ràng trách nhiệm pháp lý của các bên khi tham gia các quan hệ
pháp luật trong ĐTM cũng như không có chế tài cụ thể để xử lý các vi phạm
trong lĩnh vực này; việc quy trình và thủ tục ĐTM chưa hoàn chỉnh…đã ảnh
hưởng nhiều đến chất lượng của các Báo cáo ĐTM.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, đồng thời nâng cao hơn nữa hiệu
quả công tác ĐTM ở Việt Nam trong thời gian tới, việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung
các quy định pháp luật của nước ta về ĐTM là một nhu cầu tất yếu khách quan
và có ý nghĩa thiết thực trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường.
Mặt khác, từ trước đến nay, ở nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách đầy đủ và có hệ thống về khái niệm, đặc điểm, vai trò, những tiêu chí pháp
luật về ĐTM và thực trạng pháp luật về ĐTM ở Việt Nam. Xuất phát từ những yêu
cầu cấp thiết như trên, tác giả chọn chủ đề “Hoàn thiện pháp luật về đánh giá
tác động môi trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sỹ luật học
nhằm nghiên cứu, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
về ĐTM nói riêng và pháp luật về BVMT nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ những năm 80, ở nước ta đã tiến hành nghiên cứu, xây dựng pháp luật về
BVMT, trong đó có các quy định về ĐTM. Tuy nhiên, cho đến nay, vấn đề ĐTM

Hải đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 06/2005;
- Bài viết: “Xem xét sửa đổi, bổ sung quy định về ĐTM chiến lược, ĐTM và
cam kết bảo vệ môi trường” của đồng tác giả Bùi Cách Tuyến, Mai Thanh Dung và
Phạm Anh Dũng đăng trên tạp chí Môi trường, số 08/2010.
Nhìn chung các bài viết trên đây đã nghiên cứu và làm sáng tỏ được một số
vấn đề khá sâu sắc về pháp luật môi trường nói chung cũng như pháp luật về ĐTM
nói riêng. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại giải quyết những vấn đề
cụ thể ở từng góc độ, từng thời điểm nhất định, chưa mang tính tổng quan và toàn
diện. Vì thế, có thể nói, cho đến nay ở nước ta chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách đầy đủ và có hệ thống về khái niệm, đặc điểm, vai trò, những tiêu chí pháp
luật về ĐTM và thực trạng pháp luật về ĐTM ở Việt Nam.


5
Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố trên đây là
những tài liệu tham khảo có giá trị, là cơ sở, nền tảng để nghiên cứu và thực hiện đề
tài "Hoàn thiện pháp luật về đánh giá tác dộng môi trường ở Việt Nam hiện nay”
trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hoàn thiện pháp luật về môi trường ở
Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn, phức tạp nên trong khuôn khổ
luận văn thạc sỹ này chúng tôi chỉ nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về ĐTM ở Việt
Nam hiện nay.
4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn là đề xuất những phương hướng hoàn
thiện pháp luật về ĐTM ở Việt Nam hiện nay. Để đạt được mục tiêu đó, Luận văn
có nhiệm vụ: xác lập cơ sở lý luận của việc hoàn thiện pháp luật về ĐTM ở Việt
Nam hiện nay; đánh giá thực trạng pháp luật về ĐTM và đề xuất phương hướng
hoàn thiện pháp luật về ĐTM ở Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của Luận văn

Khái niệm ĐTM xuất hiện trên cơ sở khái niệm môi trường. Ngày nay các
thuật ngữ "môi trường" và các khái niệm có liên quan như "ô nhiễm môi trường",
"suy thoái môi trường", "sự cố môi trường", "hệ sinh thái", "đa dạng sinh học"...
ngày càng được sử dụng rộng rãi trong khoa học, trên các phương tiện thông tin đại
chúng, trong nhân dân và trong các văn bản của Nhà nước.
Môi trường sử dụng trong lĩnh vực khoa học pháp lý là một khái niệm được
hiểu như là mối liên hệ giữa con người và tự nhiên, trong đó môi trường được hiểu
như là yếu tố, hoàn cảnh và điều kiện tự nhiên bao quanh con người. Điều 01 Luật
BVMT 2005 định nghĩa: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân
tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát
triển của con người và sinh vật” [32]. Như vậy, theo Luật BVMT năm 2005, "môi
trường" bao gồm cả yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo - những yếu tố tạo
thành môi trường. Trong đó, những yếu tố vật chất tự nhiên như đất, nước, không
khí, âm thanh, ánh sáng, các hệ động vật, hệ thực vật có vai trò quan trọng nhất
trong tất cả các yếu tố hợp thành nên khái niệm môi trường. Chúng hình thành và
phát triển vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người. Con người chỉ
có thể tác động tới chúng ở những chừng mực nhất định.
Do nhu cầu ngày càng cao của con người đối với cả đời sống vật chất và đời
sống tinh thần nên con người ngày càng tác động nhiều hơn đến các yếu tố tự nhiên
nhằm làm sản sinh ra các yếu tố mang tính chất nhân tạo phục vụ cho đời sống.
Trong quá trình con người tác động vào những yếu tố tự nhiên như đất, nước, không


8
khí, âm thanh, ánh sáng, các hệ động vật, hệ thực vật thì môi trường có thể bị ô
nhiễm, bị suy thoái, thậm chí xảy ra cả sự cố môi trường.
Để bảo đảm việc giữ gìn môi trường trong lành, các quốc gia đều cần phải
xây dựng các tiểu chuẩn chất lượng môi trường. "Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn
cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của
chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng, tránh, khắc phục các tác động tiêu cực"
[17,tr.16].

Theo Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP) thì: "ĐTM” là
một quá trình nhằm dự báo các hậu quả môi trường của một dự án. ĐTM xem xét
việc thực hiện đề án sẽ sản sinh ra những vấn đề gì đối với đời sống của con người
tại khu vực dự án và các hoạt động khác tại vùng đó. Sau dự báo ĐTM phải xác
định các biện pháp làm giảm đến mức tối thiểu các hoạt động tiêu cực làm cho dự
án thích hợp với môi trường của nó [31,tr.78].
Trên cơ sở điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta, Luật BVMT năm 2005 đã
đưa ra một khái niệm tương đối thống nhất về mặt nội dung với các khái niệm trên
thế giới: “ĐTM là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của các DA
đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai DA đó” [38].
Nhìn chung, các khái niệm về ĐTM hiện nay trên thế giới là hết sức đa dạng
và phong phú. Tại mỗi quốc gia, khái niệm này được hiểu và định nghĩa khác nhau
tùy theo cách nhận thức và quan điểm khác nhau về đối tượng đánh giá và những
chuẩn mực khác nhau mà mỗi quốc gia lựa chọn cho việc thực hiện ĐTM tại quốc
gia mình, nhưng tựu chung lại các khái niệm mà các quốc gia đưa ra có những nội
dung cơ bản là giống nhau và chứa đựng các yếu tố đặc trưng sau:
Thứ nhất, đối tượng ĐTM là các yếu tố môi trường và yếu tố kinh tế - xã hội.
Điều này xuất phát từ việc các quốc gia đều nhìn nhận môi trường với khái niệm
đầy đủ là mang cả hai bộ phận hợp thành là môi trường tự nhiên và môi trường sống
của con người.


10
Thứ hai, phạm vi ĐTM là các hoạt động phát triển. Trong bối cảnh phát triển
các quốc gia đều nhìn nhận vấn đề này trong sự phát triển của nền kinh tế cũng như
trong lĩnh vực xã hội hiện tại các quốc gia ngày càng giành nhiều sự quan tâm hơn
cho sự phát triển bền vững (PTBV) của chính nước mình trong tương lai. Xem xét

thực hiện hay không.
Thứ tám, thông qua ĐTM nhiều dự án có nguy cơ, rủi ro cao đối với môi
trường và xã hội đó buộc phải chấm dứt hoặc điều chỉnh lại.
Tóm lại, ĐTM được coi như là một công cụ hiệu quả để phòng, chống suy
thoái, ô nhiễm và sự cố môi trường. Thông qua ĐTM sẽ dự báo được các tác động
xấu đối với môi trường khi thực hiện dự án và có các biện pháp phù hợp để xử lý
hoặc hạn chế.
1.1.2. Khái niệm pháp luật về Đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam hiện
nay
Như trên đã phân tích, ĐTM là một trong những biện pháp quan trọng mà
các quốc gia cần phải sử dụng để BVMT. Vì vậy, với tư cách là công cụ hữu hiệu
để đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các lợi ích kinh tế - xã hội với các lợi ích về
môi trường thì đòi hỏi phải có sự điều chỉnh của Nhà nước về ĐTM. Do đó, pháp
luật về ĐTM ra đời là một tất yếu khách quan. Xuất phát từ đặc thù môi trường là
một khái niệm rộng lớn, đa dạng và cấu thành từ nhiều thành tố như đã phân tích ở
trên, các thành tố môi trường đó có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, một thành tố bị
ô nhiễm sẽ ảnh hưởng xấu đến các thành tố khác của môi trường. Cho nên, BVMT
không những là việc bảo vệ đồng thời các thành tố của môi trường như gìn giữ,
khắc phục sự suy thoái môi trường, các sự cố có thể xảy ra, mà cần phải có quy
định giới hạn, quy định cách thức, tiêu chuẩn hành vi của con người khi khai thác,
sử dụng tài nguyên thiên nhiên môi trường sao cho không để lại hậu quả bất lợi đối
với môi trường thiên nhiên.
Với cách hiểu như trên, pháp luật BVMT bao gồm các quy định pháp luật
nhằm bảo vệ hiệu quả môi trường và các thành tố của nó, đồng thời, Nhà nước cũng


12
ban hành các quy định giới hạn hành vi, xác định nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân
trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên - các thành tố của môi
trường. Do đó, có thể thấy quan hệ xã hội mà pháp luật BVMT nói chung và pháp

Theo quy định của pháp luật hiện hành, các chủ DA có thể tự mình hoặc thuê
tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo về ĐTM và chịu trách nhiệm về các số liệu, kết
quả nêu trong báo cáo về ĐTM (khoản 3 Điều 19 Luật BVMT 2005) [38]. Do đó,
trên thực tế hầu hết các chủ DA không có khả năng tự mình lập báo cáo về ĐTM
mà họ phải thông qua các cơ quan tư vấn và ở đây đã phát sinh mối quan hệ giữa cơ
quan quản lý hành chính nhà nước về môi trường với các tổ chức dịch vụ này.
Như vậy, ĐTM có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Xét dưới
góc độ quản lý, nó được coi là một biện pháp quản lý hành chính nhà nước về môi
trường; xét dưới góc độ khoa học, nó là những nghiên cứu về mối liên hệ, những tác
động biện chứng giữa các chính sách, hoạt động phát triển và môi trường. Xét ở
khía cạnh chủ quan của pháp luật thì ĐTM là hệ thống các quy tắc xử sự mà các chủ
thể cần phải thực hiện một hoạt động phát triển có ảnh hưởng và tác động đến môi
trường.
Trên cơ sở phân tích các mối quan hệ về ĐTM nêu trên, có thể hiểu: pháp
luật về ĐTM là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm
thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý hành
chính nhà nước về môi trường; các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá
trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một hoặc một vài yếu tố của môi trường.
Pháp luật về ĐTM có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Một là, phản ánh đặc thù của ĐTM, vừa có những quy phạm mang tính tố
tụng, vừa có những quy phạm mang tính hành chính.
- Hai là, pháp luật ĐTM quy định hoạt động thực tiễn thực hiện quyền lực
của Nhà nước trong việc BVMT, là tổng thể các quy định về trình tự, thủ tục ĐTM.
- Ba là, các quy định pháp luật về ĐTM nằm rải rác trong các văn bản quy
phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau như Luật BVMT, các nghị định,


14
thông tư hướng dẫn thi hành; Luật đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật
khoáng sản, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và

ra hàng loạt các vấn đề như: khan hiếm, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm, suy thoái môi
trường... Pháp luật ĐTM với tư cách là công cụ điều tiết các hành vi của các thành
viên trong xã hội có tác dụng rất lớn trong việc định hướng quá trình khai khai thác
và sử dụng các thành phần của môi trường.
- Pháp luật về ĐTM quy định các chế tài hình sự, hành chính, kinh tế để buộc
các tổ chức, cá nhân phải thực hiện đầy đủ các đòi hỏi của pháp luật về ĐTM trong
việc khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường.
- Thông qua pháp luật, Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của các tổ chức, cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường như
quyền thanh tra, kiểm tra, giám sát... việc thực hiện pháp luật về ĐTM.
- Một trong những vai trò to lớn của pháp luật BVMT thể hiện ở việc ban
hành các tiêu chuẩn môi trường (TCMT), quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi
trường (QCVN). Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước về môi trường
TCMT, QCVN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. TCMT, QCVN vừa là một quy
phạm kỹ thuật, vừa là một quy phạm pháp luật. Trên cơ sở tiêu chuẩn môi trường,
nhà nước có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn và khắc phục tình trạng ô nhiễm
môi trường và xử lý kịp thời các vi phạm quy định về môi trường, còn các tổ chức,
cá nhân sẽ biết được rõ quyền và nghĩa vụ của mình như thế nào trong quá trình tác
động vào các thành phần môi trường để từ đó họ tự điều chỉnh hành vi của mình, cố
gắng hạn chế đến mức thấp nhất việc vi phạm các quy định của pháp luật môi
trường và từ đó môi trường sẽ được bảo vệ.
1.1.4. Nội dung của pháp luật về Đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam
hiện nay
Xuất phát từ khái niệm, đặc điểm của pháp luật về ĐTM như đã nêu trên, đòi
hỏi nội dung pháp luật về ĐTM phải thể hiện sự điều chỉnh đầy đủ, toàn diện đối
với các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động ĐTM, bao gồm:
các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về môi


16

17
hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải và tuân thủ các quy định của pháp
luật về bảo vệ môi trường. Giống như báo cáo ĐTM, cam kết BVMT cũng bao gồm
các nội dung đánh giá các tác động của DA đối với môi trường và đề xuất các giải
pháp giảm thiểu các tác động này. Tuy nhiên, do mức độ tác động tới môi trường
thấp hơn nên thay vì phải thực hiện các bước trình và xin phê duyệt trước khi triển
khai DA, các chủ DA này được tự mình đưa ra các cam kết về BVMT và tự chịu
trách nhiệm về các cam kết, các biện pháp BVMT mà mình đưa ra và đăng ký với
UBND cấp huyện để được chấp thuận Bản cam kết BVMT.
- Các quy định về quy trình ĐTM:
Theo quy định của pháp luật, trong luận chứng kinh tế kỹ thuật của mỗi dự
án đều phải đề cập hoặc có một chương nói về tác động môi trường của dự án, cơ
quan quản lý hành chính nhà nước về môi trường sẽ tiến hành xem xét hồ sơ và cho
ý kiến nhận xét về khía cạnh môi trường của dự án, cụ thể hơn đây là bước sàng lọc
nhằm xác định dự án thuộc loại phải trình duyệt Báo cáo ĐTM hoặc chỉ cần lập Bản
cam kết BVMT hoặc không cần thiết phải có các thủ tục về môi trường hoặc không
đồng ý cấp phép cho dự án vì lý do môi trường. Giai đoạn này thường kéo dài
khoảng 15 ngày: nếu dự án được xếp vào loại chỉ cần lập Cam kết BVMT, chủ dự
án phải tiến hành lập và trình cơ quan quản lý hành chính nhà nước về BVMT xem
xét. Chấp thuận Bản cam kết BVMT là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền xem
xét cấp phép đầu tư cho dự án. Nếu dự án thuộc diện phải trình duyệt Báo cáo
ĐTM, chủ dự án phải tiến hành lập Báo cáo ĐTM trình cơ quan quản lý hành chính
nhà nước về BVMT xem xét thẩm định ở các cấp khác nhau theo sự phân cấp tại
Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ. Quá trình thẩm định
Báo cáo ĐTM kéo dài không quá 60 ngày (đối với Báo cáo ĐTM thuộc thẩm quyền
thẩm định của Bộ TN&MT) hoặc 45 ngày (đối với Báo cáo ĐTM khác), kể từ ngày
hồ sơ thẩm định được gửi đầy đủ tới cơ quan trực tiếp thực hiện chức năng dưới
hình thức tổ chức hội đồng thẩm định. Quá trình thẩm định sẽ đưa ra một số kết quả
sau đây:



19
- Các quy định về nội dung báo cáo ĐTM:
Xuất phát từ thực tế là báo cáo ĐTM được lập đối với các DA đầu tư cụ thể
nên yêu cầu về nội dung báo cáo ĐTM đòi hỏi tính chi tiết cao hơn, cụ thể là nội
dung báo cáo quy định tại Luật BVMT 2005 và Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày
18/4/2011 của Chính phủ và phải thể hiện được các vấn đề sau:
+ Mô tả dự án đầu tư: bao gồm thông tin chi tiết về các hạng mục công trình
của dự án, quy mô về không gian, thời gian và khối lượng thi công; công nghệ vận
hành của từng hạng mục công trình và của cả DA;
+ Các thông tin đánh giá về môi trường gồm: đánh giá về hiện trạng môi
trường cả nơi thực hiện DA và vùng kế cận, đánh giá mức độ nhạy cảm và sức chịu
tải của môi trường; đánh giá chi tiết các tác động môi trường có khả năng xảy ra khi
DA được thực hiện và các thành phần môi trường, yếu tố kinh tế - xã hội chịu tác
động của dự án; dự báo rủi ro về sự cố môi trường do công trình gây ra.
+ Các giải pháp về mặt môi trường được đề xuất gồm: các biện pháp cụ thể
được đề xuất để giảm thiểu các tác động xấu đối với môi trường; các biện pháp
phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường; cam kết thực hiện các biện pháp BVMT
trong quá trình xây dựng và vận hành công trình; danh mục công trình, chương trình
quản lý và giám sát các vấn đề môi trường trong quá trình triển khai thực hiện DA;
dự toán kinh phí xây dựng các hạng mục công trình BVMT trong tổng dự toán kinh
phí của DA.
+ Các thông tin tham vấn: báo cáo ĐTM phải phản ánh được ý kiến của
UBND xã, phường, thị trấn, đại diện cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án; đặc
biệt, các ý kiến không tán thành việc đặt dự án tại địa phương hoặc không tán thành
đối với các giải pháp BVMT phải được nêu trong ĐTM .
Đối với bản cam kết BVMT, yêu cầu về nội dung mặc dù đơn giản hơn nhiều
so với nội dung của báo cáo ĐTM, tuy nhiên các nội dung đặt ra cũng tương đối cụ
thể, bao gồm hai nội dung chính là mô tả về DA (địa điểm, loại hình, quy mô,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status