Xác Định Mức Sẵn Lòng Trả Cho Thuộc Tính Của Rau An Toàn Tại Tp. Đà Lạt - Pdf 17

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG TRẢ CHO THUỘC TÍNH
CỦA RAU AN TOÀN TẠI TP. ĐÀ LẠT
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN NGÀNH
NGÀNH KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 09/2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG TRẢ CHO THUỘC TÍNH
CỦA RAU AN TOÀN TẠI TP. ĐÀ LẠT
GVHD: MAI ĐÌNH QUÝ
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 09/2013
MỤC LỤC
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
RAT Rau An Toàn
NN&PTNT Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
BVTV Bảo Vệ Thực Vật
TP Thành Phố
TP.HCM Thành Phố Hồ Chí Minh
KHKT Khoa học kỹ thuật
HTX Hợp tác xã
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
CVM Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
CM Phương pháp mô hình lựa chọn
WTP Mức sẵn lòng trả
vii

người tiêu dùng hoang mang. Thực tế nhu cầu sản xuất và tiêu dùng rau có xu hướng
8
gia tăng, tuy nhiên sau hơn 10 năm phát triển (2001- 2010), lượng rau an toàn cung
ứng mới đáp ứng chưa đến 5% nhu cầu tiêu thụ. Phần lớn rau an toàn được phân phối
qua siêu thị . Tình trạng rau được cho là an toàn vẫn phát hiện bị ô nhiễm do vi sinh
vật, hóa chất BVTV.
Người dân cần phải có nhận thức đúng đ•n về rau an toàn, dùng rau an toàn
thay cho rau thường là điều cần thiết để đảm bảo cho sức khoẻ người tiêu dùng đồng
thời góp phần bảo vệ môi trường. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã triển
khai chương trình an toàn vệ sinh thực phẩm, trong đó tập trung chỉ đạo các địa
phương sớm xây dựng quy hoạch, lập dự án đầu tư, tổ chức sản xuất, tiêu thụ và quản
lý rau an toàn. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng của ngành trồng trọt. Và để biết
nhận thức về rau an toàn của người tiêu dùng ở TP. Đà Lạt ra sao? Thói quen mua rau
an toàn của người tiêu dùng như thế nào? Mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng cho
sản phẩm rau an toàn là bao nhiêu?
Vì vậy, để đánh giá mức độ tin tưởng và sự nhận thức về giá cả cũng như chất
lượng về rau an toàn, nhóm đã thực hiện đề tài : “Xác Định Mức Sẵn Lòng Trả Cho
Thuộc Tính Của Rau An Toàn Tại TP.Đà Lạt” với mong muốn cung cấp cho lãnh đạo
tỉnh nhà, các ban ngành có liên quan một số thông tin tham khảo cần thiết về giá mà
người tiêu dùng sẵn lòng trả cho rau an toàn nhằm tuyên truyền, mở rộng thị trường
rau an toàn trên cả nước.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
CHƯƠNG 2 Mục tiêu chung
Xác Định Mức Sẵn Lòng Trả Cho Thuộc Tính Của Rau An Toàn Tại TP.Đà
Lạt.
CHƯƠNG 3 Mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu cụ thể của đề tài gồm có :
- Tìm hiểu thị trường RAT.
- Đánh giá nhận thức của người tiêu dùng về RAT
- Nghiên cứu thói quen của người tiêu dùng về RAT.

giải pháp cho quyết định sử dụng rau an toàn của người dân Thành Phố Đà Lạt nói
riêng và người dân cả nước nói chung.
10
CHƯƠNG 6
TỔNG QUAN
6.1.Tổng quan tài liệu nghiên cứu có liên quan
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã tham khảo một số tài liệu nghiên cứu
trước có liên quan tới sản xuất RAT sau:
Đề tài nghiên cứu “Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Việc Lựa Chọn Rau An
Toàn của Người Tiêu Dùng” của Cao Thùy Vân (2011). Đề tài đã đưa ra những nhận
xƒt về tình hình tiêu thụ rau nói chung của người tiêu dùng và đi vào phân tích hành vi
mua rau của người tiêu dùng bằng việc phân loại hai nhóm người tiêu dùng tại địa
điểm mua rau có đặc trưng khác nhau. Kết quả phân tích cho thấy người tiêu dùng có
trình độ học vấn và thu nhập cao thì sẽ có tỷ lệ lựa chọn rau an toàn cũng có ảnh
hưởng đến việc lựa chọn rau an toàn của người tiêu dùng. Yếu tố về giá không có ảnh
hưởng trong mô hình này. Qua nghiên cứu, đề tài nhận thấy những mặt tồn tại của thị
trường rau an toàn TP.HCM hiện nay: giá rau an toàn tương đối cao, chủng loại thiếu
đa dạng, chất lượng sản phẩm thực sự chưa đảm bảo, nhận thức của người tiêu dùng
chưa cao, chưa có sự phân định rõ ràng giữa rau an toàn và rau thường trên thị trường,
hệ thông phân phối còn nhiều hạn chế.
Nghiên cứu “Mức Sẵn Lòng Trả Và Các Tếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quyết Định
Mua Rau An Toàn Của Người Tiêu Dùng Ở Huyện Nhơn Trạch” của Lê Thị Hồng
Vân (2011).Đề tài đã đánh giá được nhận thức của người dân, xác định được những
yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua rau an toàn và ước lượng mức sẵn lòng trả bình
quân của người tiêu dùng cho việc sử dụng rau an toàn. Mặc dù sự hiểu biết của người
tiêu dùng về rau an toàn chưa thật sự đầy đủ và có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định mua rau an toàn của người tiêu dùng nhưng kết quả cũng cho thấy được rằng
người tiêu dùng cũng sẵn lòng trả tiền để được sử dụng sản phẩm rau an toàn. Mức sẵn
11
lòng trả của người tiêu dùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mức giá, thu nhập, học

Thành phố Đà Lạt là tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm
Viên, thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Với độ cao 1.500 mƒt so với mực nước
biển và được các dãy núi cùng quần hệ thực vật rừng bao quanh, Đà Lạt thừa hưởng
một khí hậu miền núi ôn hòa và dịu mát quanh năm. Thành phố Đà Lạt rộng 394,64
km², nằm trên cao nguyên Lâm Viên, nơi có độ cao khoảng 1.500 mƒt so với mực
nước biển. Với tọa độ địa lý11°48′36″ đến 12°01′07″ vĩ độ b•c và 108°19′23″ đến
108°36′27″ kinh độ đông, Đà Lạt nằm trọn trong tỉnh Lâm Đồng, phía b•c giáp
huyện Lạc Dương, phía đông và đông nam giáp huyện Đơn Dương, phía tây giáp
huyện Lâm Hà, phía tây nam giáp huyện Đức Trọng.Sau đợt điều chỉnh địa giới hành
chính gần đây nhất vào năm 2009, Đà Lạt bao gồm 12 phường, được định danh bằng
số thứ tự từ 1 đến 12, và bốn xã Xuân Thọ,Xuân Trường, Tà Nung và Trạm Hành.
b. Địa hình
Địa hình Đà Lạt được phân thành hai dạng rõ rệt: địa hình núi và địa hình bình
nguyên trên núi. Địa hình núi phân bố xung quanh vùng cao nguyên trung tâm thành
phố. Các dãy núi cao khoảng 1.700 mƒt tạo thành một vành đai ch•n gió che cho khu
vực lòng chảo trung tâm.Từ thành phố nhìn về hướng b•c, dãy Lang Biang như một
tường thành theo hướng đông b•c – tây nam, kƒo dài từ suối Đạ Sar đến hồ Dankia.
Hai đỉnh cao nhất của dãy núi này có độ cao 2.167 mƒt và 2.064 mƒt.Án ngữ phía
đông và đông nam Đà Lạt là hai dãy Bi Doup và Cho Proline. Về phía nam, địa hình
núi chuyển tiếp sang bậc địa hình thấp hơn, đặc trưng là khu vực đèo Prenn với các
dãy núi cao xen kẽ những thung lũng sâu. Trung tâm Đà Lạt như một lòng chảo hình
bầu dục dọc theo hướng b•c – nam với chiều dài khoảng 18 km, chiều rộng khoảng 12
km. Những dãy đồi đỉnh tròn ở đây có độ cao tương đối đồng đều nhau, sườn thoải về
hướng hồ Xuân Hương và dần cao về phía các vùng núi bao quanh.Nơi cao nhất trong
trung tâm thành phố là dinh Nguyễn Hữu Hào trong Bảo tàng Lâm Đồng với độ cao
1.532 mƒt, còn điểm thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương, độ cao 1.398 mƒt.
Trên địa phận thành phố Đà Lạt, xen giữa vùng đồi thấp trung tâm thành phố và các
dãy núi bao quanh, có thể thấy hơn 20 dòng suối có chiều dài trên 4 km, thuộc các hệ
thống suối Cam Ly, Đa Tam và hệ thống sông Đa Nhim. Đây đều là những con suối
13

14
từ năm 1964 tới năm 1998, nhiệt độ trung bình năm ở Đà Lạt là 17,9°C, trong đó năm
1973 có nhiệt độ trung bình cao nhất lên đến 18,5°C, còn năm 1967 nhiệt độ trung
bình xuống thấp nhất, 17,4°C.Nếu so sánh với Sa Pa , thị trấn nghỉ dưỡng ở miền B•c ở
độ cao 1.581 mƒt so với mặt biển và nằm trong vùng cận nhiệt đới , thì nhiệt độ trung
bình ở Đà Lạt cao hơn 2,6°Cvà nếu xƒt riêng các tháng mùa đông thì nhiệt độ trung
bình của Đà Lạt cao hơn Sapa đến 10°C (tuy nhiên về mùa hè Sapa chỉ lạnh hơn Đà
Lạt không đáng kể).
Biên độ nhiệt độ ngày đêm ở Đà Lạt rất lớn, trung bình năm đạt 11°C, cao
nhất trong những tháng mùa khô, lên tới 13 – 14°C, và thấp nhất trong những tháng
mùa mưa, chỉ khoảng 6 – 7°C. Ngược lại, biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng
trong năm lại nhỏ, tháng ấm nhất và tháng lạnh nhất cũng chỉ chênh lệnh 3,5°C.Độ dài
ngày trong các mùa ở Đà Lạt không có sự chênh lệch lớn, trung bình khoảng từ 11 đến
ít hơn 12 giờ vào mùa đông và trên 12 giờ vào mùa hè.Tổng số giờ n•ng trong năm ở
đây tương đối cao, khoảng 2.258 giờ một năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 12, 1,
2 và 3 của mùa khô. Tổng lượng bức xạ thu nhập ở Đà Lạt khoảng 140
kCalo/cm²/năm, nhiều nhất vào tháng 4 và ít nhất vào tháng 8. Nếu so với các vùng lân
cận, lượng bức xạ Mặt Trời của Đà Lạt không cao, nhưng đây là nguồn năng lượng
chủ yếu cho các quá trình trao đổi nhiệt, mang lại nền nhiệt độ thấp và tương đối ôn
hòa.
Mùa mưa ở Đà Lạt thường b•t đầu vào cuối tháng 4, đầu tháng 5 và kết thúc
vào khoảng cuối tháng 10, đầu tháng 11. Tuy hàng năm, thời điểm b•t đầu và kết thúc
của mùa mưa có thể thay đổi, nhưng mùa mưa ở đây thường kƒo dài khoảng hơn 6
tháng. Trung bình, một năm Đà Lạt có 161 ngày mưa với lượng mưa 1.739 mm, tập
trung nhiều nhất vào ba tháng 7, 9 và 10, ba tháng có sự hoạt động mạnh của trường
gió mùa tây nam. Nếu lấy trung bình từ tháng 5 tới tháng 10, tổng lượng mưa trong
mùa mưa ở Đà Lạt chiếm đến gần 80% lượng mưa của cả năm.So với vùng đồng bằng ,
Đà Lạt có số ngày mưa trong năm nhiều hơn, nhưng lượng mưa lại thấp hơn. Ở Đà Lạt
còn có một hiện tượng thời tiết đáng chú ý khác là sương mù , trung hình 80 đến 85
ngày trong một năm, nhưng xuất hiện nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 2 tới

Xuân Trường, Xuân Thọ và Tà Nung.
e. Kinh tế
16
Đà Lạt có một nền kinh tế thiên về các lĩnh vực du lịch, dịch vụ và nông
nghiệp. Vào năm 2007, các ngành du lịch và dịch vụ chiếm đến 70% tổng sản phẩm
nội địa của thành phố. Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế của Đà Lạt năm
2011 đạt 2.047,400 tỷ đồng, tương đương với Bảo Lộc, thành phố thứ hai của Lâm
Đồng. Trong lĩnh vực công nghiệp, thu hút nhiều lao động nhất là các ngành công
nghiệp chế biến. Một số sản phẩm của Đà Lạt như rượu vang, trà Atisô hay mứt trái
cây từ lâu đã được biết đến rộng rãi. Nhờ điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp,
Đà Lạt còn là vùng đất trồng nhiều chè và cà phê, cũng là hai sản phẩm quan trọng
trong lĩnh vực công nghiệp chế biến của thành phố. Một nghề mới phát triển trong
những năm cuối thế kỷ 20 tại Đà Lạt là nghề thêu, nổi bật hơn cả là những sản phẩm
tranh thêu của Công ty XQ Đà Lạt. Trong thành phố, còn có thể thấy sự hiện diện của
các công ty in ấn, may mặc, dệt, chế biến tinh dầu, sản xuất lâm sản Năm 2011,
thành phố Đà Lạt có tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 17%, tổng giá trị kim ngạch xuất
khẩu đạt 42,7 triệu đô la Mỹ và thu nhập bình quân đầu người khoảng 26,6 triệu đồng.
CHƯƠNG 8 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở Đà Lạt
a. Thực trạng
Lâm Đồng là tỉnh có điều kiện thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng rất thuận lợi cho
việc canh tác các loại rau cao cấp mang tính đặc tù riêng của Đà Lạt, đặc biệt là canh
tác rau, hoa theo hướng công nghệ cao. Sản xuất rau ở Lâm Đồng được hình thành và
phát triển cách đây trên 70 năm, phân bố ở thành phố Đà Lạt, huyện Đơn Dương, Đức
Trọng và Lạc Dương, đây là những vùng có độ cao trung bình từ 1000 - 1600m so với
mực nước biển, khí hậu quanh năm ôn hoà mát mẻ. Riêng thành phố Đà Lạt ở độ cao
1400 - 1600 m, với nhiệt độ trung bình quanh năm từ 17 - 18
0
C, có điều kiện ngoại
cảnh thích nghi cho sự phát triển các loại rau có nguồn gốc ôn đới, á nhiệt đới.
Bên cạnh những giống rau truyền thống như b•p cải, súp lơ tr•ng, cà rốt, khoai tây, củ

khẩu với tỷ lệ còn thấp, chưa ổn định (chiếm 18 - 21% so với sản lượng).
Chất lượng rau quả Lâm Đồng có phẩm chất tốt, nhờ yếu tố khí hậu và biên độ dao
động nhiệt giữa ngày và đêm lớn nên khả năng tích luỹ dinh dưỡng trong sản phẩm rau
quả Lâm Đồng hơn hẳn so với trồng ở nơi khác (như bó xôi, khoai tây, cà rốt, xà lách
các loại, ); có những chủng loại rau quả dường như là độc quyền chỉ trồng được ở
Lâm Đồng như bó xôi, đậu Hà Lan, súp lơ, atiso,
Việc tổ chức sản xuất rau quả ở Đà Lạt và các vùng phụ cận khá phong phú,
đa dạng bao gồm các hình thức sản xuất như sản xuất nông hộ, hợp tác xã, công ty tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, Trong đó sản xuất nông hộ
18
chiếm hơn 90% diện tích cung cấp chủ yếu sản lượng, cung cấp chủ yếu sản lượng rau
quả cho thị trường và các cơ sở chế biến.
Trong những năm qua ngành sản xuất rau ở Lâm Đồng đã có sự tăng trưởng
phát triển vượt bậc, tốc độ tăng trưởng hàng năm về diện tích là 5,95%, về sản lượng
là 7,75%.
Chất lượng thấp đang là lực cản rau Đà Lạt vươn xa. Qua số liệu của Sở NN-
PTNT thì tuy có diện tích và sản lượng rau lớn, nhưng diện tích và sản lượng rau hội
đủ các tiêu chuẩn xuất khẩu của tỉnh lại không nhiều: hiện tại chỉ mới có 1,5% diện
tích rau (tương đương 600 ha) của vùng Đà Lạt, Đức Trọng, Đơn Dương, Lạc Dương
được trồng trong nhà lưới nhà kính theo quy trình nông nghiệp công nghệ cao. Hơn
nữa, trên 90% diện tích rau đang có của tỉnh được canh tác theo mô hình nông hộ nên
chất lượng không đồng đều, sản lượng nhỏ và manh mún nên không đáp ứng các đơn
hàng có khối lượng lớn, chất lượng cao của thị trường nhập khẩu.
Quy mô sản xuất nhỏ, nên việc áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất gặp nhiều
khó khăn, vì vậy tuy đã có tới 59 cơ sở sản xuất được Sở NN&PTNT cấp giấy chứng
nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn, 17 đơn vị được cấp giấy chứng nhận Global
GAP, 73 đơn vị được cấp giấy chứng nhận ViệtGAP… nhưng diện tích rau an toàn lại
chỉ mới có 400 ha. Nhiều loại rau quả được sản xuất, chế biến, quản lý chất lượng theo
tiêu chuẩn VietGAP, tiêu chuẩn ISO - 2000, EURGAP nên chất lượng sản phẩm được
đánh giá cao ở các thị trường xuất khẩu. Tỉnh đã xây dựng thành công thương hiệu rau

chiếm 4,2% tổng diện tích canh tác rau của toàn tỉnh (Trong đó: GlobalGAP:0,2%,
VietGAP: 0,7%, MetrolGAP: 0,04%, RAT: 3,3%), sản lượng 90.132/1.398.469
tấn/năm (Trong đó: Có 57/193 cơ sở sản xuất rau với sản lượng: 41.379 tấn/năm,
chiếm 5% tổng sản lượng rau tươi trên toàn tỉnh (GlobalGAP:0,5%, VietGAP: 1,8%,
MetrolGAP: 0,07%, RAT: 2,6%) và 32/110 cơ sở sơ chế, chế biến rau, sản lượng tiêu
thụ: 48.753 tấn/năm, chiếm 40% tổng sản lượng rau thành phẩm đã qua chế biến trên
toàn tỉnh (HACCP: 20%, ISO 22000:2005: 20%) .
Trong năm 2011, tại Hội nghị ký kết Văn bản thỏa thuận về sản xuất và tiêu
thụ rau, củ, quả an toàn giữa thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Lâm Đồng, các đơn vị
kinh doanh rau của Thành phố đã ký kết Hợp đồng nguyên t•c về tiêu thụ rau, củ quả
an toàn với một số đơn vị sản xuất rau quả của tỉnh Lâm Đồng:
20
- Liên hiệp HTX thương mại thành phố Hồ Chí Minh (SAIGONCO.OP) đã ký kết
Hợp đồng nguyên t•c với HTX Dịch vụ Nông nghiệp Tổng hợp Anh Đào, Trang trại
Phong Thúy.
- Công ty quản lý và kinh doanh Chợ Bình Điền, Công ty TNHH Quản Lý và Kinh
Doanh chợ đầu mối nông sản thực phẩm Hóc Môn và Công ty TNHH Quản Lý &
Kinh doanh Chợ Nông sản Thủ Đức ký kết Hợp đồng nguyên t•c về tiêu thụ rau, củ
quả an toàn với HTX Dịch vụ Nông nghiệp Tổng hợp Anh Đào, Trang trại Phong
Thúy, HTX Hồ Xuân Hương, Cơ sở sơ chế, kinh doanh rau, quả Đức Thành, Doanh
nghiệp tư nhân Phú Sỹ Nông, HTX Thạnh Nghĩa.
b. Tình hình sản xuất rau tại Đà Lạt (1996-2005)
Năm Diện tích gieo trồng rau
(ha)
Sản lượng
(tấn)
Diện tích gieo trồng
hoặc c•t cành(ha)
Sản lượng
(tấn)

Từ sau 1975, các biện pháp cải tạo đất bằng phân bón hữu cơ, phân chuồng
hoai mục, phân vi sinh đã được khuyến khích phát triển.
Nghiên cứu về kỹ thuật canh tác
Trước đây việc sản xuất rau cải tại Đà Lạt một thời gian dài hoàn toàn dựa
vào kinh nghiệm của các cư dân nhập cư từ miền B•c và miền Trung.
Trước năm 1975, các nghiên cứu về sản xuất rau cải của Đà Lạt hầu hết đều do
Trung tâm Thực nghiệm Rau Hoa Đà Lạt tổ chức thực hiện, nhưng hầu như chỉ tập
trung vào công tác giống. Các biện pháp canh tác chưa được chú trọng nhiều. Các
kỹ thuật được áp dụng trong giai đoạn này chủ yếu là thay đổi công cụ sản xuất từ
thô sơ sang một phần cơ giới.
22
Sau năm 1975, tại Xí nghiệp giống rau hoa Đà Lạt, công tác nghiên cứu thực
nghiệm về giống cây trồng và thử nghiệm các biện pháp canh tác mới đã được triển
khai khá rộng rãi với nhiều cơ quan chức năng tham gia.
Kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật được thực hiện tại Đà Lạt từ năm 1978. Đến năm
2000, kỹ thuật này đã trở thành một kỹ thuật quan trọng trong việc nhân và cung cấp
giống cây trồng sạch bệnh cho vùng nông nghiệp Đà Lạt. Theo thống kê của ngành
chuyên môn, năm 2005, Đà Lạt có 28 phòng thí nghiệm nuôi cấy mô thực vật do các
cơ sở nghiên cứu khoa học và cơ sở sản xuất giống của tư nhân đầu tư với 127 box
cấy mô. Hàng năm, các cơ sở cấy mô này đã cung cấp cho thị trường giống rau hoa
Đà Lạt trên 6 triệu cây giống sau ống nghiệm sạch bệnh.

Năm 1988-1990, chương trình nghiên cứu phát triển cây dược liệu atisô được
thực hiện nhằm mục đích phát triển cây dược liệu đặc sản của Đà Lạt.
Năm 1995, công tác nghiên cứu về sản xuất rau an toàn trên địa bàn thành phố Đà Lạt
đã được thực hiện với chương trình sản xuất thử nghiệm tại xã Lát (Lạc Dương). Từ
năm 1996 đến năm 2001, chương trình nghiên cứu về sản xuất rau thương phẩm chất
lượng cao, phù hợp với các tiêu chuẩn rau an toàn của FAO/WHO, đã được triển khai
thành công tại Đà Lạt và đã xây dựng được các quy trình sản xuất rau an toàn tại Đà
Lạt cho các giống rau chủ yếu của Đà Lạt (cải b•p, cải B•c thảo, khoai tây, cà rốt, đậu

Để đạt được những kết quả này, thời gian qua, thành phố tập trung chỉ đạo
triển khai thực hiện chương trình chuyển đổi và nâng cao chất lượng giống cây trồng,
vật nuôi; đẩy mạnh thâm canh cây trồng theo hướng ứng dụng công nghệ cao. Quản
lý, khai thác hiệu quả các công trình thủy lợi phục vụ kịp thời cho sản xuất; tăng
cường kiểm tra chất lượng giống, vật tư sản xuất; thực hiện tốt công tác phòng chống
dịch bệnh, giảm nhẹ thiên tai nhằm hạn chế rủi ro trong sản xuất. Kịp thời ban hành
các văn bản chỉ đạo trong sản xuất, các quy định trong quản lý giống vật tư, phân
bón
Thành phố đã triển khai có hiệu quả các chương trình về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn, đẩy mạnh thâm canh rau, hoa cao cấp và các loại cây trồng có giá trị
kinh tế; duy trì phát triển ổn định các vùng cây chuyên canh, vùng chăn nuôi tập trung,
nuôi cá nước lạnh. Tăng cường chỉ đạo điều hành, đẩy nhanh việc thực hiện chương
trình khuyến nông, khuyến lâm, chuyển đổi cơ cấu giống để nâng cao chất lượng, hiệu
quả cây trồng nhằm nâng cao giá trị sản xuất trên 1ha đất nông nghiệp
Thành phố xác định lấy cây rau và hoa làm mũi nhọn để thúc đẩy tăng trưởng
của ngành nông nghiệp, g•n sản xuất nông nghiệp với bảo quản, chế biến sau thu
hoạch. Tiếp tục đẩy mạnh công tác chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ vào sản
xuất thông qua việc nâng cao chất lượng công tác khuyến nông, khuyến lâm, nhất là
đối với các vùng sâu, vùng xa
25

Trích đoạn Các thành phần KT-XH Tần số Tỷ lệ (%) Giới tính Obs with Dep=1
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status