bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế những khía cạnh cần được mô tả bằng số liệu thống kê - Pdf 24


1

TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ - VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ Đề tài khoa học
Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

CHUYÊN ĐỀ 2

BẢN CHẤT CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ:
NHỮNG KHÍA CẠNH CẦN ĐƯỢC MÔ TẢ BẰNG
SỐ LIỆU THỐNG KÊ


BẢN CHẤT CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ:
NHỮNG KHÍA CẠNH CẦN ĐƯỢC MÔ TẢ BẰNG
SỐ LIỆU THỐNG KÊ Muốn xác định được các chỉ tiêu thống kê mô tả quá trình hội
nhập quốc tế của đất nước, cũng như xây dựng được các chỉ số tổng
hợp phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc cần thiết là
phải hiểu và nắm chắc được bản chất của hội nhập quốc tế, đặc biệt
là hội nhập kinh tế quốc tế, những nội hàm và các khía cạnh, yếu tố
trong đó. Từ đó mới có thể tìm ra các chỉ tiê, chỉ số thống kê mô tả
các khía cạnh này.
Chuyên đề khoa học này điểm qua những nét cơ bản trong
nội hàm và bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế, để từ đó thấy sự
cần thiết, các bước đi, các giải pháp cần được tiến hành trên bước
đường hội nhập, và cần đến sự can thiệp của Thống kê trong việc
mô tả, đo lường, đánh giá, phân tích. HÀ NỘI, 5 - 2008


II. Phần hai: Vai trò của thống kê mô tả hội nhập kinh tế quốc
tế trước những thách thức hiện nay
14 2.1. Nhận thức về thách thức toàn cầu
14 2.2. Hành động quản trị toàn cầu
17 2.3. Quản trị toàn cầu nhìn từ góc độ Việt Nam
18 2.4. Những thách thức và biện pháp giải quyết riêng của Việt
Nam trước ngưỡng cửa hội nhập kinh tế quốc tế
19 Tài liệu tham khảo
21
Lương Văn Kế biên dịch, thì:

(i) Hội nhập kinh tế được định nghĩa là sự mở cửa các nền kinh tế
quốc dâncho hợp tác xuyên biên giới với các nước khác, mà chủ yếu là
các nước láng giềng. sự thoả thuận của các Nhà nước thể hiệnở chỗ, đẩy
mạnh thương mại giữa các quốc gia (xây dựng thương mại) và điều chỉnh
việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ với các quốc gia thứ ba (những quốc gia
không tham gia hội nhập) để dành ưu tiên cho trao đổi giữa các quốc gia
cùng tham gia hội nhập (điều chỉnh thương mại);

(ii) Hội nhập của các nền kinh tế quốc dân cũng thể hiện rõ ở chỗ
mạng lưới quan hệ qua lại trong lưu thông vốn ngắn hạn và dài hạn trở
nên được sàng lọc ngặt nghèo;

(iii) Chừng nào các điều kiện thể chế và pháp luật còn tồn tại, thì
sự hội nhập còn được thể hiện bằng những khả năng chuyển động lâu dài

5
của các lực lượng lao động và bằng sự trao đổi tri thức được bảo vệ trong
thương mại và được vận dụng trong kinh tế.

Như vậy, Hội nhập quốc tế là một trong những vxu thế tất yếu của
toàn cầu hoá. Người ta tính rằng, có ba làn sóng về toàn cầu hoá kinh tế
diễn ra từ năm 1870 đến nay, đó là:

(i) Làn sóng thứ nhất (1870 - 1914) với đặc trưng là sự di chuyển
mạnh mẽ lao động từ châu Âu sang các miền đất chưa được khai phá ở
Mỹ La-tinh, châu Á;

(ii) Làn sóng thứ hai (1945 - 1980) với đặc trưng là sự phát triển


6
1.2. Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về
hội nhập kinh tế quốc tế

Đường lối và chính sách xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta về
vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế là chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế.

Từ hai thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đến nay, các nền kinh tế
quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau và hình thành hàng loạt các thể
chế kinh tế khu vực và quốc tế. Xu hướng vận động này tạo nên quá trình
toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, là quá trình vận động
theo hướng mở rộng các hoạt động kinh tế trong phạm vi một quốc gia
sang phạm vi khu vực hoặc toàn thế giới. Toàn cầu hoá trước hết là về thị
trường, bắt nguồn từ toàn cầu hoá về thông tin và cuối cùng là các quá
trình kinh tế. Trong xu thế toàn cầu hoá, một quốc gia có chủ quyền
không còn là lực lượng duy nhất đưa ra chế độ, chính sách kinh tế ngay
tại nước mình mà là sự tồn tại đồng thời của bốn lực lượng là: quốc gia
dân tộc có chủ quyền; các khối kinh tế khu vực; các thể chế kinh tế quốc
tế và các công ty xuyên quốc gia.

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế
của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực hoặc toàn cầu;
trong đó, các thành viên quan hệ với nhau theo những quy định chung
như: Liên minh châu Âu, AFTA, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Trước kia, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu đơn thuần là
những hoạt động giảm thuế, mở cửa thị trường. Hội nhập kinh tế quốc tế
ngày nay được hiểu là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở,
tham gia các định chế kinh tế, tài chính quốc tế, thực hiẹn tự do hoá và

hoạch hội nhập kinh tế quốc tế; tích cực tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước
ngoài đồng thời mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài; đẩy nhanh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế – xã hội, hoàn chỉnh hệ
thống luật pháp, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và
nền kinh tế; mạnh dạn mở rộng, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối
ngoại và tham gia các thể chế, định chế kinh tế quốc tế, thực hiện các cam
kết quốc tế. “Tích cực” còn là không duy trì quá lâu các chính sách bảo
hộ của Nhà nước, khắc phục nhanh trình trạng trì trê và tâm lý trông chờ,
ỷ lại ở sự bao cấp của Nhà nước. Tích cực nhưng vững chắc, có sự chuẩn
bị cần thiết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu quản lý, hệ thống luật
pháp, có thông tin cập nhật và dự báo tình hình tương đối chính xác, có
đội ngũ cán bộ hiểu biết về thị trường, đối tác, tinh thông nghiệp vụ kinh
doanh, hội nhập kinh tế.

1.3. Các khía cạnh chủ yếu của hội nhập kinh tế quốc tế

1.3.1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài, kể cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp, kể cả luồng đầu tư vào (sự tiếp nhận) và luồng đầu tư ra (chúng ta
đầu tư ra làm ăn, sản xuất ở nước ngoài) là một trong những góc độ quan
trọng của hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu luồng đầu tư đó nhiều, chứng tỏ
việc hội nhập sâu rộng, và chỉ có hội nhập sâu rộng thì mới có cơ hội cho
luồng đầu tư đó nhiều.

Vốn đầu tư là tiền, tài sản để thực hiện các hoạt động đầu tư theo
hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp.

Theo Luật Đầu tư, đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua
định chế trung gian tài chính hoặc mua các chứng khoán mà nhà đầu tư

điểm, có lợi thế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương,
làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực, lôi kéo phát triển
kinh tế – xã hội cả nước và các vùng phụ cận.

1.3.2. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

Hỗ trợ phát triển chính thức là một trong những khía cạnh của hội
nhập kinh tế quốc tế. Nếu như không có mức hội nhập cao, thiếu các quan
hệ thân thiện với thế giới bên ngoài, thì không thể có nhiều nhà tài trợ,
cũng như không thể đạt được tính phong phú của vấn đề tài trợ, kéo theo
đó không thể có các khoản vốn hỗ trợ chính thức nhiều.
1
Khác với đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp là việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phiếu, trái phiếu của
các doanh nghiệp nước nhận đầu tư nhung không tham gia quản lý. Hình thức này rất phát triển trong
thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, song một phần bị thay thế bởi vay thương mại. Đầu tư gián tiếp không
trở thành nợ nhưng rất nhạy cảm với những biến đổi của chính sách tài chính, tiền tệ ở nước sở tại.
Hành động rút vốn ồ ạt của các nhà đầu tư sẽ gây tác hại xấu đến nền kinh tế của nước nhận đầu tư.

9
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của nước ngoài cho Việt Nam
là hoạt động của các nhà tài trợ quốc tế cung cấp vốn phát triển cho nước
Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực quan tâm.

Nhà tài trợ được đề cập có thể là chính phủ nước ngoài hoặc các tổ
chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia. Ngoài ra, các Tổ chức phi chính
phủ (NGO) nước ngoài đôi khi cũng được coi là nhà tài trợ.


413
1994
1.910
2.597
725
1995
2.260
1.443
737
1996
2.430
1.601
900
1997
2.400
1.694
1.000
1998
2.300
1.901
1.242
1999
2.100
1.372
1.350
2000
2.400
1.796
1.650
2001

phủ, các đại sứ, đại diện cho các nhà tài trợ và đại diện giới doanh nghiệp
trong và ngoài nước.

Chính phủ Việt Nam đã ký kết với các nhà tài trợ các Điều ước
quốc tế về ODA (hiệp định, nghị định thư, chương trình, dự án ) để sử
dụng nguồn vốn ODA đã cam kết. Công tác quản lý nhà nước về ODA đã
được tăng cường. Từ năm 1993 đến nay, Chính phủ đã ban hành ba Nghị
định về quản lý và sử dụng ODA, tạo ra khung pháp lý chặt chẽ và khá
đồng bộ đối với công tác quản lý nhà nước về ODA. Ngay cơ quan Tổng
cục Thống kê cũng đã có Quy chế sử dụng vốn ODA.

1.3.3. Tự do hoá thương mại

Xuất nhập khẩu là một trong những góc độ không thể thiếu được
của hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu xuất nhập khẩu nhiều, chứng tỏ việc
hội nhập sâu rộng, và chỉ có hội nhập sâu rộng thì mới có cơ hội cho xuất
nhập khẩu nhiều.

Thương mại tự do là nền thương mại được hình thành và phát triển
theo cung cầu và các quy luật kinh tế thị trường, không có sự cản trở bởi
biện pháp hành chính của Nhà nước. Trong thương mại quốc tế, thương
mại tự do được hiểu là một nền thương mại mà về nguyên tắc, áp dụng
chính sách cho hàng hoá, dịch vụ, vốn và lao động được tự do di chuyển
qua biên giới. Trong thực tế, các quốc gia đều áp dụng các chính sách
nhằm chế ngự ít hoặc nhiều đối với sự di chuyển đó.

Để thực hiện thương mại tự do, một số nước có thể lập ra Khu vực
thương mại tự do, đây là mô hình một nhóm gồm hai hay nhiều nước thoả
thuận cùng xoá bỏ thuế quan, phần lớn hoặc tất cả các biện pháp phi thuế
quan cản trở thương mại nội nhóm. Các nước trong nhóm vẫn độc lập

thể gây thiệt hại cho nước thứ ba (việc buôn bán giữa các công ty con
trong cùng một công ty đa quốc gia cũng bị liệt vào dạng này).

Tự do hoá thương mại là quá trình tiến hành những hoạt động như
ban hành chính sách, thực hiện các biện pháp loại bỏ các rào cản hiện
hành đối với thương mại hàng hoá và dịch vụ. Thuật ngữ này cũng có thể
bao gồm cả những biện pháp dỡ bỏ các hạn chế về đầu tư để tiếp cận thị
trường trong nước và thị trường quốc tế.

Trong thương mại quốc tế còn dùng khái niệm mở cửa thị trường.
WTO coi đây là một thuật ngữ pháp lý nói lên các điều kiện do Chính
phủ áp đặt để một sản phẩm có thể thâm nhập một nước trong điều kiện
không phân biệt đối xử. Mở cửa thị trường thể hiện bằng các biện pháp
của khẩu, đó là thuế quan và phi thuế quan đối với hàng hoá. Đối với dịch
vụ, còn có cả các quy định ngay trong thị trường. Mở cửa thị trường
thông qua chính sách thương mại đa biên phương hoặc các hiệp định liên
Chính phủ. Ngày nay, do quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế, người ta còn
quan tâm đến mở cửa thị trường ngay trong biên giới, mở rộng các quy
tắc thương mại tự do tới lĩnh vực nội địa. Vì vậy, mở cửa thị trường được

12
miêu tả là mức độ mà hàng hoá và dịch vụ có thể cạnh tranh với sản
phẩm chế tạo tại chỗ ở một thị trường khác. Mở cửa thị trường nhằm
nâng cao sức cạnh tranh quốc tế của sản phẩm trên các thị trường trong
và ngoài nước.

1.3.4. Hàng rào bảo hộ

Trái với tự do hoá thượng mại là Hàng rào bảo hộ.



- Tỷ lệ bảo hộ thực tế (ERP) hay còn gọi là tỷ lệ trợ giúp thực tế là tỷ
lệ làm rõ sự khác nhau giữa trường hợp giả định không có sự trợ giúp với
trường hợp thực tế có trợ giúp.

13

Trong thương mại quốc tế, WTO cho phép thực hiện bảo hộ đột
xuất là những biện pháp bảo hộ mang tính phòng vệ thương mại được áp
dụng tạm thời để đáp lại các hành động bán phá giá, trợ cấp hay hàng
nhập khẩu tăng đột biến gây thiệt hại cho sản xuất nội địa. Bảo hộ đột
ngột gồm ba biện pháp: chống bán phá giá, thuế đối kháng và biện pháp
tự vệ. Quy tắc quốc tế cho phép các nước đang phát triển, trong những
điều kiện nhất định, được áp dụng các biện pháp bảo hộ như thuế quan,
trợ cấp, các quy định hàm lượng nội địa cho những ngành công nghiệp
non trẻ có lợi thế so sánh tiềm tàng nhằm thúc đẩy sự phát triển.

Trong những hàng rào bảo hộ có hàng rào phi thuế quan. Hàng rào
phi thuế quan là những rào cản (không phải thuế quan) đối với việc tiếp
cận thị trường hay hạn chế tự do trao đổi thương mại giữa các quốc gia.
Hàng rào phi thuế quan là hệ thống các biện pháp do Nhà nước quy định
để can thiệp vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu nhằm bảo hộ sản xuất
trong nước và an ninh quốc gia mà không phải bằng chính sách thuế.
Hàng rào phi thuế quan có thể được thực hiện dưới các hình thức: kiểm
soát giá, hạn chế số lượng, biện pháp tài chính, biện pháp độc quyền hay
những quy định về kỹ thuật.

Biện pháp kiểm soát giá được thực hiện thông qua việc ấn định giá
trần/giá sàn hàng nhập khẩu như quy định giá nhập khẩu tối thiểu, nhằm
duy trì mức giá trong nước khi giá nhập khẩu thấp hơn giá trong nước,

Những nguy cơ đe doạ sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi
toàn cầu đang được nhận thức như thách thức toàn cầu. Một khi đã hội
nhập quốc tế sâu rộng, thì thách thức toàn cầu cũng chính là thách thức
của quốc gia. Để vượt qua những thách thức này, tất cả các quốc gia bất
kể giàu nghèo, cần định vị quản trị quốc gia trong tư duy quản trị toàn
cầu, tức là trong tư duy mà ở đó phải đưa ra được các nỗ lực tổng thể
nhằm xác định, hiểu rõ và giải quyết những vấn đề, những rủi ro bao trùm
thế giới mà một quốc gia riêng lẻ dù hung mạnh đến đâu cũng không thể
giải quyết một cách hiệu quả.

2.1. Nhận thức về thách thức toàn cầu

Các nhà kinh tế thế giới đã đưa ra nhận định: thị trường toàn cầu đã
được tái định dạng bởi dòng vốn, người tiêu dùng, các công ty xuyên
quốc gia và mạng liên lạc viễn thông. Các yếu tố này kết hợp với nhau đã
tạo ra tính hiệu quả của nền sản xuất hàng hoá và dịch vụ toàn cầu. Tuy
nhiên, nó cũng đêm lại những thách thức mà thế giới đang phải đối mặt.

Thứ nhất, rủi ro hệ thống tài chính: Phải khẳng định rằng hệ
thống kinh tế và tài chính có sự rang buộc chặt chẽ. Các ngân hàang trên
toàn thế giới vay mượn lẫn nhau, mua và bán các công cụ tài chính phức
tạp. Đây là lý do cắt nghĩa vì sao khi có sự quản lý tồi tệ ở một quốc gia
dẫn tới các khoản nợ xấu lại có khả năng lây nhiễm rộng rãi ra hệ thống
toàn cầu. Đầu tư tài chính đã như thỏi nam châm hút mạnh dòng vốn chảy
vào, khiến cho ngành tài chính trở thành quả bong bóng lớn. Bên cạnh đó
là sự tăng trưởng thiếu bền vững do lỗi điều hành và cả những hệ luỵ từ
chủ nghĩa kinh tế tự do thái quá (như điều hành cầm cố và thế chấp bất
động sản yếu kém, thiếu độ minh bạch; tính phức tạp của các sản phẩm
dịch vụ tài chính; sự bất cẩn của các dịch vụ đánh giá tín nhiệm; các định
chế tài chính trong nước còn yếu kém trong quản lý rủi ro; sự mạo hiểm

phương diện kinh tế cũng như trong đời sống hằng ngày. Theo ngưỡng
này, cuộc khủng hoảng lương thực lan sang nhiều quốc gia đang phát
triển khiến cho hang trăm triệu người tại 78 quốc gia phụ thuộc vào
Chương trình cứu trợ của FAO, 36 nước đang đối mặt với khủng hoảng
lương thực do thu nhập thấp hơn so với giá nông sản, do thiên tai, chính
sách nông nghiệp yếu kém…

Có 5 yếu tố chủ yếu khiến cho cung - cầu lương thực không cân
bằng, an ninh lương thực toàn cầu bị đe doạ, đó là:

(1) Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu;

(2) Số lượng cũng như chất lượng nguồn nước bị suy giảm;

(3) Dân số gia tăng và nhu cầu sử dụng lương thực theo cách lạm dụng
tăng mạnh (chế biến ethanol, chăn nuôi gia súc lấy thịt…); 16
(4) Chiến tranh xuyên biên giới, nội chiến và những biến động chính
trị bất lợi cho sản xuất lương thực; diện tích trồng trọt bị thu hẹp,
năng suất thu hoạch lương thực không được chú trọng đầy đủ.

Có một điểm đặc biệt là an ninh lương thực không chỉ là vấn đề
của các nước nghèo như muôn thuở mà đã xuất hiện ngay ở cả các quốc
gia giàu có khi lương thực đã trở thành nguyên liệu chế biến nhiên liệu
sinh học thay thế cho nhiên liệu hoá thạch và là nguyên liệu đầu vào cho
một số ngành, như ngành chăn nuôi, sản xuất đồ uống…

Thứ ba, vấn đề an ninh năng lượng: Năng lượng là yếu tố đầu

và những chuỗi cung ứng tốt cần hội tụ đủ ba (3) yếu tố bắt đầu bằng chữ
A: Nhanh nhẹn, phản ứng nhanh với thay đổi cung - cầu (Agile); Thích

17
nghi theo thời gian và thay đổi chiến lược (Adapt); Phù hợp với lợi ích
công ty trong mạng lưới cung ứng nhằm tối ưu hoá hoạt động và tối ưu
hoá lợi nhuận (Align).

Tuy nhiên, hiện nay quản trị chuỗi cung ứng toàn cầu đang phải đối
mặt với những thách thức nghiêm trọng. Khi hầu hết các công ty và các
chính phủ phụ thuộc vào chuỗi cung ứng thì chỉ cần một hay một vài
điểm bị xáo trộn, gây tắc nghẽn, tất yếu cả chuỗi giá trị đều bị tổn thương.
Những xáo trộn trong vòng mấy năm vừa qua từ khi khủng hoảng tài
chính toàn cầu đang diễn ra là một bài học đắt giá không phải chỉ riêng
đối với các nhà quản trị chuỗi giá trị cung ứng, mà còn với nhiều chính
phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô.

2.2. Hành động quản trị toàn cầu

(i) Đối phó với rủi ro tài chính: Đã có nhiều cuộc thảo luận nhằm xây
dựng các thiết chế tài chính mở, theo đó quyền quyết định những vấn đề
tài chính toàn cầu không tập trung vào một vài quốc gia đầu tàu, mà được
chia sẻ với nhiều quốc gia khác. Thời đại quyền lực mở có thể bắt đầu từ
sau cuộc khủng hoảng này. Các quốc gia đóng vai trò quan trọng trên bàn
cờ kinh tế thế giới đã đi đến nhất trí tập trung mọi biện pháp nhằm khôi
phục lại đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu; hoàn thiện vai trò điều tiết của
các thể chế tài chính quốc tế, trước hết là WB và IMF; phối hợp chính
sách tài chính tiền tệ trên cấp độ quốc tế; khuyến khích tự do hoá thương
mại, chống lại chế độ bảo hộ cục bộ đồng thời củng cố quản trị công, đề
cao chức năng giám sát rủi ro hệ thống trong quản trị toàn cầu, ngăn chặn

dân cư… Quản trị toàn cầu khó có thể đạt mức huy động khối lượng tiền
lớn để đầu tư mới các cơ sở cung ứng về năng lượng. Bởi vậy, đề cao vai
trò của tiết kiệm triệt để năng lượng, đồng thời bảo tồn các nguồn năng
lượng hiện có là một trong những đòi hỏi cấp bách Nhu cầu về quản trị
toàn cầu đối với an ninh năng lượng toàn cầu đặt ra ngày càng nhiều vấn
đề phối hợp hành động (thông qua việc ký kết các công ước, hiệp ước,
hiệp định quốc tế) không chỉ liên chính phủ mà còn là trách nhiệm xã hội
của các doanh nghiệp và các tổ chức dân sự xã hội toàn cầu.

Đối phó với chuỗi rủi ro cung ứng toàn cầu đang đặt ra nhiều yêu
cầu bức thiết đối với quản trị toàn cầu. Các công ty xuyên quốc gia, công
ty địa phương, các chính phủ, công đoàn, hiệp hội sản xuất cần nhìn nhận
vấn đề này theo góc độ của mình để bảo đảm cho hoạt động cung ứng
thông suốt vì lợi ích chung của chuỗi toàn cầu.

2.3. Quản trị toàn cầu nhìn từ góc độ Việt Nam

Từ góc độ quốc gia, đang trên từng bước trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam cũng phải đối phó với
nhiều thách thức, đặc biệt là các vấn đề:

(a) Về biến đổi khí hậu toàn cầu và ô nhiễm môi trường sống: Những
trận bão lớn, lũ lụt bất thường, nước biển dâng cao, triều cường, mặn hoá
đất nông nghiệp, tình trạng ô nhiễm nước, đất đai cạn kiệt… đã gây nhiều
hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với sản xuất cũng như sức khoẻ cộng
đồng. Chúng ta đang rơi vào vòng luẩn quẩn giữa tăng trưởng và đảm bảo
môi trường sống bền vững. Căn nguyên của tình trạng ô nhiễm và biến
đổi khí hậu toàn cầu xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan.

Hiện nay chúng ta chưa nhận thức đầy đủ mức độ nghiêm trọng

- Vấn đề chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế trong điều
kiện của một nền kinh tế chuyển đổi, còn nhiều kẽ hở trong thể chế thị
trường cũng phải được giải quyết. Nhiều vấn đề về chính sách còn chưa
được giải quyết một cách toàn diện, nhận thức về sự cần thiết và quyết
tâm chủ độgn hội nhập còn khác nhau, năng lực xây dựng, triển khai
chiến lược hội nhập còn chưa xững tầm với đòi hỏi của thực tiễn cuộc
sống. Đó cũng là những vấn đề phải khắc phục ngay, không thể một sớm
một chiều.

- Những thách thức gay gắt để đạt tới thành công của vấn đề chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế là: hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh
tế còn yếu kém; đổi mới khu vực doanh nghiệp Nhà nước và ngân hàng là
một nhiệm vụ nan giải nhưng không thể né tránh; môi trường kinh doanh
chưa được thông thoáng, còn những bất hợp lý; hình thành hệ thống
chính sách đủ năng lực hỗ trợ cho người nghèo, người dễ bị tổn thương
trong quá trình chuyển đổi và hội nhập kinh tế quốc tế.

20

- Trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự thay đổi nhanh chóng về công
nghệ, các công cụ truyền thống mà nhiều quốc gia đã từng áp dụng để
thúc đẩy, hỗ trợ các ngành công nghiệp sẽ càng ngày bị hạn chế.

- Thách thức của việc giải quyết nhiệm vụ nâng cao dân trí, yêu
cầu phải thay đổi mau chóng và căn bản chất lượng của hệ thống cung
cấp và sử dụng tri thức.

21

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Towards the ASEAN Community, Volume 2: Data and
Metadata (ABR Team Members: Mario B. Lamberte; Heidi R.
Arboleda; Celia M. Reyes), Jakarta: ASEAN Secretariat,
7/2006.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status