Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá ngày càng lan rộng làm cho nên
kinh tế thế giới dần tiến đến một chỉnh thể thống nhất. Các quốc gia, các nền
kinh tế có khuynh hướng mở và đan xen lẫn nhau, dựa vào nhau cùng phát
triển.
Mối quan hệ hợp tác giữa các quốc gia, các nền kinh tế thể hiện thông
qua hai công cụ chính là xuất khẩu và nhập khẩu. Trong hai công cụ đó, xuất
khẩu thường được coi là hoạt động mục tiêu chiến lược có vai trò quyết định,
định hướng đến sự phát triển lâu dài của nền kinh tế trong tương lai. Đồng
thời, hoạt động xuất nhập khẩu tạo tiền đề cho các nước đang phát triển thực
hiện quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Nhận thức được điều này trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước
hết sức chú trọng đến hoạt động xuất khẩu của Việt nam. Việt nam chủ yếu có
thế mạnh trong xuất khẩu các sản phẩm nông lâm sản, một trong số đó là mặt
hàng quế. Đây là mặt hàng có tiềm hàng có tiền năng phát triển do sản lượng
và kim ngạch xuất khẩu tương xứng với tiền năng cung ứng quế của thị
trường trong nước và nó đang là mặt hàng được thế giới quan tâm. Tuy nhiên,
do những hạn chế nhất định về chất lượng, chủng loại nên kim ngạch xuất
khẩu quế chưa cao. Vì vậy, để tăng cường hoạt động xuất khẩu quế phát triển
và đạt hiệu quả cao là việc rất được quan tâm hiện nay đối với các công ty thì
đòi hỏi phải có những nguồn quế xuất khẩu đảm bảo chất lượng, số lượng,
chủng loại. Nên hoạt động tạo nguồn quế cho xuất khẩu là hết sức quan trọng,
trong quá trình thực tập tại Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I, từ định hướng
và nhận thức : “trong quy trình hoạt động xuất khẩu, tạo nguồn là khâu cơ bản
mở đầu và hết sức quan trọng đem lại thắng lợi cho hoạt động xuất khẩu quế”,
em quyết định chọn đề tài : “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
tạo nguồn quế cho xuất khẩu ở Công ty xuất nhập khẩu tổng hợp I” với hy
vọng sử dụng những kiến thức đã được học ở trường kết hợp với tình hình
hoạt động tạo nguồn thực tế ở Công ty để có thể học hỏi nghiên cứu và đóng
1
các mặt hàng có thế mạnh và phát huy lợi thế so sánh của mình. Xuất khẩu
càng nhiều thì khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ càng lớn, tăng khả năng
cung cấp hàng hoá cho xuất khẩu, khai thác tối đa tiềm lực trong nước để phát
triển kinh tế.
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu là một hệ thống các nghiệp vụ tạo nên
vòng quay kinh doanh khép kín từ nghiệp vụ tổ chức tạo nguồn đến xuất khẩu
hàng hoá ra nước ngoài. Do vậy, mỗi doanh nghiệp đều có một vị trí quan
trọng nhất định trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu của mỗi Công ty. Khâu
đầu tiên để tiến hành kinh doanh xuất khẩu là khâu tạo nguồn hàng cho xuất
khẩu. Nếu chưa có nguyên vật liệu, doanh nghiệp sản xuất chưa thể tiến hành
sản xuất, còn doanh nghiệp thương mại chưa thể tìm được nguồn hàng cung
ứng thì chưa thể nói đến việc mua bán, trao đổi.
Trong những năm gần đây Nhà nước tạo nhiều điều kiện thuận lợi để
khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp, dẫn đến
sự cạnh tranh gay gắt giữa các khu vực kinh tế. Các doanh nghiệp không
ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính linh hoạt của hoạt động xuất nhập
khẩu, chủ động tìm kiếm thị trường. Chính vì vậy nghiệp vụ tạo nguồn hàng
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
càng trở nên đặc biệt quan trọng. Nghiệp vụ này được thể hiện trên nhiều mặt
như giá cả, chất lượng, thông tin về giá cả thị trường, các nguồn cung ứng
giao dịch. Công tác tạo nguồn hàng tốt trước tiên sẽ đáp ứng được mục tiêu
kinh doanh là cung cấp đáp ứng những hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao
phù hợp với nhu cầu khách hàng, tạo uy tín cho doanh nghiệp. Công tác này
nếu được chú trọng đúng mức sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh
doanh bởi nếu khối lượng hàng hoá mua vào quá nhiều sẽ bị chiếm dụng vốn,
tăng lượng tồn đọng, tăng chi phí lưu kho Ngược lại, nếu số lượng không đủ
bán, sẽ bỏ qua mất cơ hội kinh doanh, tăng chi phí vận chuyển đặt hàng vì
phải vận chuyển nhiều lần, hơn nữa phải chịu nguy cơ bị ép mua giá cao
hơn Đây chính là lý do để các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
đây:
a. Phân loại theo chế độ phân cấp quản lý.
+ Nguồn hàng thuộc chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước phân bổ: Đây là nguồn
hàng được Nhà nước cam kết giao cho nước ngoài trên cơ sở các Hiệp định
(Hiệp định thương mại, Hiệp định hợp tác sản xuất, Hiệp định hợp tác khoa
học, viện trợ ), hoặc các Nghị định thư hàng năm. Sau khi ký kết các Hiệp
định hoặc các Nghị định thư với nước ngoài, Nhà nước phân bổ chỉ tiêu cho
các đơn vị sản xuất, để các đơn vị này giao hàng cho tổ chức kinh doanh hàng
xuất nhập khẩu thực hiện. Vì thế, đối với các đơn vị kinh doanh xuất khẩu
nguồn hàng này khá đảm bảo cả về số lượng, chất lượng và thời gian giao
hàng.
Ngày nay, chuyển sang nền kinh tế thị trường thì nguồn hàng thuộc chỉ
tiêu kế hoạch Nhà nước giảm nhiều. Nhà nước chỉ giao những chỉ tiêu mang
tính định hướng với mục đích tăng cường quản lý công tác xuất nhập khẩu.
Còn các doanh nghiệp tự quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
mình thông qua việc nghiên cứu thị trường và kí kết các hợp đồng kinh tế.
+ Nguồn hàng ngoài kế hoạch: Nguồn hàng ngoài kế hoạch là nguồn
hàng được trao đổi buôn bán trên tất cả các thị trường trong nước. Các tổ
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chức kinh doanh xuất khẩu căn cứ vào các hợp đồng đã được kí kết với nước
ngoài mà tiến hành sản xuất, thu mua, chế biến theo số lượng, chất lượng và
thời gian giao hàng được thoả thuận với khách hàng nước ngoài trong hợp
đồng kinh tế.
Cùng với việc giảm nguồn hàng trong chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước
là việc tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu ngoài kế hoạch, phong phú và đa
dạng về chủng loại, ngày càng lớn về khối lượng và giá trị. Việc giao dịch
trao đổi nguồn hàng này phần lớn là mua bán trao tay hoặc hợp đồng ngắn
hạn. Trong tương lai, cần tăng tỷ trọng giao dịch thông qua hợp đồng mua bán
dài hạn.
này, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đảm bảo ổn định.
+ Nguồn hàng mới, là nguồn hàng mà doanh nghiệp mới có quan hệ
giao dịch và mới khai thác. Nguồn hàng này giúp các doanh nghiệp không
ngừng mở rộng phạm vi và phát triển kinh doanh.
+ Nguồn hàng vãng lai, là nguồn hàng mà doanh nghiệp chỉ giao dịch
mua bán một đôi lần hoặc mua bán hàng trôi nổi trên thị trường.
3. Vai trò của nguồn hàng xuất khẩu.
Sự ổn định cũng như khả năng chi phối, kiểm soát nguồn hàng được coi
như một thước đo để đánh giá tiềm lực của doanh nghiệp. Đặc biệt, đối với
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp thì nguồn hàng xuất khẩu
lại giữ một vai trò vô cùng quan trọng.
Trước hết, nguồn hàng là một điều kiện của hoạt động kinh doanh. Với
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, xét một cách đơn giản là nó cũng
thực hiện hoạt động mua để bán, mua hàng không phải là để tiêu dùng cho
chính mình mà mua để bán lại cho người tiêu dùng trên thị trường quốc tế.
Như vậy, các doanh nghiệp cần phải tăng cường hoạt động trên thị trường đầu
vào nhằm chuẩn bị đầy đủ các yếu tố cần thiết cho quá trình sản xuất kinh
doanh như vốn, sức lao động và đặc biệt là hàng hoá dịch vụ để thoả mãn nhu
cầu khách hàng. Do vậy, có nguồn hàng ổn định, đạt yêu cầu là một nhân tố
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không thể thiếu được trong quá trình kinh doanh. Nguồn hàng xuất khẩu được
coi là đạt yêu cầu khi đáp ứng được 3 yếu tố cơ bản:
Số lượng : Đáp ứng đầy đủ yêu cầu kinh doanh.
Chất lượng : Đảm bảo chất lượng quốc tế.
Thời gian và địa điểm : Phải hợp lý nhằm giảm bớt tối đa chi phí phải
bỏ ra cho hoạt động thu mua.
Trong trường hợp xảy ra tình trạng khan hiếm một số loại hàng hoá mà
các doanh nghiệp khác không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng,
một nguồn hàng ổn định sẽ giúp cho doanh nghiệp xây dựng thêm mối quan
sản xuất kinh doanh cho đến các nghiệp vụ nghiên cứu thị trường, ký kết hợp
đồng, thực hiện hợp đồng, bảo quản, sơ chế phân loại nhằm tạo ra nguồn hàng
đầy đủ tiêu chuẩn cần thiết cho xuất khẩu.
Để tạo nguồn cho xuất khẩu, các doanh nghiệp có thể áp dụng 3 hình
thức tạo nguồn chủ yếu sau:
1.1. Tự sản xuất, khai thác hàng hoá: Do có tiềm năng lớn về máy
móc, lao động, thiết bị và vốn kinh doanh, các doanh nghiệp thường tự tổ
chức sản xuất khai thác nguồn hàng. Bằng cách đầu tư các dự án sản xuất, các
doanh nghiệp sản xuất nhà máy, mở rộng phạm vi kinh doanh và tạo ra một
nguồn hàng tương đối ổn định, chủ động. Tuy nhiên không phải bất kỳ doanh
nghiệp nào cũng thực hiện theo hình thức này bởi nó đòi hỏi doanh nghiệp
phải có khả năng tài chính lớn, hoạt động xuất khẩu hàng phải đủ lớn, tương
xứng với khả năng sản xuất ra nguồn hàng đó
1.2. Liên doanh, liên kết với các đơn vị sản xuất chế biến, nhà cung
ứng: Việc đầu tư cho liên doanh, liên kết với các đơn vị sản xuất, chế biến sẽ
giúp cho doanh nghiệp tạo được nguồn hàng ổn định, giá thành và chất lượng
phù hợp với đầu ra, tạo được ưu thế cho doanh nghiệp trong tình hình cạnh
tranh trên mọi lĩnh vực kinh doanh như hiện nay. Đặc biệt đối với những mặt
hàng cung nhỏ hơn cầu, doanh nghiệp xuất khẩu bị phụ thuộc rất nhiều vào
nguồn cung ứng thì việc tạo nguồn thông qua liên doanh, liên kết giúp cho
doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong mọi hoạt động kinh doanh của mình.
1.3. Mua hàng: Xét tổng thể chung, đây là hình thức khá phổ biến mà
các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Việt nam áp dụng. Nó tỏ ra phù
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hợp hơn cả với tình hình tài chính và các mặt khác của doanh nghiệp. Có
nhiều hình thức mua hàng khác nhau.
* Mua hàng theo đơn đặt hàng và hợp đồng kinh tế: Đối với nhu cầu có
tính chuyên biệt, đòi hỏi cao từ phái thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp muốn
xuất khẩu phải đáp ứng được những yêu cầu đó. Đặt hàng là một phương thức
trường hợp cụ thể, yêu cầu, điều kiện cụ thể của doanh nghiệp, của từng mặt
hàng, của quan hệ cung cầu trên thị trường mà lựa chọn áp dụng một hoặc
một vài hình thức tạo nguồn thích hợp.
2. Nội dung của hoạt động tạo nguồn hàng.
2.1. Nghiên cứu thị trường và xác lập phương án tạo nguồn.
2.1.1. Nghiên cứu thị trường:
a. Phương pháp nghiên cứu.
Để nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sử dụng 2 phương pháp cơ bản
sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tại văn phòng: Là việc nghiên cứu, thu thập
thông tin qua các tài liệu như sách, báo, tạp chí, đài phát thanh truyền hình,
niên giám thống kê, mạng Interet, các tài liệu sẵn có của doanh nghiệp (báo
cáo của các phòng ban, báo cáo tổng kết hàng năm của doanh nghiệp ). Qua
nguồn tài liệu trên, doanh nghiệp có thể tìm hiểu được tình hình cung cầu của
hàng hoá trên thị trường trong nước và thế giới, mức nhu cầu của hàng hoá
đối với doanh nghiệp Đây là phương pháp tương đối dễ làm, thời gian tiến
hành nhanh, chi phí thấp nhưng đòi hỏi người nghiên cứu phải có chuyên môn
vững vàng, biết cách thu thập, đánh giá và phân tích thông tin. Tuy nhiên,
phương pháp còn có hạn chế là dựa vào tài liệu đã được xuất bản nên có độ
trễ hơn so với thực tế.
+ Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường: Là việc trực tiếp cử nhân
viên, cán bộ nghiên cứu đi khảo sát thị trường ngoài nước tiêu thụ hàng hoá
của doanh nghiệp và thị trường. Hàng hoá cần cho nhu cầu xuất khẩu ở thị
trường nội địa. Nghiên cứu tại hiện trường có thể thu thập được thông tin sinh
động, thực tế, hiện đại và có độ chính xác cao hơn so vơi phương pháp nghiên
cứu tại bàn. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi chi phí lớn, cán bộ thu thập
thông tin có chuyên môn vững và có đầu óc thực tế
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Như vậy, mỗi phương pháp nghiên cứu đều có những ưu và nhược
đưa vào lưu thông, với nguồn hàng này chỉ cần phân loại, bao gói là có thể
xuất khẩu được.
Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu còn nhằm xác định mặt hàng kinh
doanh xuất khẩu có thể đáp ứng được những yêu cầu thị trường quốc tế hay
không? Hay để biết được chính xác sự quản lý của Nhà nước về mặt hàng đó
như thế nào? Từ đó doanh nghiệp có những hoạt động điều chỉnh cho phù
hợp.
Nghiên cứu thị trường nguồn hàng bao gồm những nội dung chính sau:
+ Chất lượng hàng hoá: chất lượng hàng hoá bao gồm những đặc tính
của hàng hoá thoả mãn được nhu cầu đã chọn.
+ Giá mua của hàng hoá: trong điều kiện chất lượng và dịch vụ như
nhau thì phải chọn mua ở đâu với giá rẻ nhất.
+ Chi phí lưu thông: có ảnh hưởng lớn đến chi phí thu mua hàng do đó
phải xem xét đến địa điểm, lựa chọn phương án sao cho chi phí lưu thông là
thấp nhất.
+ Số lượng nhà cung ứng trên thị trường và tình hình cạnh tranh của
hàng hoá trên thị trường cung ứng.
+ Các dịch vụ kèm theo của nhà cung ứng
Các yếu tố này đều ảnh hưởng đến thời gian nhập hàng, giá cả, chất
lượng hàng hoá. Sau khi nghiên cứu các nội dung cơ bản, doanh nghiệp tiến
hành đánh giá và lựa chọn cho mình nguồn cung cấp tốt nhất.
2.1.2. Nghiên cứu đánh giá hoàn cảnh môi trường kinh doanh và tiềm
lực doanh nghiệp.
a. Môi trường kinh doanh: Nghiên cứu các nhân tố môi trường kinh
doanh là một công việc rất quan trọng trong hoạt động tạo nguồn cũng như
hoạt động kinh doanh. Sự biến động của môi trường kinh doanh sẽ tác động
mạnh mẽ tới mọi hoạt động của doanh nghiệp. Để hoạt động tạo nguồn thích
ứng được sự biến đổi đó cần phải nghiên cứu chúng một cách kỹ lưỡng.
Các yếu tố của môi trường kinh doanh cần được nghiên cứu:
13
(ảnh hưởng xa)
Dự báo ng nh à
kinh doanh
(ảnh hưởng xa)
Dự báo mại vụ
(ảnh hưởng xa)
Website: Email : Tel : 0918.775.368
năng quản lý có hiệu quả nguồn vốn kinh doanh. Tiềm lực tài chính có ảnh
hưởng quan trọng trong việc xác lập các phương án và hình thức tạo nguồn,
quy mô nguồn hàng.
* Khả năng kiểm soát nguồn hàng mà doanh nghiệp đang nắm giữ: yếu
tố này tác động trực tiếp đến hoạt động tạo nguồn của hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp. Nó chi phối tới hình thức và phương án tạo nguồn, quy mô
khối lượng nguồn hàng từ đó tác động tới các hoạt động khác trong doanh
nghiệp.
* Mức độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ, bí quyết của doanh
nghiệp.
* Trình độ quản lý, tổ chức cán bộ trong doanh nghiệp.
* Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.
Tìm hiểu 3 nội dung chủ yếu này (bao gồm nghiên cứu thị trường, môi
trường kinh tế, tiềm lực doanh nghiệp) để trả lời cầu hỏi có nên tiếp tục tạo
thêm nguồn hàng mới hay không và nếu có thì tạo nguồn hàng theo phương
án nào. Từ những nghiên cứu các yếu tố trên doanh nghiệp sẽ phác thảo ra
một số phương án tạo nguồn, rồi tiến hành phân tích từng phương án để lựa
chọn ra phương án tạo nguồn tối ưu đối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp có
thể sử dụng hình thức chấm điểm cho từng phương án, rồi lựa chọn phương
án có số điểm cao nhất.
Cần lưu ý, trong mỗi lần nghiên cứu, để lựa chọn ra phương thức tạo
nguồn không nhất thiết người ta phải lựa chọn hoặc chỉ tự sản xuất hoặc chỉ
liên doanh, liên kết, hoặc chỉ mua hàng. Ngược lại, người ta có thể có nhiều
+ Chất lượng hàng hoá được cung cấp.
+ Thời gian nhà cung ứng giao hàng.
+ Phương thức thanh toán.
+ Phương thức giao nhận.
+ Các dịch vụ kèm theo (các dịch vụ trước, trong và sau khi giao hàng)
mà nhà cung ứng giành cho doanh nghiệp (nếu có) )
Sau khi tìm hiểu, phân tích và tổng hợp kết quả doanh nghiệp có thể đi
đến kết luận cuối cùng. Doanh nghiệp nên ưu tiên cho những nhà cung ứng:
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Có thể cung cấp hàng hoá theo chất lượng, kiểu dáng hay mẫu mã
theo yêu cầu của doanh nghiệp.
+ Có sẵn hàng với mức giá và những điều khoản mong muốn với số
lượng cần thiết.
+ Mức độ tin cậy của doanh nghiệp đối với nhà cung ứng cao.
+ Có sự bảo vệ hợp lý và hợp lệ cho những lợi ích của doanh nghiệp –
người mua hàng như bảo đảm về chất lượng, khối lương hàng mua
+ Cung cấp dịch vụ tốt.
Trong việc lựa chọn nhà cung ứng, doanh nghiệp cần phải xem xét
quyết định hoạt động tạo nguồn từ một hoặc nhiều nhà cung ứng. Thông
thường với doanh nghiệp có quy mô kinh doanh lớn thì lựa chọn nhiều nhà
cung ứng, bởi lẽ: thứ nhất, là với quy mô kinh doanh lớn thì khó có những
nhà cung ứng một mình đáp ứng được; thứ hai, tạo ra sự cạnh tranh giữa các
nhà cung ứng, để từ đó có lợi cho doanh nghiệp; thứ 3, là bảo vệ cho doanh
nghiệp trước rủi ro nếu như đơn vị cung ứng quyết định chính sách đổi mặt
hàng kinh doanh, gây khó dễ cho doanh nghiệp, ép giá Tuỳ theo từng hình
thức tạo nguồn là liên doanh, liên kết hay đầu tư cho cơ sở sản xuất và chế
biến để đàm phán thương lượng, tiếp đến xây dựng và ký kết hợp đồng tương
ứng (ví dụ: nếu là hình thức liên doanh, liên kết thì sẽ ký hợp đồng liên
doanh, liên kết ).
của dự án trong điều kiện có những tác động của yếu tốt bất đinh, hoặc cần có
các biện pháp tác động như thế nào để đảm bảo cho dự án đạt hiệu quả cao.
Kết quả của giai đoạn này là luận chứng kinh tế kỹ thuật (dự án đầu tư)
mà doanh nghiệp sẽ thực hiện trong thời gian tới trong hoạt động tạo nguồn
hàng cho xuất khẩu.
* Nội dung chủ yếu của một dự án đầu tư.
+ Xem xét khía cạnh kinh tế – xã hội tổng quát có liên quan tới việc
thực hiện và phát huy tác dụng của dự án đầu tư.
+ Nghiên cứu các vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc tiến hành
hoạt động dịch vụ của dự án.
+ Nghiên cứu các khía cạnh kỹ thuật của dự án.
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Phân tích khía cạnh tổ chức, quản lý và nhân lực của dự án.
+ Phân tích khía cạnh tài chính của dự án.
+ Phân tích khía cạnh kinh tế – xã hội của dự án.
Sau khi đã lập được dự án, doanh nghiệp tiến hành thực hiện đầu tư
theo đúng quy trình của dự án đưa ra. Trong quá trình thực hiện dự án, luôn
giám sát, quản lý việc thực hiện dự án của các bên và đánh giá hiệu quả, hiệu
quả của dự án đem lại, so sánh với mục tiêu ban đầu của dự án đã đề ra. Từ đó
có sự điều chỉnh kịp thời nếu cần thiết. Nếu kết quả do giai đoạn thực hiện
đầu tư tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, giá thành thấp, chất lượng tốt, đúng tiến
độ, tại địa điểm thích hợp với quy mô tối ưu thì hiệu quả trong hoạt động của
kết quả này là mục tiêu của dự án chỉ phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ
chức quản lý hoạt động các kết quả đầu tư. Thực hiện tốt các công việc của
giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư sẽ tạo thuận lợi cho quá trình tổ
chức quản lý, phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư.
2.3. Tổ chức triển khai nguồn hàng:
Các bước trên doanh nghiệp đã tiến hành tạo nguồn trong thời gian dài.
Để hoạt động tổ chức khai thác nguồn hàng đạt hiệu quả hơn doanh nghiệp
2.4. Tiếp nhận và bảo quản nguồn hàng:
a. Tiếp nhận vào kho: hầu hết hàng hoá trước khi đến tay người tiêu thụ
đều trải qua một hoặc một số kho để bảo quản, phân loại, đóng gói, dự trữ
hoặc chờ làm thủ tục hải quan xuất khẩu. Nghiệp vụ tiếp nhận gồm các nội
dung sau:
+ Trước tiên phải chuẩn bị kho chứa hàng, tức là căn cứ vào loại hàng
sẽ nhận như số lượng, đặc điểm về bảo quản phẩm chất, kích cỡ , bao bì của
hàng để chuẩn bị mặt hàng, bến bãi, vị trí cho phù hợp với quy cách của kho.
+ Chuẩn bị các phương tiện bốc dỡ, phương tiện vận chuyển cho phù
hợp với từng loại hàng.
+ Chuẩn bị thiết bị cân đong đo đếm cho phù hợp.
+ Phân công tác cán bộ, nhân viên tiếp nhận trên cơ sở khối lượng và
đặc điểm của hàng. Chuẩn bị các giấy tờ cần thiết khác.
b. Nhận hàng: Việc nhận hàng được tiến hành căn cứ trên các cơ sở về
khối lượng và chất lượng của hàng hoá.
+ Nhận theo số lượng cân đong đo đếm, đối chiếu với chứng từ mô tả
đặc điểm hàng hoá kèm theo.
+ Nhận theo chất lượng và xác định hàng hoá có đúng phẩm chất quy
cách kích cỡ theo quy định hay không.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
c. Bảo quản hàng hoá trong kho: Bảo quản hàng hoá trong kho là nhiệm
vụ quan tọng đòi hỏi cán bộ kho hàng phải có tinh thần trách nhiệm cao, làm
tốt các công việc sau:
+ Sắp xếp bố trí hợp lý hàng hoá trong kho. Lựa chọn loại kho có kiến
trúc phù hợp với tính chất của từng loại hàng. Sắp xếp hàng hoá một cách
khoa học, hợp lý. Thực hiện vệ sinh kho thường xuyên. Phòng chống thiên
tại, mất cắp, phá hoại. Quản lý hao hụt theo định mức. Xuất kho giao hàng.
Chỉ xuất kho giao hàng khi có hoá đơn hợp lệ.
+ Hướng dẫn công nhân bốc xếp để tránh nhầm lẫn, hư hỏng. Cùng với
phù hợp với thời kỳ mới. Đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động tạo
nguồn hàng xuất khẩu có thể thông qua một số nhóm chỉ tiêu sau:
3.1. Chỉ tiêu phản ánh về mặt khối lượng.
Đây là chỉ tiêu cơ bản nhất của quá trình thu mua hàng hoá về doanh
nghiệp. Nó thể hiện tổng khối lượng hàng hoá mà doanh nghiệp mua về trong
kỳ kế hoạch từ tất cả các nguồn khác nhau.
Chúng ta sẽ phân tích đánh giá về mức độ hoàn thành kế hoạch của
từng loại hàng hoá theo số lượng và ảnh hưởng của từng nguyên nhân đến
việc không hoàn thành kế hoạch mua hàng của doanh nghiệp.
Mức hoàn thành kế hoạch được xác định bằng thương số giữa khối
lượng thực tế mua về của một loại hàng hoá mua về trong kỳ báo cáo so với
kế hoạch lập ra. Nguyên nhân không hoàn thành kế hoạch có thể là do người
cung ứng không hoàn thành kế hoạch hoặc hàng đã mua nhưng đang trên
đường đi chưa về đến doanh nghiệp.
3.2. Chỉ tiêu phản ánh về mặt chất lượng.
Nhu cầu về hàng hoá mua về để xuất khẩu không chỉ đòi hỏi đủ số
lượng mà còn đòi hỏi đúng về chất lượng. Vì chất lượng hàng hoá tốt hay xấu
22
Khai thác nguồn h ngà
Đánh giá hoạt động
tạo nguồn
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc bán hàng, đến giá thành của hàng hoá và khả
năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Đồng thời ảnh hưởng tới uy tín của
doanh nghiệp với khách hàng. Vì vậy, khi mua hàng doanh nghiệp cần có
phương pháp kiểm tra chất lượng, đối chiếu với các tiêu chuẩn kỹ thuật của
khu vự và thế giới, đối chiếu với các hợp đồng kinh tế. Có thể sử dụng một số
chỉ tiêu sau:
+ Chỉ số chất lượng: là chỉ số giữa giá bán và giá bán buôn bình quân
của hàng hoá thực tế mua so với giá bình quân theo dự kiến.
được kết quả tăng giảm giữa các năm Ví dụ, khi xác định chỉ tiêu phản ánh
về mặt số lượng ta có thể dùng phương pháp này.
+ Phương pháp phân nhóm các chỉ tiêu và các yếu tố có liên quan đến
nhau. Từ đó có thể xác định được anh hưởng của chúng tác động đến nhau
như thế nào.
+ Phương pháp xây dựng các chỉ số: khi xác định các chỉ tiêu, ta có thể
dùng chỉ số sao cho có thể phán ánh được đúng chỉ tiêu và qua đó đánh giá
được tình hình tạo nguồn của đơn vị. Ví dụ, phân tích về mặt chất lượng ta
dùng chỉ số chất lượng để xác định.
Ngoài ra, khi xác định các chỉ tiêu, để có kết quả tốt còn phải dựa trên
các tài liệu chính xác như các báo cáo thống kê, số liệu hạch toán của doanh
nghiệp , dùng các tài liệu kiểm tra, kiểm kê, chứng từ và các tài liệu theo dõi
có liên quan khác.
III. CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TẠO
NGUỒN QUẾ CHO XUẤT KHẨU:
1. Điều kiện tự nhiên:
Như mọi cây trồng khác, sự phát triển của cây quế chịu ảnh hưởng trực
tiếp của điều kiện tự nhiên và nhất là điều kiện khí hậu. Quế là cây nhiệt đới,
sinh trưởng tốt ở đất có tầng dày, thích nghi với các loại đất đỏ, đất giàu clo
và canxi sẽ cho năng suất vỏ và hàm lượng tinh dầu cao. Cây thích nghi với
nhiệt độ bình quân là 22- 27C, lượng nước là 1500- 2000mm, cần ánh sáng.
Nên điều kiện tự nhiên của Việt nam rất thuận lợi cho cây quế phát triển.
Chính vì vậy nghề trồng quế đã có từ lâu đời ở Việt nam.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật:
Đây cũng là một yếu tố tác động lớn hoạt động tạo nguồn. Do những
vùng trồng quế nằm dải dác từ Bắc vào Nam, thường tập trung ở các tỉnh
miền núi nên điều kiện cơ sở hạ tầng còn rất nhiều hạn chế. Nhiều vùng có
mạng lưới giao thông, đường xá thấp kém, hệ thống thông tin liên lạc thô