XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG TRẢ ĐỂ BẢO TỒN SẾU ĐẦU ĐỎ Ở KIÊN LƯƠNG KIÊN GIANG - Pdf 24



NỘI DUNG TÓM TẮT

BÙI QUANG THỊNH. Tháng 06 năm 2009. “Xác Định Mức Sẵn Lòng Trả
Để Bảo Tồn Sếu Đầu Đỏ Ở Kiên Lương, Kiên Giang”

BUI QUANG THINH. June 2009. “Willingness To Pay For Sarus Crane
Conservation In Kien Luong District, Kien Giang Province”

Sếu đầu đỏ là loài chim quí hiếm, có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và Thế giới,
đang bị đe dọa tuyệt chủng toàn cầu. Theo tín ngưỡng dân gian, Sếu đầu đỏ - còn được
gọi là chim Hạc - là linh vật gắn liền với nền văn hóa dân tộc Việt Nam. M
ục tiêu
chính của đề tài là xác định liệu người dân có sẵn lòng đóng góp tiền để bảo tồn loài
sếu quý hiếm mang giá trị văn hóa dân tộc này hay không.
Qua điều tra 160 hộ dân ở huyện Kiên Lương (Kiên Giang) và TP.HCM, sử
dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM), đề tài đã đánh giá được nhận thức của
người dân, xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả, ước l
ượng
mức sẵn lòng đóng góp bình quân của người dân cho việc bảo tồn sếu đầu đỏ.
Mặc dù việc trả tiền cho các giá trị môi trường khó nhìn thấy như việc bảo tồn
những loài có nguy cơ tuyệt chủng còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nhưng kết quả nghiên
cứu cho thấy người dân sẵn sàng đóng góp tiền để bảo tồn sếu đầu đỏ. Mức đóng góp
c
ủa người dân phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tín ngưỡng, thu nhập, trình độ học
vấn… Áp dụng các kĩ thuật hồi quy và phương pháp toán học, đề tài xác định được
mức đóng góp trung bình của người dân ở Kiên Lương và TP.HCM là 16.260
VND/tháng/hộ để bảo tồn sếu đầu đỏ. Khi loại bỏ những câu trả lời phản đối và không
chắc chắn mức đóng góp trung bình là 21.815 VND/tháng/hộ. Tổng m
ức đóng góp của

Philippines”
6
2.1.3. Nghiên cứu “ Ước lượng mức sẵn lòng trả cho bảo tồn tê giác Việt Nam” 7
2.1.4. Nghiên cứu “Định giá việc bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng di sản thế
giới: Giá trị không sử dụng của người dân đối với bãi đá ngầm Tubbataha thuộc
công viên biển quốc gia Philippines”
7
2.2 Tổng quan địa điểm nghiên cứu 9
2.2.1. Vị trí địa lý 9
2.2.2. Dân số 9
2.2.3. Khí hậu thời tiết 9
2.2.4. Diện tích, địa hình và thủy văn 9
2.2.5. Đa dạng sinh học 10

vi
2.2.6. Lịch sử hình thành 11
2.2.7. Các vấn đề về bảo tồn 12
2.2.8. Giá trị du lịch 13
CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1. Cơ sở lý luận 15
3.1.1 Khái niệm loài có nguy cơ tuyệt chủng 15
3.1.2 Sách đỏ 15
3.1.3 Thông tin về loài sếu đầu đỏ 18
3.1.4 Tổng giá trị kinh tế 21
3.1.5. Các kỹ thuật định giá giá trị không có thị trường 23
3.1.6. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) 24
3.2. Phương pháp nghiên cứu 31
3.2.1. Tiến trình thực hiện nghiên cứu 31
3.2.2. Công cụ khảo sát 31
3.2.3. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 33

PHỤ LỤC viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


ix
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Phân loại khoa học 19
Bảng 3.2. Số lượng sếu đầu đỏ ở Việt Nam và Campuchia năm 2001-2007 21
Bảng 3.3. Các Biến Đưa Vào Mô Hình 35
Bảng 4.1. Những Vấn Đề Môi Trường Được Người Trả Lời Quan Tâm 37
Bảng 4.2. Nhận Thức về Loài Có Nguy Cơ Tuyệt Chủng 38
Bảng 4.3. Nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo tồn những loài có nguy cơ tuyệt
chủng
39
Bảng 4.4. Lý Do Bảo Tồn Những Loài Có Nguy Cơ Bị Tuyệt Chủng 40
Bảng 4.5. Hiểu Biết của Người Dân về Loài Sếu Đầu Đỏ 40
Bảng 4.6. Nguồn Tiếp Nhận Thông Tin 41
Bảng 4.7. Đánh Giá Nhận Thức của Người Dân về Giá Trị Văn Hóa Tâm Linh 42
Bảng 4.8. Đặc Điểm Kinh Tế Xã Hội của Người được Phỏng Vấn 43
Bảng 4.9. Thống Kê Nghề Nghiệp Người được Phỏng Vấn 44
Bảng 4.10. Tôn Giáo của Người Được Phỏng Vấn 44
Bảng 4.11. Thống Kê Số Lượng Người Sẵn Lòng Trả 45
Bảng 4.12. Thống Kê Lý Do Sẵn Lòng Trả 46
Bảng 4.13. Thống kê Lý Do Không Sẵn Lòng Trả 47
Bảng 4.14. Kết Quả Ước Lượng Mô Hình Logit chưa hiệu chỉnh. 49
Bảng 4.15. Khả Năng Dự Đoán Của Mô Hình Hồi Quy Chưa Hiệu Chỉnh 51
Bảng 4.16. Bảng Thống Kê Đặc Điểm Các Biến Mô Hình Chưa Hiệu Chỉnh. 52
xi
DANH MỤC PHỤ LỤC

Phụ lục A. Mô Hình Hồi Quy Logit Chưa Hiệu Chỉnh 63

CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề
Tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong sự
tiến hóa, duy trì hệ thống tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, đa dạng sinh
học ở nhiều quốc gia trên thế giới đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi các hoạt động
của con người. Ước tính gần đây mỗi ngày trên thế giới có khoảng 40-100 loài bị tuyệt
chủng (Chambers và Whitehead, 2003). Theo Kế Hoạch Hành Động Quốc Gia Về
Đa
Dạng Sinh Học, tốc độ tuyệt chủng các loài bị đe dọa ở Việt Nam trong thập niên vừa
qua cao hơn cao hơn 1.000 lần tốc độ tuyệt chủng tự nhiên.
Thực tiễn ở nhiều nơi cho thấy việc xác định giá trị kinh tế từ việc bảo tồn các
loài có nguy cơ tuyệt chủng có ý nghĩa quan trọng. Nó giúp cho các nhà quản lý khu
bảo tồn thiên nhiên, các nhà hoạch định chính sách, các cấp chính quyề
n, cả xã hội và
từng người dân ý thức được giá trị kinh tế của việc bảo tồn các loài có nguy cơ tuyệt

Tìm kiếm nguồn tài chính cho việc bảo tồn vùng đồng cỏ tự nhiên là quan trọng,
“nếu không khẩn cấp bảo tồn vùng đồng cỏ tự nhiên ở Kiên Lương thì chuyện sếu biến
mấ
t là khó tránh khỏi” (Trần Triết, 2006). Bởi vì ngân sách chính phủ đầu tư để bảo
tồn các loài bị đe dọa thường không đầy đủ và ổn định, nên việc tiến hành một nghiên
cứu xác định mức sẵn lòng đóng góp của người dân để bảo tồn sếu đầu đỏ ở Kiên
Lương là cần thiết. Từ đó giúp chính quyền địa phương có cơ sở cho việc lập kế hoạ
ch
phát triển, đầu tư tài chính và đặc biệt là việc bảo tồn và tái tạo cảnh quan môi trường
của Kiên Lương để khai thác và phát triển một cách bền vững, cũng như tìm được
nguồn tài chính để tài trợ cho việc bảo tồn loài sếu đầu đỏ. Vì thế, được sự chấp thuận
của khoa Kinh Tế, Đại Học Nông Lâm TP.HCM, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề
tài “XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG TRẢ
ĐỂ BẢO TỒN SẾU ĐẦU ĐỎ Ở KIÊN
LƯƠNG, KIÊN GIANG”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định mức sẵn lòng trả để bảo tồn loài sếu đầu đỏ ở Kiên Lương, Kiên
Giang bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM), từ đó giúp chính quyền địa
phương có cơ sở cho việc lập kế hoạch phát triển, đầu tư tài chính và đặc biệt là bảo

3
tồn và tái tạo cảnh quan môi trường của Kiên Lương để khai thác và phát triển một
cách bền vững.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá nhận thức, thái độ của người dân về sự quan tâm đến môi trường và về
việc bảo tồn những loài có nguy cơ tuyệt chủng.
- Đánh giá nhận thức của người dân về loài sếu đầu đỏ.
- Xác định những yếu tố ảnh hưởng
đến mức sẵn lòng đóng góp.

Luận văn gồm 5 chương. Chương I: Tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục
tiêu nghiên cứ
u, phạm vi nghiên cứu và trình bày tóm tắt bố cục luận văn. Chương II :
Giới thiệu tổng quan về các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu cũng như tổng
quan địa bàn nghiên cứu: Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu bao gồm điều kiện tự
nhiên, đa dạng sinh học, các vấn đề bảo tồn… của huyện Kiên Lương. Chương III: Cơ
sở lí luận và phương pháp nghiên cứu, trình bày các khái ni
ệm, định nghĩa, và phương
pháp được sử dụng trong đề tài. Chương IV: Đây là chương trình bày các kết quả đạt
được của đề tài. Chương V: Dựa vào kết quả và thảo luận ở chương IV, tác giả kết
luận và đưa ra một số kiến nghị cho việc bảo tồn Sếu đầu đỏ.
CHƯƠNG 2

thức chi trả bắt buộc cao hơn đáng kể so với phương thức chi trả tự nguyện.

6
Tác giả cũng chỉ ra rằng một nghiên cứu CV được thiết kế một cách cẩn thận có
thể thực hiện thành công ở những nước đang phát triển để đo lường lợi ích phi kinh tế
của hoạt động bảo tồn những loài đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Từ tổng lợi ích thu được từ việc bảo tồn cò thìa mặt đen ở Macao, nghiên cứu chỉ
ra r
ằng tổng lợi ích của việc bảo tồn ước tính là 75,83 triệu MOP (9,48 triệu USD).
Nhưng nếu bỏ những câu trả lời không chắc chắn, tổng lợi ích sẽ lên đến 136 triệu
MOP (17 triệu USD). Trong tương lai khi có tài trợ từ nước ngoài, tổng lợi ích sẽ là
gấp đôi cho từng trường hợp. Tổng chi phí cho chương trình bảo tồn ước tính khoảng
90,03 triệu MOP (11,25 triệu USD). Qua phân tích lợi ích-chi phí, nghiên cứu nhận
thấy r
ằng tổng lợi ích từ hoạt động bảo tồn loài cò thìa mặt đen ở Macao lớn hơn tổng
chi phí.
Nghiên cứu này có thể làm tài liệu tham khảo dựa trên việc áp dụng phương pháp
phát biểu sở thích của người dân ở các quốc gia đang phát triển cho việc nghiên cứu sở
thích và thái độ của các người dân để tìm ra lợi ích của việc bảo tồn loài hoang dã.
2.1.2. Nghiên cứu “Sẵn lòng trả cho việc bảo tồn cá nhám voi t
ại Sorsogon,
Philippines”
Nghiên cứu này được Anabeth L. Indab thực hiện năm 2007. Phương pháp đánh
giá ngẫu nhiên (CVM) được sử dụng để tìm ra mức sẵn lòng trả của người dân ở
Sorsogon để bảo tồn loài cá nhám voi. Nghiên cứu được tiến hành ở tỉnh Sorsogon, nơi
cá nhám voi rất phổ biến, và là một nơi có sự tập trung cá nhám voi đông đúc nhất thế
giới vào mùa cao điểm. Phân tích hồi quy logit đa biến đã được thự
c hiện để tính toán
giá trị lợi ích của việc bảo tồn.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy người dân Philippines đã có nhận thức và có sự

nước là Hà Nội và TP.HCM với 800 bảng câu hỏi. Kết quả cho thấy, người dân đã sẵn
lòng trả 2,55USD/hộ cho việc bảo tồn tê giác.
Nghiên cứu đã thấy lợi ích cao hơn chi phí bảo tồn. Phương thức đóng góp hiệu
quả nhất là cộng thêm khoản đóng góp vào trong hóa đơn tiền điện, đây là phương
thức rẻ tiền nhất vì c
ả nước được kết nối với hệ thống điện lực.
Đặc trưng kinh tế - xã hội không tác động đáng kể trong bảng WTP, cho thấy
nhiều nhóm khác nhau ủng hộ sự bảo tồn tê giác. Nghiên cứu cũng cho thấy mặc dù
người ta sẵn lòng trả cho chương trình bảo tồn tê giác nhưng bảo tồn loài có nguy cơ
tuyệt chủng không phải là quan tâm hàng đầu của họ trong những vấn đề môi tr
ường.
Và vấn đề môi trường không nằm trong ba vấn đề quan trọng hàng đầu của đất nước.
2.1.4. Nghiên cứu “Định giá việc bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng di sản thế giới:
Giá trị không sử dụng của người dân đối với bãi đá ngầm Tubbataha thuộc công
viên biển quốc gia Philippines”
Nghiên cứu này được thực hiện bởi Rodelio Fernandez Subade năm 2005, sử
dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) nhằ
m đánh giá mức sẵn lòng trả của

8
người dân ở ba thành phố Quezon, Cebu và Perto Princesa ở Phillipines để trả cho sự
bảo tồn ven biển quan trọng nhất của đất nước. Mục tiêu nhằm tìm ra nguồn tài chính
có thể thay thế được cho chương trình bảo tồn vùng ven biển của Phillipines. Sự thiếu
hụt về tài chính đang dần dẫn đến những mối đe dọa cho các khu vực gần biển quan
trọng của đất nước này như hoạt động s
ăn bắt cá ở mức độ hủy diệt và trái phép cùng
nhiều vấn đề môi trường khác.
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) được sử dụng để tìm ra mức sẵn lòng
trả của người dân ở thành phố Quezon, Cebu và Perto Princesa để đóng góp vào quĩ
bảo tồn cho khu vực công viên ven biển quốc gia Tubbataha Reefs (TRNMP). Đây là

2.2.1. Vị trí địa lý
Huyện Kiên Lương nằm phía Tây Bắc tỉnh Kiên Giang, giáp vịnh Thái Lan và
có chung biên giới với Campuchia. Huyện có 1 thị trấn: thị trấn Kiên Lương, 10 xã:
Bình An, Bình Trị, Dương Hoà, Hoà Điền, Kiên Bình, Phú Lợi, Phú Mỹ, Tân Khánh
Hoà, Vĩnh Điều, Vĩnh Phú và 2 xã đảo: Hòn Nghệ và Sơn Hải.
2.2.2. Dân số
Dân số năm 2008 là 93.905 người; mật độ trung bình là 112 người/km². Dân cư
ở tập trung nhiều trong thị
trấn Kiên Lương.
2.2.3. Khí hậu thời tiết
Kiên Lương có lượng mưa lớn, lượng mưa lớn nhất từ tháng 5 đến tháng 10,
tổng lượng mưa các tháng này là 2.498 mm. Còn tổng lượng mưa các tháng mùa khô
là 515 mm.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27,2°C; Cao nhất: 37°C (ngày
13/5/1998) Thấp nhất: 17,3°C (Ngày 30/1/1993). Độ ẩm tương đối trung bình 81,9%.
2.2.4. Diện tích, địa hình và thủy văn
Diện tích tự nhiên của huyện là 90.632,25 ha, trong đó diện tích các đảo là
1.012 ha. Địa hình huyện Kiên Lươ
ng rất đa dạng, bao gồm đồng bằng, núi và núi đá,
hang động, biển, đầm, quần đảo.
Đồng Hà Tiên là một cánh đồng bằng phẳng ven biển, một trong những vùng
đất ngập nước theo mùa rộng lớn còn lại cuối cùng của đồng bằng sông Cửu Long.
Phần của vùng đồng ở thị xã Hà Tiên dốc dần ra phía Vịnh Thái Lan, do vậy, nước lụt
dễ dàng thoát đi và hầu như cả vùng chỉ bị
ngập 1,5m đến 2m vào mùa lũ. Đất trong
vùng là đất có độ phèn rất cao, có nghĩa đây không phải là đất phù hợp để canh tác
nông nghiệp (Buckton và ctv, 1999).
Phần ở vùng đồng của huyện Kiên Lương đã bị chia cắt bởi một hệ thống kênh
rạch chằng chịt và do vậy mang một số đặc trưng nước lợ. Đất ở đây ưu thế là đất phèn
rất dễ bị acid hoá nếu bị

giảm tại Vườn Quốc gia Tràm Chim.
Một dấu hiệu rất quan trọng khác đối với công tác bảo tồn, đó là các ghi nhận
về loài Quắm cánh xanh
Pseudibis davisoni tại khu vực vào năm 1999 và 2003
(Buckton và ctv, 1999; Nguyễn Phúc Bảo Hòa, 2003). Sự xuất hiện của hơn một cá thể
này cho thấy rằng có thể có một quần thể nhỏ sinh sống ở vùng lân cận. Loài này đang
bị suy giảm nghiêm trọng tại tất cả các khu phân bố của loài trên thế giới. Ngoài Hòn
Chông, gần đây ở Việt Nam loài này chỉ có ghi nhận tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, tỉnh
Đồng Nai (Eames và Tordoff).

11
Các loài chim nước lớn khác đã được ghi nhận là Giang sen Mycteria
leucocephala, Hạc cổ trắng Ciconia episcopus và Bồ nông chân xám Pelecanus
philippensis (Buckton và ctv, 1999). Ngoài ra, lông còn lại của Ô tác Houbaropsis
bengalensis đã được tìm thấy ở vùng đồng thuộc thị xã Hà Tiên vào năm 1997 (Trần
Triết và ctv, 2000; Buckton và ctv, 1999) cho thấy rằng loài này có thể vẫn xuất hiện
trong khu vực. Do tầm quan trọng đối với các loài chim bị đe dọa toàn cầu, tại vùng
đồng Hà Tiên đã có hai vùng chim quan trọng được ghi nhận là Hà Tiên và Kiên
Lương (Tordoff, 2002).
Có nhiều dẫn liệu chứng tỏ các vùng núi đá vôi tại đồng Hà Tiên cũng rất giàu
có về mặt sinh học, là do đặc tính cô lập của các vùng đá vôi này, độ đặc hữu ở đây
cũng rất cao. Đặc biệt các dạng cát-tơ đá vôi chứa đựng tính đa dạng sinh học rất cao
về khu hệ động vật không xương sống hang động (Deharveng và ctv, 2001), các điều
tra gần đây đã hé mở tính
đa dạng sinh học cao đến đáng kinh ngạc của khu hệ động
vật đất, trong đó có ít nhất là hai chi bọ cánh cứng được xác định là đặc hữu của khu
vực (Ferrer in press). Khu hệ ốc cạn của vùng cát-tơ đá vôi cũng có giá trị đa dạng
sinh học cao với rất nhiều loài đặc hữu địa phương hoặc đặc hữu vùng (FFI in prep.).
Ngoài ra, các vùng núi đá vôi tại đồng Hà Tiên còn là nơi cư trú của ít nhấ
t hai

c Kiểm lâm 2003) có đề xuất thành lập một khu
bảo tồn thiên nhiên có tên là Kiên Lương với diện tích 14.605 ha bao gồm cả hai khu
bảo vệ do BirdLife International và Viện STTNSV đề xuất trước đây. Danh lục này
hiện vẫn chưa được Chính phủ phê duyệt.
2.2.7. Các vấn đề về bảo tồn
Trong những năm 1990, UBND tỉnh Kiên Giang đã cấp phép thành lập một liên
doanh với một Công ty Đài Loan. Liên doanh này có tên là Kiên Tài được phép quản
lý 60.000 ha rừng sản xuất, trong đ
ó có 33.868 ha thuộc thị xã Hà Tiên. Liên doanh
này đã tiến hành trồng Bạch đàn Eucalyptus sp. và Tràm Melaleuca sp. nhưng đã thất
bại và phá sản. Tuy nhiên, liên doanh vẫn giữ quyền sử dụng đất đối với một số diện
tích quan trọng nhất về mặt bảo tồn đa dạng sinh học ở vùng đồng Hà Tiên (Nguyễn
Đức Tú, 2000).
Hiện nay, trảng cỏ ngập nước theo mùa ở khu vực đề xuất này đang b
ị đe doạ
nghiêm trọng do việc chuyển đổi đất thành đất canh tác nông nghiệp và lâm nghiệp.
Diện tích lớn trong khu vực đã được quy hoạch để chuyển đổi thành đất thổ cư và đất
nông nghiệp. Tuy nhiên, các loại đất chua phèn trong khu vực không thích hợp cho
việc chuyển đổi thành đất nông nghiệp, loại đất này chỉ cho năng suất thấp dưới 1 tấn
lúa/ha/năm (Buckton và ctv, 1999).
Tuy nhiên có thể nói mối đe dọa nghiêm trọ
ng và cấp thiết nhất đối với hệ sinh
thái trảng cỏ ngập nước theo mùa là việc phát triển nuôi trồng thủy sản. Trong các năm
2001 và 2002, tính toàn vẹn của hệ sinh thái này cũng bị đe dọa nghiêm trọng do việc

13
đào một loạt các kênh mương tại huyện Kiên Lương làm cho các sinh cảnh tự nhiên bị
chia cắt và làm thay đổi chế độ lũ. Việc xây dựng kênh mương cùng với thiếu ý thức
quản lý bảo tồn tạo điều kiện cho việc chuyển đổi những diện tích lớn trảng cỏ ngập
nước theo mùa thành ao tôm và một số diện tích nhỏ hơn thành đất nông nghiệp và

Thị xã Hà Tiên rất hấp dẫn đối với khách du l
ịch, ngoài tắm biển, các cơ sở hạ tầng
phục vụ du lịch cũng rất phát triển (Nguyễn Đức Tú, 2000). Số lượng du khách đến
vùng núi và bãi biển Hòn Chông nằm ở phía nam vùng đồng Hà Tiên cũng đang tăng

14
rất nhanh. Các núi đá vôi khác trong vùng cũng có cảnh quan cát-tơ rất ngoạn mục có
giá trị tiềm năng để phát triển du lịch nhưng đang bị đe dọa bởi việc khai thác đá. Hơn
nữa, do sự có mặt của Sếu đầu đỏ nên đồng Hà Tiên có tiềm năng lớn để phát triển du
lịch sinh thái và giáo dục môi trường.
Một số hang động trong các núi đá vôi trước kia là cứ địa cho lực lượng kháng
chiến trong chiến tranh chống Mỹ nên có giá trị lịch sử cao. Chính vì giá trị này, một
phần của khối núi đá vôi lớn nhất mới được bảo tồn không bị khai thác đá (L.
Deharveng, 2004).


Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài
nguyên sinh vật thiên nhiên. Đây cũng là tài liệu khoa học được sử dụng vào việc soạn
thảo và ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật
thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.
Sách đỏ Việt Nam là danh sách các loài động vật, thự
c vật ở Việt Nam thuộc
loại quý hiếm, đang bị giảm sút số lượng hoặc có đã nguy cơ tuyệt chủng. Đây là căn
cứ khoa học quan trọng để Nhà nước ban hành những Nghị định và Chỉ thị về việc
quản lý bảo vệ và những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển những loài động
thực vật hoang dã ở Việt Nam. 16
c. IUCN ở Việt Nam
IUCN đã có mối liên hệ lâu dài với Chính phủ Việt Nam ngay từ đầu những
năm 1980 khi IUCN hỗ trợ kỹ thuật năm 1984-1985 cho việc chuẩn bị xây dựng
Chiến lược Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia lần thứ nhất. Kể từ đó tới nay, IUCN Việt
Nam đã có những đóng góp quan trọng vào công tác bảo vệ môi trường và bảo tồn
thiên nhiên ở Việt Nam. Trong số các hoạt độ
ng có việc hỗ trợ kỹ thuật cho Cục Môi
trường và Kế Hoạch Hành động Đa dạng Sinh học trong thời gian 1993-1996, Kế
hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững cho giai đoạn 1991-2000, Kế
hoạch Hành động Môi trường Quốc gia 5 năm giai đoạn 2001-2005, và Luật Đa dạng
Sinh học của Việt Nam.
Việt Nam trở thành quốc gia thành viên của IUCN vào năm 1993. Văn phòng
đại diện đã đượ
c thành lập tại Hà Nội trong cùng năm đó. IUCN đã có hai Tổ Chức
Phi Chính Phủ (NGOs) thành viên ở Việt Nam, đó là Viện Kinh tế Sinh Thái (ECO-
ECO), và Trung Tâm Nghiên cứu Tài nguyên Thiên nhiên và Môi trường (CRES).
Trong giai đoạn 2004-2007, Cơ quan Phát triển Quốc tế Thụy Điển (SIDA) hỗ


Nguồn tin: iucnredlist.org
Trong đó:
+ Tuyệt chủng (Extinct, viết tắt EX) là một trạng thái bảo tồn của sinh vật
được quy định trong Sách đỏ IUCN. Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng khi
có những bằng chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết.

Trích đoạn Nh ận xét hệ số McFadden R– Squared (R McF 2) của mô hình hồi quy chưa hiệu chỉnh Đánh giá về phương thức chi trả Kết quả ước lượng mô hình hồi quy logit đã hiệu chỉnh KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status