luận văn quản trị kinh doanh sự phát triển của thị trường logistics cho hội chợ, triển lãm ở việt nam - Pdf 24

SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài:
Logistics là một lĩnh vực kinh doanh đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới và
đang ngày càng khẳng định tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế hiện đại. Tại
các quốc gia phát triển như Mỹ, Nhật,… Logistics đóng góp khoảng 10% GDP. Còn
tại các quốc gia đang phát triển, con số này lên tới 25%-30%.
Tuy nhiên ở Việt Nam, Logistics vẫn là một ngành còn khá mới mẻ, các công
ty Logistic phần lớn mới chỉ kinh doanh nhỏ lẻ một vài hoạt động trong tổng thể
chuỗi Logistics phức tạp.
Trong những năm gần đây, các công ty sản xuất đã chú trọng hơn nhiều đến
các vấn đề về chuỗi cung ứng nên ngành Logistic cũng đã được đầu tư và có những
bước tiến mạnh mẽ.
Cùng xu hướng mở cửa nền kinh tế, công tác xúc tiến thương mại cũng đã phát
triển rất mạnh trong thời gian qua. Đi liền với xu hướng đó là sự tăng trưởng cả về
số lượng và chất lượng các cuộc triển lãm quốc tế tổ chức ở Việt Nam trong những
năm gần đây và dự báo sẽ còn phát triển mạnh mẽ sau giai đoạn khủng hoảng kinh
tế năm 2007-2009. Có được điều đó là do Việt Nam liên tiếp nhiều năm liền được
đánh giá là điểm nóng đầu tư nước ngoài, là thị trường béo bở với các nhà đầu tư
nhạy bén với thời cuộc. Thêm vào đó, hàng hoá tham gia vào các hội chợ, triển lãm
có những yêu cầu đặc biệt hơn hàng hoá thông thường như thời hạn triển lãm, thủ
tục hành chính phức tạp, những yêu cầu khắt khe trong vận chuyển, lưu kho,…đã
làm cho lĩnh vực này gần như trở thành phân khúc cao cấp trong thị trường
Logistics, có khả năng sinh lời cao nhưng đồng thời cũng đòi hỏi trình độ chuyên
nghiệp, uy tín của các nhà cung cấp dịch vụ.
Trước tình hình kinh doanh ngày càng cạnh trang khốc liệt và yêu cầu ngày
càng cao từ phía khách hàng đã đòi hỏi các công ty kinh doanh Logistics nói chung
và lĩnh vực Logistics hội chợ, triển lãm nói riêng tất yếu cần có những chiến lược
phát triển rõ ràng cùng với những giải pháp kịp thời để nâng cao khẳ năng cạnh
1
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng

Hoa Kỳ ( LCM-Council of Logistics Management)
“Logistics là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình
lưu chuyển, dự trữ hàng hoá, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm suất phát
đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của
khách hàng”.
Tại Việt Nam, theo quy định của luật thương mại, tại mục 4, điều 233 quy
định: dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực
hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi,
làm thủ tục hải quan, các giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký
mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả
thuận với khách hàng để hưởng thù lao.
1.1.1.2 Đặc điểm:
Logistics là một quá trình: điều đó có nghĩa Logistics không phải là một hoạt
động riêng lẻ mà là một chuỗi các hoạt động liên tục, liên quan mật thiết và tác
động qua lại mật thiết với nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống
qua các bước: nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, thực hiện, kiểm tra, kiểm
soát và hoàn thiện. Do đó Logistics xuyên suốt mọi giai đoạn, từ giai đoạn đầu vào
cho đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng.
3
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Logistics liên quan đến tất cả các nguồn tài nguyên các yếu tố đầu vào cần
thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng.
Nguồn tài nguyên không chỉ có vật tư, nhân lực mà còn bao gồm cả dịch vụ, thông
tin, bí quyết công nghệ.
Logistics tồn tại ở cả hai cấp độ: hoạch định và tổ chức. Ở cấp độ thứ nhất, vấn
đề đặt ra là phải lấy nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm hay dịch vụ…ở
đâu? Vào khi nào? Và vận chuyển chúng đi đâu?. Do vậy tại đây xuất hiện vấn đề
vị trí. Cấp độ thứ hai quan tâm tới việc làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên,
các yếu tố đầu vào từ điểm đầu đến điểm cuối dây chuyền cung ứng. Từ đây nẩy
sinh vấn đề vận chuyển và lưu trữ.

gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
• Logistics ngược (reverse Logistics): là các dịch vụ được cung ứng đảm
bảo quá trình thu hồi phế phẩm, phế liệu, các yếu tố ảnh hưởng đến
môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở
về để tái chế hoặc xử lý. Logistics bao gồm bốn dòng chảy chính, dòng
chảy hàng hoá, nguyên liệu, dòng chảy thông tin, dòng chảy tài chính,
và dòng chảy chứng từ, tài liệu.Logistics hiện nay đã tiến lên một giai
đoạn phát triển mới đó là chuỗi cung ứng (supply chain).Tuy nhiên, tại
Việt Nam các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này chủ yếu mới chỉ
dừng lại ở cấp độ 2PL, 3PL tại các doanh nghiệp lớn, và thường làm
nhiệm vụ của người giao nhận (Forwarder, Freight Forwarder)
1.1.3. Nội dung của logistics:
Logistics ngày nay được nhắc đến là Logistics hợp nhất (Integrated Logistics)
với ý nghĩa là tổng hợp của tất cả những hoạt động Logistics cần thiết để đảm bảo
hỗ trợ một cách hiệu quả nhất và kinh tế nhất cho một tổ chức.
Vận tải: Không một công ty nào có thể tự cung cấp tất cả các dịch vụ mà công
ty cần. Do đó công ty dù lớn hay nhỏ cũng điều phải dựa vào môi trường bên ngoài
5
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
để tồn tại, để có nguyên vật liệu cần thiết duy trì hoạt động. Vận tải chính là cách
thức chuyên chở những nguyên liệu đó từ nguồn cung cấp tới doanh nghiệp. Thông
qua quá trình chuyển đổi trong doanh nghiệp, nguyên vật liệu được chế biến tạo
thành sản phẩm cuối cung, và một lần nữa, vận tải đóng vai trò phân phối sản phẩm
này tới tay người tiêu dùng. Do vậy vận tải chính là một yếu tố của Logistics, là
mạch máu lưu thông toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Logistics phải phối hợp
chặt chẽ với vận tải, dây dựng chiến lược vận tải khoa học, hợp lý. Xác định lộ trình
vận tải, chọn hãng vận tải thích hợp, xúc tiến, đôn đốc và kiểm soát hàng hoá trong
quá trình vận chuyển, làm hồ sơ khiếu nại khi hàng hoá bị hư hỏng, mất mát.
Lưu kho, dự trữ: quản trị dự trữ, lưu kho cũng là một bộ phận quan trọng trong
quản lý Logistics. Ở mỗi giai đoạn của quá trình vận động từ sản xuất đến tiêu dùng

hành sản phẩm và khả năng của người vận hành bảo dưỡng. Trong quá trình sản
xuất, khi thiết kế sản phẩm được hoàn thiện xong thì danh mục các thiết bị hỗ trợ và
kiểm tra cũng phải hoàn thành. Hoạt động Logistics ở đây thể hiện ở chỗ phải đưa
ra quyết định cần cái gì, cần số lượng bao nhiêu và khi nào thì cần đến, tức là phải
lập kế hoạch để trả lời cho những câu hỏi trên.
Cơ sở vật chất: các nguồn lực Logistics sẽ chưa đầy đủ nếu như chưa có cơ sở
vật chất cần thiết để hỗ trợ cho các thành phần khác của Logistics. Một cơ sở vật
chất cho Logistics có thể được xây mới hoặc cũng có thể cải tạo từ những công
trình đã xây để đáp ứng những yêu cầu cụ thể của Logistics.
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong
lĩnh vực Logistics hội chợ triển lãm:
1.2.1 Môi trường vĩ mô:
7
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Hình 1.1: Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
1.2.1.1 Môi trường dân số:
Môi trường dân số bao gồm các yếu tố như quy mô dân số, mật độ dân số, tuổi
tác, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp. Đó là các khía cạnh được quan tâm
nhiều nhất bới nó liên quan trực tiếp đến con người và con người cũng chính là tác
nhân tạo ra thị trường.
Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới luôn có nhiều thay dổi, trong
đó bao hàm những thay đổi về mặt dân số. Những sự biến động về dân số có thể
làm thay đổi về mặt lượng của thị trường, đồng thời nó cũng ảnh hưởng trực tiếp
làm thay đổi về mặt chất lượng của thị trường.Chúng ta có thể liệt kê một số thay
đổi chính yếu mà ít nhiều đã tác động đến các hoạt động của một doanh nghiệp.
• Những sự chuyển dịch về dân số: Là sự gia tăng về mặt quy
mô dân số ở một số quốc gia, một số khu vực do tình trạng di dân. Xu
hướng di dân này là do chính sách nhập cư thoáng hay do điều kiện
8
Văn hóa

phẳng là điều kiện lý tưởng để phát triển giao thông đường bộ, địa hình nhiều đồi
núi, đầm lầy phát triển giao thông đường bộ sẽ rất khó khăn.
Là một quốc gia có biển, với chiều dài bờ biển hơn 3.200 km, hệ thống cảng
biển đa dạng trải đều từ Bắc vào Nam lại nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế,
phải nói rằng thiên nhiên đã ưu đãi cho Việt Nam một điều kiện rất lý tưởng để phát
9
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
triển vận tải đường biển. Với sự ưu đãi này không những tạo điều kiện thuận lợi cho
Việt Nam phát triển buôn bán với các quốc gia, các khu vực trên thế giới mà còn có
thể đưa Việt Nam trở thành nơi trung chuyển hàng hóa trong khu vực. Ngoài lợi thế
về đường biển, hệ thống sông ngòi Việt Nam cũng đa dạng và phong phú đặc biệt là
đồng bằng Nam Bộ, tạo điều kiện phát triển giao thông nội thủy. Hàng hóa được dỡ
khỏi cảng biển, tiếp tục lên các phương tiện vận tải nội thủy theo các đường sông đi
sâu vào trong đất liền để giao hàng. Với hai vùng châu thổ Bắc Bộ và Nam Bộ bằng
phẳng, rộng lớn nối với nhau bởi dãy đất Trung Bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho
việc phát triển giao thông đường sắt và ôtô một mắt xích không thể thiếu được trong
vận tải đa phương thức. Với điều kiện tự nhiên như đề cập trên đây, Việt Nam có
đầy đủ điều kiện để áp dụng và phát triển hoạt động Logistics.
1.2.1.3 Môi trường kinh tế:
Với sự tăng trưởng mạnh mẽ và vững chắc của nền kinh tế trong những năm
qua, nhu cầu giao lưu phân phối ngày càng trở nên cấp thiết và ngành Logistics đã
trở thành một ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng vào loại cao nhất Việt Nam,
đóng góp xấp xỉ 15% tổng GDP cả nước.
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007-2009 đã ảnh hưởng nặng nề đến
nền kinh tế các quốc gia trên toàn thế giới và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
Suy thoái kinh tế dẫn đến kim ngạch xuất nhập khẩu sụt giảm nghiêm trọng, tất cả
các ngành Logistics cũng suy giảm và gặp không ít khó khăn trong giai đoạn 2007-
2009. Kể từ cuối năm 2009, nền kinh tế Việt Nam cũng như thế giới có xu hướng
phục hồi là một dấu hiệu tốt cho ngành Logistics.
Theo hướng tích cực, kinh doanh quốc tế đang trở thành xu hướng của thời

Việc tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập hàng hoá để tham gia hội chợ triển
lãm thương mại được thực hiện theo các quy định tại luật thương mại, nghị định số
12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 của chính phủ quy định chi tiết thi hành luật
thương mại về hoạt động buôn bán hàng hoá quốc tế và các hoạt động đại lý, mua
11
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
bán gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài và thông tư số 04/2006/TT-BTM
ngày 06/04/2006 hướng dẫn một số nội dung quy định tại nghị định số
12/2006/NĐ-CP và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Tuy nhiên đến
nay thì các điều khoản luật về ngành Logistics của Việt Nam vẫn còn khắt khe đối
với các nhà đầu tư nước ngoài do đó các hoạt động đầu tư vào ngành Logistics Việt
Nam vẫn còn hạn chế. Chẳng hạn như đối với việc kinh doanh bốc dỡ hàng hoá thì
chỉ được mở công ty liên doanh, trong đó tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài
không quá 50%, trường hợp kinh doanh dịch vụ kho bãi, tỷ lệ này không quá 51%.
Quy định này đến năm 2014 mới được chấm dứt. Điều này sẽ dẫn đến cả mặt có lợi
và bất lợi. Nó có lợi đối với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước của chính
phủ, nhưng ngược lại cũng làm hạn chế sự vươn lên phát triển của ngành Logistics
Việt Nam để bắt kịp với xu hướng mới.
1.2.1.5 Môi trường văn hoá, xã hội:
Với thói quen cũng như văn hoá kinh doanh nhỏ lẻ của người Việt Nam từ
trước tới nay cũng là những hạn chế gây nên tình trạng trì trệ và phát triển manh
mún của ngành Logistics ở Việt Nam:
Trước hết là về phía chính sách công ty Logistics với nhau. Như chúng ta đã
biết cơ sở vật chất cho ngành Logistics là hết sức tốn kém, do đó đa phần các công
ty Việt Nam chưa đủ khả năng kinh doanh tất cả các mắt xích trong chuỗi các hoạt
động Logistics, các công ty Việt Nam mới đáp ứng khoảng ¼ nhu cầu trong nước,
do đó vấn đề liên kết, hợp tác đôi bên cùng có lợi giữa các công ty này là tất yếu.
Nhưng thực tế vấn đề này được các công ty trên thực hiện còn rất yếu, dẫn đến
không tiết kiệm được chi phí cũng như nâng cao hiệu quả dịch vụ, tạo niềm tin với
khách hàng.

Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trong cùng một
ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ quyết định gia nhập ngành.
Những đối thủ này khi gia nhập ngành sẽ đem theo những nguồn lực mới: Tiềm lực
tài chính mạnh, công nghệ mới… Chính điều này làm cho cạnh tranh diễn ra rất gay
gắt và làm cho thị phần cũng như lợi nhuận giảm. Mối đe dọa xâm nhập ngành phụ
thuộc vào:
- Tính kinh tế nhờ quy mô: Coi sự giảm xuống về chi phí cho một đơn vị sản
phẩm là do sự tăng lên tuyệt đối trong một thời kỳ về khối lượng sản phẩm. Ở
trường hợp này một công ty muốn xâm nhập vào ngành gặp nhiều khó khăn và trở
ngại buộc phải đầu tư một quy mô lớn, phải đối phó với những phản ứng mạnh mẽ
14
Những công ty có khả
năng gia nhập thị trường
Nhà cung
ứng
Sản phẩm hay
dịch vụ thay thế
Người mua
Các công ty cùng
ngành nghề cạnh
tranh nhau
Sức mặc cả
Sức mặc cả
Mối đe
dọa
Mối
đe
dọa
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
của doanh nghiệp trong ngành. Rào cản kinh tế nhờ quy mô có ở nơi các hoạt động

Từ việc phân tích các rào cản này giúp doanh nghiệp không ngừng nâng cao
chúng, chính tự nâng cao chính các nguồn lực của mình nhằm đối phó với các đối
thủ chuẩn bị hay muốn xâm nhập ngành.
1.2.2.2 Áp lực từ sản phẩm thay thế:
Xét theo nghĩa rộng (cạnh tranh chung) thì các công ty trong cùng một ngành
đều có cạnh tranh với các sản phẩm thay thế từ các ngành khác. Chính các sản phẩm
thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của một ngành bằng cách đặt ngưỡng tối
đa (mức trần) đối với những mức giá mà những công ty trong ngành ấy có thể đưa
ra trong phạm vi có thể thu được lợi nhuận. Điều này thể hiện qua độ co giãn của
cầu chéo, tức là khi giá sản phẩm trong ngành tăng khuyến khích dùng các sản
phẩm thay thế. Một số loại hình thay thế là:
- Thay thế hoàn toàn.
- Thay thế bình thường.
- Các sản phẩm thay thế cần được quan tâm là:
+ Những sản phẩm nằm trong xu hướng có thể cạnh tranh giá cả với sản
phẩm đang bị cạnh tranh.
+ Các sản phẩm đang sản xuất ở những ngành có lợi nhuận cao.
1.2.2.3 Sức mạnh mặc cả của người mua:
Người mua trực tiếp họ buộc doanh nghiệp giảm giá hoặc có nhu cầu chất
lượng cao và dịch vụ tốt hơn. Áp lực này xuất hiện từ những điều kiện sau:
- Người mua có tính tập trung hay mua những khối lượng hàng hóa lớn so
với doanh số người bán.
- Số lượng người mua ít sản phẩm, nhóm người mua này chiếm một tỷ trọng
lớn trong tổng chi phí người mua bỏ ra.
- Lợi nhuận người mua này thấp.
16
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
- Người mua tạo ra được mối đe dọa có cơ sở là họ có thể rút ra khỏi thị
trường.
- Sản phẩm không quan trọng đối với chiến lược sản phẩm hay dịch vụ của

thị phần.
• Chi phí cố định hoặc lưu trữ cao. Chính điều này làm cho các doanh nghiệp
tăng sản lượng nhằm tận dụng hiệu ứng kinh tế nhờ quy mô nên tạo ra dư thừa lớn
trong ngành và cuộc chiến về giá xảy ra.
• Tính dị biệt hóa không cao và chi phí chuyển đổi thấp, chính điều này tạo
ra cuộc cạnh tranh về giá và lòng trung thành của khách hàng.
• Các đối thủ cạnh tranh đa dạng, phức tạp nên khó thỏa thuận luật chơi
thống nhất và cùng chia sẻ phân đoạn.
• Quyết tâm cao trong đường lối chiến lược của đối thủ. Họ sẵn sàng cạnh
tranh với bất kỳ đối thủ nào và bằng mọi cách đạt được mục tiêu, chấp nhận hi sinh
lợi nhuận trong ngắn hạn.
• Rào cản trở ngại cho việc thoát khỏi. Họ có thể phải ở lại mặc dù không
muốn, khi ở lại họ sẽ cạnh tranh gay gắt hơn. Việc khó thoát ra khỏi ngành là do:
+ Tài sản thiết bị chuyên môn hóa cao.
+ Phí tổn cố định thoát ra lớn.
+ Các rào cản tinh thần.
+ Các chính sách của Nhà nước và xã hội
Như vậy, chính các đối thủ cạnh tranh hiện tại là lượng lực cạnh tranh quan
trọng nhất mà doanh nghiệp phải đương đầu. Do vậy, bên cạnh việc nâng cao các
năng lực cạnh tranh thì doanh nghiệp cần quan tâm đến hoạt động của đối thủ cạnh
tranh để có những phản ứng kịp thời.
1.3 Đánh giá chung:
Thị trường Việt Nam thực sự có nhiều tiềm năng và cơ hội lớn đối với ngành
Logistics. Với những điều kiện tự nhiên ưu đãi, cộng thêm môi trường kinh tế,
18
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
chính trị thuận lợi, ngành Logistics Việt Nam chắc chắn sẽ còn phát triển hết sức
mạnh mẽ trong thời gian tới.
Riêng với lĩnh vực hậu cần hội chợ, triển lãm còn khá mới mẻ nhưng tiềm
năng và lợi nhuận lớn sẽ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt xâm nhập trong thời

Dịch vụ uỷ thác xuất nhập khẩu: nhận uỷ thác giao nhận vận tải trong nước và
quốc tế bằng các phương tiện đường biển, đường hàng không và các loại hình xuất
nhập khẩu, hàng hội chợ, triển lãm.
Dịch vụ khai thuê hải quan: thay mặt chủ hàng làm thủ tục hải quan, thủ tục về
cảng, giám định và dịch vụ vận chuyển hàng hoá tận nơi.
20
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Các dịch vụ cung cấp:
Dịch vụ cho hội chợ, triển lãm chiếm 80% hoạt đông và doanh thu của công
ty, chủ yếu là các hội chợ, triển lãm có yếu tố nước ngoài. Thường phục vụ cho các
hoạt động thương mại của VCCI, Vinexad (công ty quảng cáo và hội chợ thương
mại), các tổ chức và hiệp hội trung bình có 9-12 hội chợ, triển lãm /năm.Trong đó
sản phẩm này lại được chia làm 2 lĩnh vực:
• Thứ nhất: Dịch vụ in-bound đưa sản phẩm của các doanh nghiệp nước
ngoài vào các hội chợ, triển lãm quốc tế tại Việt Nam. Các hội chợ,
triển lãm quốc tế tại Việt Nam hàng năm có sử dụng dịch vụ in-bound
của Công Ty TNHH TM & DV Tiếp Vận Kết Nối gồm có: Viet Nam
Expo, Con-Build, Viet Nam commodies Fair, Textile Garment Expo,
• Thứ hai: Dịch vụ out-bound đưa sản phẩm của các doanh nghiệp Việt
Nam ra nước ngoài vào các hội chợ, triển lãm quốc tế tại nước ngoài.
Các hội chợ, triển lăm thường có Công Ty TNHH TM & DV Tiếp Vận
Kết Nối và các doanh nghiệp Việt Nam tham gia gồm có: Hong Kong
Houseware, Eco-product
2.1.2.2 Nhiệm vụ:
Đảm bảo uy tín và chất lượng dịch vụ đối với khách hàng, xây dựng và tổ chức
thực hiện kế hoạch kinh doanh theo đúng giấy phép kinh doanh, mục đích thành lập
của doanh nghiệp và tuân theo pháp luật. Quản lý, sử dụng vốn kinh doanh đúng
chức năng, đúng quy định, lập sổ kế toán, ghi chép sổ kế toán, hoá đơn chứng từ và
lập báo cáo tài chính trung thực, chính xác. Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình
theo hợp đồng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi vi phạm hợp

hợp đồng về cho đơn vị, quan hệ với khách hàng cũng như các cơ quan quản lý và
các hoạt động về Marketing.
Phòng kế toán: Gồm các bộ phận kế toán, nhân sự và hành chính.
22
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Phòng xuất nhập khẩu: Trưởng bộ phận là Supervisor, và các mhân viên chịu
trách nhiệm về giam sát, quản lý về hàng hoá, tình trạng, thời gian, các công việc
đóng gói, vận chuyển, bốc dỡ.
Quản lý và định hướng cho 3 bộ phận trên đó là Giám Đốc.
Sơ đồ tổ chức của công ty:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của công ty
Các nguồn lực của doanh nghiệp:
Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực đối với bất cứ doanh nghiệp dịch vụ nào
cũng là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp đó trên thương trường.
Phòng kinh doanh: Tổng số nhân sự 5 người
Điểm mạnh: Đội ngũ trẻ, sức khoẻ tốt, năng động, hiện đại và dễ tiếp thu cũng
như ứng xử linh hoạt, sáng tạo
Đánh giá: luôn có sự bình đẳng giới trong tổ chức nhân sự của công ty thể hiện
ở sự cân đối trong cơ cấu nhân sự theo giới tính và những chức vụ cao mà nữ giới
được nắm trong các phòng ban, cần thêm nhiều nhân sự nam hơn hiện tại, để phục
vụ cho các công việc giám sát hàng hoá, quản lý công nhân bốc dỡ, đóng gói, vận
chuyển
Trình độ: số nhân viên có trình độ đại học là 10 người, 1 trình độ cao đẳng.
23
SVTH: Kim Ngọc Thành GVHD: ThS. Lê Thị Ngọc Hằng
Phần lớn nhân sự được đào tạo từ lĩnh vực Quản trị Kinh Doanh, công nghệ,
tài chính kế toán. Có 3 người được đào tạo từ ngành xuất nhập khẩu, vận chuyển
hàng hải.
Kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực: trưởng các bộ phận đều là những người
có kinh nghiệm làm việc cho doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài ra có 2 nhân viên

lợi nhuận trước thuế và sau thuế qua các năm có thể thấy mức độ tăng tương đối
qua các năm.
Dựa vào biểu đồ ta nhận thấy tổng doanh thu tăng đều qua các năm cụ thể:
Năm 2008 tổng doanh thu là: 3.700.906.896 VNĐ, Năm 2009 tổng doanh thu là:
4.845.671.352 VNĐ tăng 1.144.764.456 VNĐ (tức 30.93%) so với Năm 2008. Năm
2010 doanh thu là: 6.950.750.825 VNĐ tăng 2.105.079.473 VNĐ (tức 43.44%) so
với Năm 2009.
25

Trích đoạn Xu hướng phát triển ngành Logistics hội chợ triển lãm trên thế giới và đặc trưng riêng của ngành Logistics hội chợ triển lãm quốc tế ở Việt Nam: Xu hướng phát triển ngành Logistics hội chợ, triển lã mở Việt Nam: Giải pháp tài chắnh: Phát triển cơ sở hạ tầng Logistics: Thành lập hiệp hội Logistics Việt Nam:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status