Xác định mức sẵn lòng trả (WILLINGNESS TO PAY WTP) của các hộ chăn nuôi cho việc cải thiện mô hình biogas tại xã lê hồ, huyện kim bảng, tỉnh hà nam” - Pdf 22

1

2
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
ĐẶT VẤN ĐỀ 29
MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 30
1. Đánh giá sơ bộ chất lượng nước thải chăn nuôi sau khi xử lý bằng mô hình
Biogas; 30
2.Xác định nhu cầu của người dân về cải thiện mô hình Biogas và xác định mức
độ sẵn lòng trả (WTP) của hộ dân cho việc cải thiện hệ thống Biogas hiện có;. .30
3.Đề xuất giải pháp cải thiện mô hình Biogas 30
Chương 1: TỔNG QUAN 31
a. Vị trí địa lý 31
b. Đặc điểm địa hình 31
Địa hình của xã tương đối bằng phẳng không có đồi núi, rất thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp 31
c. Khí hậu 31
Xã Lê Hồ huyện Kim Bảng mang những đặc điểm của khí hậu đồng bằng sông
Hồng: nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều. Nhiệt
độ trung bình năm là 230C nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 là 160C và
cao nhất vào tháng 7 là 290C. Lượng mưa trung bình trong năm là 1.800-2.200
mm, trong đó thấp nhất là 1.300 mm và cao nhất là 4.000 mm. [15] 31
a. Diện tích, dân số 31
Diện tích 31
Xã Lê Hồ có tổng diện tích đất đai tự nhiên là 7,35km2 , trong đó diện tích đất
canh tác là 521,95ha 31
Dân số 31
Toàn xã có 2300 hộ với 8762 nhân khẩu, Đơn vị hành chính bao gồm 5 thôn:
Phương Thượng, Phương Đàn, Đồng Thái, An Đông, Đại Phú với 17 xóm.[1] 31
b. Kết cấu hạ tầng 31

Đánh giá ngẫu nhiên ( tên gốc là Contingent Valuation – CV) hay phương pháp
đánh giá ngẫu nhiên (CVM) là phương pháp được dùng để đánh giá chất lượng
môi trường không dựa trên thị trường. Bằng cách xây dựng một thị trường ảo,
người ta phải xác định được hàm cầu về hàng hóa môi trường thông qua sự sẵn
lòng chi trả của người dân (WTP) hoặc sự sẵn lòng chấp nhận khi họ mất đi hàng
hóa đó ( WTA), đặt trong tình huống giả định. Thị trường không có thực, WTP
thì không thể biết trước, ta gọi đây là phương pháp ngẫu nhiên. Một tình huống
giả thuyết đưa ra đủ tính khách quan, người trả đúng với hành động thực của họ
thì phương pháp là khá chính xác. Các nhà phân tích sau đó có tính toán mức sẵn
lòng chi trả trung bình của những người được hỏi, nhân với tổng số người hưởng
thụ giá trị hay tài sản môi trường thì thu được ước lượng giá trị mà tổng thể dân
chi cho tài sản đó 33
Phương pháp định giá ngẫu nhiên bỏ qua nhu cầu tham khảo giá thị trường của
loại hàng hóa, dịch vụ môi trường bằng cách hỏi thẳng từng cá nhân để giả định
giá của một hàng hóa hay giá trị của môi trường. Phương pháp thường được áp
dụng nhất là phỏng vấn các cá nhân tại hộ gia đình, sử dụng các câu hỏi về sự

4
sẵn sàng chi trả (Willingness to pay-WTP) của họ cho việc bảo vệ môi trường
hay cho một loại hàng hóa nào đó. Sau đó các nhà phân tích có thể tính giá trị
WTP trung bình của những người trả lời phỏng vấn nhân với tổng số người được
hưởng thụ hàng hóa, lợi ích của việc bảo vệ môi trường, để có tổng giá trị ước
tính của loại hàng hóa hay môi trường đang được xem xét 33
Định giá ngẫu nhiên phụ thuộc là một cơ sở cho khảo sát kinh tế dùng để đánh
giá nguồn tài nguyên phi thị trường, chẳng hạn như bảo vệ môi trường hoặc tác
động của ô nhiễm môi trường. Trong khi những tài nguyên phi thị trường này đã
mang lại lợi ích cho con người và không có giá trên thị trường hay không bán
trực tiếp. Phương pháp được gọi là phương pháp ngẫu nhiên vì nó mô phỏng
ngẫu nhiên một thị trường trong đó hành vi của con người được mô hình hóa
trong một bảng phỏng vấn. Câu hỏi đơn giản nhất để suy ra mức tối đa người dân

trực tiếp hay gửi thư, lấy ý kiến Tuy nhiên phải đảm bảo tính chính xác và tính
hiệu quả 35
Bước 4:Phân tích câu trả lời từ kết quả điều tra 35
Ưu điểm 35
Một ưu điểm nổi trội của phương pháp này là, trên lý thuyết phương pháp có thể
được sử dụng để đánh giá các nguồn tài nguyên mà sự tồn tại tiếp tục của nó
được người ta đánh giá cao, nhưng bản thân họ không bao giờ đến thăm quan. Ví
dụ: Nam cực là nơi mà người ta sẵn sàng trả cho việc bảo vệ, nhưng nói chung
thì họ không bao giờ đến thăm quan. Phương pháp này đặc biệt hữu ích khi đánh
giá chất lượng môi trường của một vùng đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Kết quả
này cho kết quả đánh giá cao khi người dân hiểu được tính chất các tính chất
nghiêm trọng của việc ô nhiễm môi trường mà phải chịu đựng trong giả định .35
Hạn chế 35
Thực hiện CVM tưởng chừng dễ, nhưng có hai vấn đề sau đây rất dễ mắc phải,
gây cản trở cho việc làm một nghiên cứu thành công: 35
Về phía người trả lời: khi thực hiện mua bán một món hàng trên thị trường,
người mua sẽ đưa giá thực dựa trên chi phí và lợi nhuận, người mua sẽ trả tiền
thật dựa trên nhu cầu và ngân sách. Hàng hóa môi trường vốn đã không hiện hữu
trên thị trường, nay lại được đặt trong một tình huốn giả định, do người nghiên
cứu nghĩ ra, buộc người trả lời phải suy nghĩ và tưởng tượng. Sẽ có hai trường
hợp xảy ra: 36
1.Họ không tưởng tượng hết được những điều gì sẽ xảy ra trên thị trường thật 36
2.Họ hiểu được vấn đề và có ý định trả lời sai lệch 36
Trường hợp 1, người người trả lời không thực hiện những chuyển giao thực nên
họ cũng không biết rõ nên đặt giá như thế nào cho đúng, họ sẽ đưa ra một mức
giá bừa. Nếu đặt trong hoàn cảnh họ hiểu hết, chưa chắc họ đã có những hành vi
tương ứng. Mặt khác người trả lời chưa chắc đã đủ kiến thức về khoa học tự
nhiên và xã hội để hiểu các mức độ tác động của môi trường. Trong trường hợp
thứ 2, người trả lời có một suy nghĩ rằng, nếu họ trả lời đúng như mình nghĩ,
mức giá đó có thể áp dụng rộng rãi, vì vậy có thể vì động lực cá nhân nào đó, họ

thuộc vào điều kiện cụ thể mà chúng ta xác định phương tiện đóng góp hay sử
dụng nhất để tránh trở ngại này 37
Tại Việt Nam, phương pháp định giá ngẫu nhiên phụ thuộc (CMV) vẫn được
dùng trong các nghiên cứu về kinh tế và kinh tế môi trường. CVM đã được áp
dụng ở một vài nghiên cứu trong việc xác định mức sẵn sàng chi trả cho bảo vệ
giá trị kinh tế của môi trường, xác định mức sẵn sàng chi trả cho việc thu gom xử
lý chất thải rắn sinh hoạt 37
Trần Thu Hà và Vũ Tấn Phương thuộc Trung Tâm Nghiên cứu Sinh Thái và Môi
Trường rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam năm 2005 đã áp dụng
phương pháp CVM để định giá giá trị của cảnh quan sinh thái Vườn quốc gia Ba
Bể và du lịch Hồ Thác Bà. Kết quả nghiên cho thấy tổng chi phí lợi ích thu được
từ khách du lịch trong nước cho vườn quốc gia Ba Bể là 1,552 triệu đồng mỗi
năm và cho Hồ Thác Bà là 529 triệu đồng mỗi năm. Ngoài ra tổng số tiền khách
du lịch sẵn sàng trả 586 triệu đồng cho việc bảo vệ cảnh quan ở Vườn Quốc gia
Ba Bể và 291 triệu đồng cho Hồ Thác Bà, trong đó mức trung bình khách du lịch
nước ngoài sẵn sàng chi trả để bảo vệ cảnh quan Vườn quốc gia Ba Bể là 89.300
đồng và mức trung bình khách du lịch trong nước là 21.300 đồng và mức trung
bình khách du lịch sẵn sàng chi trả để bảo vệ cảnh quan hồ Thác Bà là 8600
đồng.[11] 37

7
Phạm Hồng Mạnh và cộng sự năm 2008 đã sử dụng phương pháp chi phí du
hành theo vùng (ZTCM) và định giá ngẫu nhiên phụ thuộc CVM nhằm tìm ra giá
trị du lịch của du khách trong nước đối với khu bảo tồn Biển Vịnh Nha Trang,
đồng thời tìm ra mức sẵn lòng chi trả cho việc duy trì cảnh quan và tái tạo tài
nguyên môi trường của Vịnh Nha Trang. Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng lợi
ích giá trị giải trí của du khách trong nước đối với vịnh Nha Trang là 23.281,281
tỷ đồng và thặng dư tiêu dùng là 7760,42 tỷ đồng hàng năm (2007). Giá sẵn lòng
trả của du khách được tính vào phụ phí tiền phòng tại khách sạn của Nha Trang
cho một ngày đêm nghỉ là 7875 đồng/du khách/đêm và tổng mức sẵn lòng trả của

từ là chủ hộ gia đình hoặc người có khả năng quyết định 39

8
Đối tượng loại trừ trong nghiên cứu: 39
Đối tượng không sử dụng mô hình Biogas 39
Đối tượng không có khả năng trả lời ( đãng trí, trẻ em ) 39
Đối tượng vắng nhà trong thời gian thu thập thông tin 39
Đối tượng từ chối hợp tác 39
Nghiên cứu được thực từ ngày 24 tháng 11 năm 2013 đến ngày 15 tháng 12 năm
2013 39
Địa điểm nghiên cứu là xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam 39
Nguồn số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo kinh tế xã hội
2012 của UBND xã Lê Hồ, báo cáo khảo sát thống kê chăn nuôi Lợn, Trâu Bò,
Gia Cầm trên địa bàn xã năm 2013. Ngoài ra còn được thu thập từ các nguồn
khác như các báo cáo khoa học, giáo trình,Tạp chí khoa học: Tạp chí khoa học
của trường ĐHQG, ĐHNN, Tạp chí khoa học xã hội vv 39
Nhóm nghiên cứu đi khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu để nắm được tình
hình khái quát của các hộ sử dụng mô hình Biogas, đồng thời để hỗ có được cơ
sở để xây dựng bộ câu hỏi điều tra. Nhóm trực tiếp đến các hộ sử dụng mô hình
Biogas và quan sát 39
Chọn mẫu: Các hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên từ 124 hộ gia đình có sử
dụng mô hình Biogas trên địa bàn xã Lê Hồ.[5] 40
Cỡ mẫu:[2] 40
40
Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contigent Value Method: CVM) nhằm tạo
một thị trường chưa tồn tại về một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó. Viễn cảnh được
đưa vào trong nghiên cứu này là giả định chất lượng môi trường sẽ được cải
thiện,bệnh dịch ở người và vật nuôi sẽ ít hơn từ đó sẽ tăng thu nhập cho gia đình.
Nhờ vào việc cải thiện mô hình Biogas nước thải từ Biogas bớt mùi đi, các vi
sinh vật gây bệnh mất đi, nước ở cống rãnh ao hồ trong thôn được cải thiện,

mô hình Biogas. Trong tình huống giả định, điều tra viên phải nói rõ lợi ích của
việc cải tạo mô hình Biogas của gia đình so với mô hình đang sử dụng hiện tại
gia đình đang sử dụng 42
Câu hỏi về ốm đau ở người và dịch bệnh ở vật nuôi 42
Tham vấn cộng đồng 42
Trước khi tiến hành tham vấn thu thập số liệu tại địa bàn thì điều tra viên được
tập huấn 1 buổi, tiến hành phỏng vấn thử 42
Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 42
Số liệu sau khi được hiệu chỉnh sau đó nhập liệu, xử lý và phân tích nhập vào
bằng Microsoft Excel 42
Các sai số hay mắc phải và cách khắc phục 42
Các sai số: 42
+ Sai số do điều tra viên: điều tra viên bỏ sót câu hỏi khi thu thập thông tin, sai
số do ghi chép thông tin sai, sai số do điều tra viên không hiểu rõ câu hỏi 42
+ Sai số do người trả lời phỏng vấn: do đặc thù của bộ câu hỏi về các giả định và
các tình huống giả định lại đưa ra các mức giá khác nhau. Nên đối tượng trả lời
có thể chỉ đại khái, hoặc có thể trả lời ở các mức giá rất cao hặc rất thấp so với
khả năng của mình 42
+ Sai số do đối tượng không hiểu biết về các giả định được xây dựng 42

10
+ Sai số trong quá trình nhập liệu 42
Cách khắc phục sai số: 42
+ Đối với sai số do điều ta viên: Tập huấn kỹ cho các điều tra viên về bộ câu hỏi
cũng như một số ngôn ngữ của địa phương 42
+ Đối với sai số do đối tượng trả lời phỏng vấn: Hỏi chi tiết rõ ràng, kiểm tra
chéo thông tin bằng cách lập lại câu hỏi 43
+ Đối với các sai số trong quá trình thu thập số liệu : giám sát, kiểm tra số liệu tại
thực địa 43
+ Đối với sai số trong quá trình hiệu chỉnh và nhập liệu: đọc phiếu và hiệu chỉnh

24 44
25.2 44
Sử dụng mô hình Biogas từ 44
0-3 năm 44
39 44
41 44
3-7 năm 44
31 44
32.5 44
7-10 năm 44
21 44
22.1 44
>10 năm 44
4 44
4.4 44
Số lượng gia súc gia cầm/hộ gia đình (con) 44
0-5 con 44
4 44
4.2 44
6-10 con 44
4 44
4.2 44
11- 20 con 44
14 44
14.7 44
21-50 con 44
38 44
40 44
50-100 con 44
19 44

Biogas được điều tra. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có từ 1- 2 người
đang sinh sống là 9.5%, hộ gia đình có từ có từ 3-5 người đang sinh sống có tỷ lệ
cao nhất chiếm 65.3% tổng số hộ điều tra còn lại là các hộ gia đình có số người
đang sinh sống trong gia đình lớn hơn 5 chiếm 24.2% 45
Kết quả điều tra cũng cho thấy số hộ sử dụng mô hình Biogas từ 10 năm trở lên
là 4.4%, số hộ sử dụng mô hình Biogas từ 7-10 năm là 22.1%, số hộ sử dụng mô
hình Biogas từ 3-7 năm là 32.5%, số hộ sử dụng mô hình Biogas từ 0-3 năm

13
chiếm tỷ lệ cao nhất 41%. Từ kết quả trên cho thấy tỷ lệ số hộ sử dụng mô hình
Biogas những năm trở lại đây ngày càng tăng. Kết quả trên cũng cho thấy người
dân thấy được lợi ích từ việc sử dụng mô hình Biogas để xử lý chất thải chất nuôi
của gia đình nhà mình 45
Kết quả điều tra cũng đã thống kê được số lượng gia súc gia cầm của các hộ sử
dụng mô hình Biogas với kết quả cụ thể như sau: số hộ có số gia súc gia cầm từ
0-5 con và số hộ gia đình có số gia súc gia cầm từ 6-10 có tỷ lệ bằng nhau và có
tỷ lệ thấp nhất chiếm tỷ lệ 4.2% tổng số hộ. Tiếp đến là số hộ gia đình có số gia
súc gia cầm từ 11-20 con chiếm tỷ lệ 14.7%, lớn hơn 100 con có 16 hộ chiếm
16%. Chiếm tỷ lệ 20% tổng số hộ là các hộ gia đình có số gia súc gia cầm có
nuôi từ 50-100 con, chiếm tỷ lệ cao nhất là 40% là các hộ có số gia súc gia cầm
từ 21-50 con 45
Kết quả điều tra cũng cho biết việc xử lý nước thải sau Biogas của các hộ. Với
kết quả số hộ xả trực tiếp ra ao hồ nhà mình là 3.2%, ra ao hồ của thôn xóm là
2.1% , tiếp đến là 12.6% số hộ xả trực tiếp ra cống rãnh ra sông, 42.1% số hộ thải
ra cống rãnh ra ao, hồ của thôn là tỷ lệ cao nhất. Số hộ sử dụng để bón, tưới cho
cây trồng là 21%, còn lại 20% số hộ thải trực tiếp ra mương máng và cho người
khác 45
Nhìn chung các hộ điều tra trong gia đình có số người sinh sống từ 3-5 chiếm tỷ
lệ cao hơn cả, số hộ có lượng gia súc gia cầm từ 21-50 có tỷ lệ lớn nhất tỷ lệ này
cũng phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở quy mô hộ gia đình 45

9.5 46
>64 46
3 46
3.1 46
Thu nhập/tháng ( triệu đồng) 46
0-2( triệu đồng) 46
41 46
43.2 46
2-5(triệu đồng) 46
40 46
42.1 46
5-10(triệu đồng) 46
5 46
5.3 46
>10(triệu đồng) 46
1 46
1 46
Không biêt 46
8 46
8.4 46
Học vấn 46

15
Tiểu học 46
9 46
9.5 46
Trung học cơ sở 46
65 46
68.4 46
Trung học phổ thông 46

cứu quan sát thấy hầu hết nước vẫn có màu đen như hình 3.1 và hình 3.2 dưới
đây: 47
Hinh 3.2: Nước sau Biogas của hộ Nguyễn Quốc Tuyến thôn Phương Thượng xã
Lê Hồ 48
Nước thải từ Biogas của các hộ phần lớn vẫn có màu đen đục và mùi khá nặng.
Chỉ có một số ít các hộ nước thải ra từ Biogas không có màu đen, những hộ này
rơi vào những hộ chăn nuôi ít gia súc gia cầm 48
Môi trường chứa nước thải sau Biogas theo những người được hỏi được thể hiện
qua bảng 3.4 dưới đây 48
Bảng 3.4: Đánh giá ô nhiễm môi trường chứa nước thải Biogas 48
Điểm chứa nước thải sau Biogas 48
Số lượng người 48
Tỷ lệ(%) 48
Có ô nhiễm 48
47 48
49.5 48
Không ô nhiễm 48
40 48
42.1 48
Không biết 48
8 48
8.4 48
Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 48
Như vậy 49.5% số đối tượng được hỏi trả lời là các điểm chứa nước thải Biogas
có ô nhiễm tới khu vực xung quanh. 42.1% số đối tượng trả lời là không bị ô
nhiễm và 8,4% số đối tượng trả lời không biết có trả lời không biết có ô nhiễm
không 48
48
Một vài hình ảnh các điểm chứa nước thải sau Biogas được quan sát và chụp ảnh
ghi lại tại một vài điểm cụ thể qua hình 3.3 và 3.4 dưới đây 49

0 50
Cải thiện mô hình Biogas 50
Muốn cải thiện 50
72 50
75.8 50
Không muốn cải thiện 50
22 50
23.2 50

18
Không biết 50
1 50
1 50
Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 50
Qua kết quả tổng hợp kết quả từ phỏng vấn các đối tượng cho thấy đa số các đối
tượng được hỏi đều muốn cải thiện môi trường sống và mô hình Biogas. Cụ thể
là có tới 85.3% số người được hỏi trả lời muốn cải thiện môi trường sống, chỉ có
14.7% số người được hỏi trả lời không muốn cải thiện. Số người muốn cải thiện
muốn cải thiện mô hình Biogas cũng rất cao với 75.8% tổng số người, số người
không muốn cải thiện là 23.2% chỉ có 1% trả lời là không biết. Số người muốn
cải thiện môi trường sống nhiều hơn đôi chút so với số người muốn cải thiện hê
thống biogas có thể là do một số người có tâm lý cải tạo những công trình chung
thì được nhưng không muốn cải tạo hệ thống riêng của gia đình 50
Đối với các hộ gia đình sẵn sàng chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas, trong
nghiên cứu này đưa ra 8 mức giá để hỏi các hộ gia đình về mức sẵn sàng chi trả
của họ thể hiện ở Bảng 3.6 dưới đây: 51
Bảng 3. 6: Mức sẵn sàng chi trả cho cải thiện mô hình Biogas 51
Mức giá(đồng) 51
Số hộ WTP 51
Tỷ lệ(%) 51

sàng chi trả 0 đồng và 500 nghìn đồng; 19,4% các hộ sẵn sàng chi trả 1 triệu
đồng; 8.3% các hộ sẵn sàng chi trả 5 triệu đồng. Còn lại cùng chiếm 5.6% là các
hộ sẵn sàng chi trả ở mức 3 triệu đồng và 10 triệu đồng 51
Tỷ lệ các hộ gia đình sẵn sàng chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas theo một
số đặc điểm cá nhân và hộ gia đình được trình bày từ biểu đồ 3.1 đến biểu đồ 3.5.
52
Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 52
Biểu đồ 3. 1 cho thấy trong số 72 hộ gia đình đồng ý chi trả thì nữ giới sẵn sàng
chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas cao hơn so với nam giới (54% so với
46%).Điều này cho thấy nữ giới sẵn sàng bỏ tiền ra để cải thiện mô hình Biogas
nhiều hơn nam giới 53
Tỷ lệ sẵn sàng chi trả theo thu nhập được thể hiện qua biểu đồ 3.2 dưới đây: 53
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ sẵn sàng chi trả theo thu nhập 53
53
Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 53
Kết quả biểu đồ 3.2 cho thấy những người có thu nhập từ 2-5 triệu sẵn sàng chi
trả cho việc cải tạo mô hình Biogas nhiều nhất (50%), vượt xa những người có
thu nhập từ 5-10 triệu và trên 10 triệu/tháng (9.7% và 5.6%), những người có thu
nhập từ 0-5 triệu/tháng là 33.3% 53
Tỷ lệ sẵn sàng chi trả theo trình độ học vấn được tổng hợp và biểu diễn qua biểu
đồ 3.3 sau: 53
Biểu đồ 3. 3: Tỷ sẵn sàng chi trả theo trình độ học vấn 53
54

20
Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 54
Những người có trình độ học vấn trung học cơ sở sẵn sàng chi trả cao nhất
(65.3%), tiếp đến là những người có trình độ học vấn trung học phổ thông. Còn
lại là những người có trình độ học vấn tiểu học và trung học chuyên nghiệp
(9.7% và 1.4%) 54

cao hơn nữ giới( 55% so với 45%). Mức sẵn sàng chi trả theo số người sống

21
trong gia đình cho việc cải thiện mô hình Biogas được thể hiện qua biểu đồ 3.7
dưới đây 56
Biểu đồ 3. 7: Mức giá sẵn sàng chi trả theo số người trong gia đình 57
57
Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 57
Biểu đồ 3.7 cho thấy trong số những gia đình sẵn sàng chi trả thì không có gia
đình nào có số người dưới 2. Ở mức giá 1 triệu đồng thì trong tổng số gia đình
sẵn sàng chi trả thì tỷ lệ gia đình có số người 2-5 người sẵn sàng chi trả cao hơn
gia đình có số người lớn hơn 5 người (60% so với 40). Ở mức giá 10 triệu thì tỷ
lệ gia đình có từ 2-5 người và gia đình lớn hơn 5 người có tỷ lệ bằng nhau, ở mức
giá 5 triệu thì tỷ lệ sẵn sàng chi trả giữa gia đình có từ 2-5 người có tỷ lệ vượt xa
gia đình có số ngườ lớn hơn 5 (83.3% so với 16.7%). ở các mức giá 0 đồng, 3
triệu, 15 triệu, trên 15 triệu đồng đều rơi vào những gia đình có số người sinh
sống từ 2-5 người 57
Mức giá sẵn sàng chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas theo thu nhập của
người trả lời được trình bày qua biểu đồ 3.8 dưới đây 57
Biểu đồ 3. 8: Mức giá sẵn sàng chi trả theo thu nhập của người trả lời 58
58
Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 58
Biểu đồ 3.8 cho thấy ở hai mức giá cao nhất là 15 triệu và trên 15 triệu đồng tỷ lệ
tất cả những người sẵn sàng chi trả đều có thu nhập từ 2-5 triệu đồng. Ở mức giá
10 triệu đồng cũng vậy tỷ lệ những người sẵn sàng chi trả có thu nhập từ 2- 5
triệu đồng chiếm tỷ lệ cao 75% trong khi đó 25% còn lại là những người không
rõ thu nhập hàng tháng là bao nhiêu 58
Trình độ học vấn của các đối tượng trả lời phỏng vấn và các mức giá họ sẵn sàng
chi trả cho việc cải thiện mô hình Biogas được thể hiện qua biểu đồ 3.9 sau: 58
Biểu đồ 3. 9: Mức giá chi trả theo trình độ học vấn 59

trả chiếm tỷ lệ nhiều nhất là những gia đình có nuôi gia súc gia cầm có số lượng
từ 21-50 con. Tiếp đến là những gia đình có số gia súc, gia cầm trên 100 con và
từ 51-100 con 61
Kết quả mức giá sẵn sàng chi trả theo thời gian sử dụng mô hình Biogas được thể
hiện ở biểu đồ 3.12 dưới đây 61
Biểu đồ 3. 12: Mức giá chi trả theo thời gian sử dụng mô hình Biogas 62
62
Nguồn:( tổng hợp từ kết quả điều tra 95 hộ sử dụng Biogas) 62
Thông qua kết quả biểu đồ 3. 12 cho thấy ở hai mức giá cao nhất là 15 và trên 15
triệu chiếm tỷ lệ 100% hộ sẵn sàng chi trả đều rơi vào gia đình sử dụng mô hình
Biogas được từ 3-5 năm. ở mức giá 10 triệu đồng cũng tương tự như vậy những
hộ gia đình có thời gian sử dụng mô hình Biogas từ 0-3 năm chiếm tỷ lệ cao hơn
so với gia đình có thời gian sử dụng từ 3-7 năm và từ 7-10 năm (50% so với 25%
và 25%), tuy nhiên ở mức 5 triệu lại có sự khác biệt hộ gia đình có số gia súc gia
cầm từ 3-7 năm chiếm tỷ lệ cao nhất tiếp đó là những hộ gia đình có thời gian sử
dụng Biogas từ 0-3 năm và từ 7-10 năm. ở mức 500 nghìn thì tỷ lệ sẵn sàng chi
trả của các gia đình có thời gian sử dụng từ 0-3 năm và từ 3-7 năm bằng nhau
tiếp đến là gia đình có thời gian sử dụng từ 7-10 năm 62
Từ kết quả thu được của các hộ gia đình sử dụng mô hình Biogas ở xã Lê Hồ,
huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam mà tôi tiến hành nghiên cứu. Tôi xin đề xuất một
số giải pháp để cải thiện chất lượng nước thải sau Biogas và môi trường như sau:

23
62
Chính sách: 62
Cơ quan, chính quyền các cấp cần có chính sách khuyến khích các tổ chức cá
nhân có những sáng kiến, giải pháp cải thiện mô hình Biogas phù hợp để người
dân có thể tham gia. Ngoài ra thì cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ về mặt
kinh tế cho những gia đình cải thiện mô hình Biogas nhà họ. Chính quyền địa
phương cùng với các tổ chức, đoàn thể thành lập hội hoặc câu lạc bộ những

còn nhiều bất cập, làm ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường sống của người dân.

24
Bên cạnh đó hệ thống cống rãnh thoát nước ở một vài thôn xóm chưa đồng bộ,
nước thải còn ứ đọng gây ảnh hưởng tới môi trường 64
Kết quả điều tra phỏng vấn cũng cho thấy phần lớn các hộ được hỏi đều có nhu
cầu cải thiện môi trường sống và cải thiện mô hình Biogas. Kết quả này cũng cho
thấy nhận thức của người dân ngày càng cao và có ý thức bảo vệ môi trường 64
Mức WTP của các hộ dân không đồng đều phụ thuộc vào giới tính, thu nhập,
trình độ học vấn, thời gian sử dụng mô hình Biogas, số lượng gia súc gia cầm
nuôi, số người sinh sống trong gia đình 64
Với số liệu thu được từ điều tra phỏng vấn, nghiên cứu đã xác định được mức
chi trả trung bình của các hộ dân là WTP = 1.895.833,333 đồng/lần cải thiện.
tổng mức WTP của các hộ là 136.500.000 đồng 64
Nghiên cứu cũng đã đề ra được các nhóm giải pháp về kinh tế, chính sách, kỹ
thuật, phụ trợ để hỗ trợ cải thiện mô hình 64
KIẾN NGHỊ 64
Để phát nâng cao hiệu quả mô hình Biogas Svà khắc phục tình trạng nước thải
sau Biogas làm ảnh hưởng xấu tới môi trường, cũng như mỹ quan. Tôi xin đưa ra
một số kiến nghị: 64
Chính quyền địa phương có biện pháp tăng cường, nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường của người dân.Thông qua các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, lồng ghép
vào các chương trình sinh hoạt của các đoàn thể 65
Cơ quan chính quyền địa phương cần ban hành nội quy, quy định, đưa vào hương
ước của địa phương, quy chế xử phạt về hành động gây ảnh hưởng tới môi
trường 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
1.Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012,
phương hướng nhiệm vụ năm 2013 66
2.Bài giảng kinh tế môi trường. Khoa kinh tế - Quản lý Môi trường và Đô thị,

14.Phạm Việt Cường, Tài liệu giảng dạy môn kỹ thuật máy tính – phần mềm
EpiData Đại Học Y Tế Công cộng , 2006 67
15. Website: www. Hanam.gov.vn/ 67
DANH MỤC BẢNG
Trang


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status