Cơ sở khoa học và thực tiến của việc lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam - Pdf 24


1

TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ - VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ

Đề tài khoa học
Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

CHUYÊN ĐỀ 3

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
LỰA CHỌN VÀ TÍNH TOÁN THỬ NGHIỆM MỘT
SỐ CHỈ SỐ PHẢN ÁNH MỨC ĐỘ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

LỰA CHỌN VÀ TÍNH TOÁN THỬ NGHIỆM MỘT
SỐ CHỈ SỐ PHẢN ÁNH MỨC ĐỘ HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Việc xây dựng, lựa chọn cũng như tính toán thử nghiệm
các chỉ số, chỉ tiêu phản ánh mức độ hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam không thể không dưa trên những
nền tảng của lý thuyết thống kê trong lĩnh vực này, và
cũng không thể không dựa vào thực tiễn cuộc sống đòi
hỏi thống kê phải can thiệp trong lĩnh vực này. Có sở
khoa học ở đây được hiểu là lý luận đã được người ta
tổng kết về việc lựa chọn và xây dựng chỉ số, chỉ tiêu, và
những điều đó đã được ứng dụng. Cơ sở thực tiễn ở đây
được hiểu là sự đòi hỏi của thực tế cuộc sống, cũng như
một số các công trình tương tự như của thế giới được
chọn lọc để áp dụng vào thực tiễn nước ta. Và những cơ
sở khoa học và thực tiễn đó đều phải nhất quán với
quan điểm và bước đi của Nhà nước ta trong vấn đề hội
nhập kinh tế quốc tế.

HÀ NỘI, 7 - 2008

2.2. Nhu cầu thực tiễn
22 Kết luận và kiến nghị
24 Tài liệu tham khảo
25

từ “tích cực” thành: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”.
“Chủ động” là ta tự quyết định đường lối phát triển kinh tế – xã hội nói
chung, chủ trương, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng; là nắm
vững các quy luật, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy
đầy đủ năng lực nội sinh của đất nước, xác định lộ trình, nội dung, quy
mô, bước đi hội nhập kinh tế quốc tế; đa phương hoá, đa dạng hoá các
quan hệ kinh tế quốc tế, không chỉ tập trung vào một thị trường, một sản
phẩm; chủ động thực hiện các cam kết song phương, đa phương và chủ
động vận dụng các “luật chơi” của các thể chế kinh tế – thương mại quốc
tế trên cơ sở đảm bảo lợi ích tối cao của đất nước vừa hợp tác vửa đấu
tranh, không bị động và cũng không tự phát, nóng vội, chủ quan, duy ý
chí; có sáng kiến, biết phân tích, chủ động lựa chọn đối tác và phương
thức kinh doanh, dự báo được những thuận lợi và khó khăn khi hội nhập
kinh tế quốc tế.

5
“Tích cực” là hội nhập kinh tế quốc tế với tinh thần mạnh mẽ hơn,
khẩn trương hơn, toàn diện và sâu rộng hơn so với giai đoạn trước; không
chần chừ, do dự mà đẩy mạnh đổi mới bên trong, từ phương thức lãnh
đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn, từ Trung ương đến địa phương,
doanh nghiệp; khẩn trương xây dựng và thực hiện chiến lược, lộ trình, kế
hoạch hội nhập kinh tế quốc tế; tích cực tranh thủ nguồn vốn đầu tư nước
ngoài đồng thời mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài; đẩy nhanh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế – xã hội, hoàn chỉnh hệ
thống luật pháp, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và
nền kinh tế; mạnh dạn mở rộng, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối
ngoại và tham gia các thể chế, định chế kinh tế quốc tế, thực hiện các cam
kết quốc tế. “Tích cực” còn là không duy trì quá lâu các chính sách bảo
hộ của Nhà nước, khắc phục nhanh trình trạng trì trệ và tâm lý trông chờ,
ỷ lại ở sự bao cấp của Nhà nước. Tích cực nhưng vững chắc, có sự chuẩn

6
phương diện khác nhau. Nhưng làm thế nào để có thể đánh giá và tổng
hợp chính xác được các khía cạnh khác nhau của hiện tượng nghiên cứu,
lý thuyết thống kê đã cung cấp cho chúng ta nhiều phương pháp khác
nhau để giải quyết vấn đề này.
Về mặt lý luận khi xây dựng chỉ số tổng hợp chúng ta phải giải
quyết hai vấn đề chính:
 Một là lựa chọn được các chỉ tiêu thành phần phản ánh được bản
chất của hiện tượng nghiên cứu.
 Hai là bằng cách nào đó chúng ta có thể gộp các chỉ tiêu thành
phần này, tức là xác định được các trọng số của các chỉ tiêu thành
phần trong chỉ tiêu tổng hợp.
Cho đến nay các công trình nghiên cứu vẫn chưa giải quyết thoả
đáng hai vấn đề cơ bản nêu trên, chính vì vậy chuyên đề này trình bầy
một phương pháp tổng quát và tương đối đơn giản, dễ vận dụng trong
thực tế xây dựng các chỉ số tổng hợp, và đưa ra nội dung của một vài chỉ
số tổng hợp đang thịnh hành trên thực tế ở các quốc gia, như chỉ số phát
triển con người, chỉ số chất lượng cuộc sống ở Ma-lai-xi-a, chỉ số năng
lực cạnh tranh, chỉ số thịnh vượng quốc gia. Trên cơ sở đó tiến hành lựa
chọn, đề xuất một phương pháp tương đối phù hợp cho việc tính toán chỉ
số tổng hợp phản ánh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
Để phản ánh và mô tả các hiện tượng phức tạp, người ta sử dụng
các nhóm chỉ tiêu khác nhau đặc trưng cho từng khía cạnh của hiện tượng
và trong mỗi nhóm lại gồm một số các chỉ tiêu cụ thể và thông thường tập
hợp các số liệu đầu vào được trình bầy dưới dạng ma trận khối sau:






1
1
11211
1
1
1
12
1
11

Trong đó
k
ij
X
là giá trị của chỉ tiêu j tại đối tượng i trong nhóm chỉ
tiêu k. j = 1,2, n – chỉ số của các chỉ tiêu (tiêu thức)
i = 1,2, m – chỉ số các đối tượng
k = 1,2, k – chỉ số các nhóm chỉ tiêu.
Để xây dựng chỉ số tổng hợp, ta tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích định tính tính chất của các chỉ tiêu thành phần
Về bản chất các hiện tượng phức tạp thường là các phạm trù trừu
tượng không trực tiếp quan sát được và rất khó đo lường trực tiếp chúng,
để có thể đánh giá và lượng hoá được các hiện tượng chúng ta cần phải
thông qua các chỉ tiêu thành phần cụ thể. Đối với một hiện tượng kinh tế
xã hội phức tạp, cụ thể như lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc tế thì có rất
nhiều các chỉ tiêu thành phần có thể phản ánh mức độ của tiện tượng đó,
chẳng hạn như có thể dùng các chỉ tiêu thành phần: xuất nhập khẩu hàng
hoá và dịch vụ; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và mở rộng đầu tư

7













1
: :::
1
1
2
1
1
2321
1312
nk
nk
nk

l
0
đều chứa đựng thông tin như nhau về hiện tượng nghiên cứu).
- Đối với các chỉ tiêu còn lại từ ma trận các hệ số tương quan
chúng ta cũng tiến hành tương tự.

8
Kết thúc giai đoạn này chúng ta thu được một tập hợp các chỉ tiêu
thành phần thứ cấp với số lượng nhỏ hơn lúc ban đầu. Khi đó chúng ta
thu được ma trận các số liệu phân tích sau:















k
mp
k
mmpmm
k

mức đồng đều của chỉ tiêu này tại từng đối tượng là khá cao, thì chỉ tiêu
đó về bản chất là chỉ tiêu chứa đựng ít thông tin về hiện tượng nghiên
cứu. Ví dụ với chỉ tiêu tỷ lệ xã có đường ô tô đến trụ sở, có trạm y tế, hay
được dùng điện lưới, thì chỉ tiêu này ở hầu hết các tỉnh đều đạt hầu như
100%, cho nên nếu dùng chỉ tiêu này để đánh giá mức ảnh hưởng tới chất
lượng cuộc sống thì chất lượng thông tin trong phân tích sẽ không cao,
mặc dù trên thực tế chúng rất có ý nghĩa. Hay nói cách khác, đối với một
chỉ tiêu thành phần nào đó mà càng ít đối tượng đạt được mức độ cao, độ
biến thiên của nó lớn, thì chỉ tiêu đó càng có giá trị thông tin trong phân
tích, ví dụ như đối với mức sống thì chỉ tiêu số lượng ô tô tính trên 1000
dân chẳng hạn là chỉ tiêu phản ánh rõ nét mức sống cao và chỉ tiêu này
khó đạt được đồng đều đối với các đối tượng nghiên cứu, hơn nữa chỉ
tiêu này rõ ràng thể hiện mức sống cao hơn so với chỉ tiêu như số lượng
xe đạp hay vô tuyến tính trên 1000 dân.
Như vậy, chỉ tiêu càng quan trọng thì càng ít đối tượng đạt được
giá trị cao. Để đơn giản tại bước này ta sẽ loại bỏ bớt các chỉ tiêu mà hệ
số biến thiên nhỏ (tức là lượng thông tin về hiện tượng nghiên cứu thấp).
Để xác định tầm quan trọng của chỉ tiêu cũng có thể sử dụng hệ số
bất đối xứng: nếu chỉ tiêu có hệ số bất đối xứng dương càng lớn (lệch
phải nhiều) thì chỉ tiêu đó càng quan trọng và ngược lại.
Bước 4: Chuẩn hoá các chỉ tiêu thành phần đã được chọn lọc
Có nhiều phương pháp chuẩn hoá nhưng thông thường người ta
hay áp dụng phương pháp chuẩn hoá sau đây:

i
k
ij
k
ij
k

u
xx
y
m
i
i
k
ij
k
ij
k
ij













1
min
1
(4)
Trong đó : u – là số lượng các đối tượng thoả mãn điều kiện:

mum
ym
m
u
m
y
w
i
k
ij
i
k
ij
k
j
(6)
Dễ thấy rằng 0 
k
j
w
 1 và giá trị của tham số này lớn nếu có ít đối
tượng thoản mãn điều kiện (5) và ngược lại. Như vậy giá trị của tham số
này càng gần 0 thì chỉ tiêu j càng ít có giá trị thông tin về hiện tượng
nghiên cứu, còn nếu giá trị của tham số này càng gần 1 thì chỉ tiêu j càng
nhiều giá trị thông tin.
Trên cơ sở các giá trị của
k
j
w
tính được cho từng chỉ tiêu trong

= 2

min
k
j
w
= 0 ta cho

= n
Khi đó hệ thống trọng số được tính theo công thức sau đây:

)1(
)1(2



nn
n



(7)
Công thức này thoả mãn các điều kiện:
1. 0 


 1
2.



y
được xác định theo (2), (3) với chỉ số

là phản chiếu chỉ số j.
Bước 7: Gộp chung toàn bộ các nhóm chỉ tiêu
Đối với mỗi nhóm chỉ tiêu cụ thể chúng ta sẽ tính hệ số nhạy cảm
theo công thức sau:

)1)((
)1(
1





mum
Sm
w
m
i
k
i
k
(9)
k = 1,2, K
Trong đó: u – là số lượng các đối tượng thoả mãn điều kiện:


 )1(

tính theo công thức (7)


i
S
tính theo công thức (8)
Dễ dàng nhận thấy S  [0,1], giá trị của chỉ số tổng hợp chung
càng gần 1 thì đối tượng nghiên cứu thư i càng đạt được mức độ cao xét
theo chỉ tiêu tổng hợp nghiên cứu và ngược lại.
Trên cơ sở chỉ số tổng hợp tính được cho mỗi đối tượng, chúng ta
có thể tiến hành xếp hạng toàn bộ tổng thể nghiên cứu (như xếp hạng các
tỉnh, các địa phương, các vùng, hoặc các quốc gia).

1.2. Lý thuyết lựa chọn chỉ tiêu và xây dựng chỉ số thống kê
tổng hợp trong các lĩnh vực cụ thể

1.2.1. Chỉ số phát triển con người HDI
Có rất hiều yếu tố phản ánh phát triển con người, như các vấn đề
an sinh xã hội, an ninh con người, các vấn đề về bình đẳng giới, công
bằng xã hội, các vấn đề về môi trường, và phải đảm bảo tính chất bền
vững của sự phát triển (phát triển bền vững). Chỉ số phát triển con người
phải là một chỉ số tổng hợp phản ánh sự phát triển trên tất cả các góc độ

11
đó. Nhưng theo lý thuyết xây dựng chỉ số tổng hợp đã nêu, nếu gộp nhiều
yếu tố quá sẽ dẫn đến ôm đồm, khó tính toán, khó có được một cơ sở số
liệu thống kê đầy đủ và đồng bộ, do vậy cũng khó khuyến khích các quốc
gia tính toán chỉ số này, nhất lầ trong hoàn cảnh nếu như trình độ thống
kê chưa phát triển. Do vậy, các nhà nghiên cứu chỉ khoanh giới hạn lại ở
trình độ phát triển trung bình xét trên 3 phương diện: một cuộc sống

biết chữ
+ (1/3) I
năm học

Trong đó: I
biết chữ
là chỉ số biết chữ của người lớn;
I
năm học
là chỉ số năm học bình quân; X
học
thực
- X
học
min

I
năm học

=
X
học
max
- X

GDP
min
)
I
GDP

=
Log(X
GDP
max
) - Log(X
GDP
min
)
Với:
I
GDP

là chỉ số thu nhập;

X
GDP
max

là mức tối đa của GDP bình quân đầu người;

X

X
tuổi
max
- X
tuổi
min

Trong đó: X
tuổi
thực
- là tuổi thọ trung bình thực tế;
X
tuổi
max
- là tuổi thọ trung bình tối đa (= 85);
X
tuổi
min
- là tuổi thọ trung bình tối thiểu (= 25);
Phương pháp tính HDI
HDI = (I
tuổi thọ
+ I
giáo dục
+ I
GDP
) / 3
1.2.2. Chỉ số phát triển liên quan đến giới (GDI)
GDI đo lường sự bất bình đẳng trong những thành quả đạt được
giữa nam và nữ. Thực chất GDI xuất phát từ HDI được điều chỉnh theo sự

theo công thức chung sau:
Chỉ số phân bổ công bằng = {[tỷ lệ dân số nữ * (chỉ số nữ)
1-

] + [tỷ lệ
dân số nam * (chỉ số nam)
1-

]}
1/1-


 là một tham số phản ánh mối liên hệ giữa sự bất bình đẳng đối
với chỉ số phân phối công bằng. Trong chỉ số GDI, tham số  = 2. Do đó,
phương trình chung biến đổi thành:

13
Chỉ số phân bổ công bằng = {[tỷ lệ dân số nữ * (chỉ số nữ)
-1
] + [tỷ lệ dân
số nam * (chỉ số nam)
-1
]}
-1
.
Chỉ số này cho kết quả giá trị trung bình hài hoà giữa nữ và nam.
Bước ba, chỉ số GDI được tính bằng cách tổng hợp các chỉ số
PBCB thành một giá trị bình quân phi gia quyền.
1.2.3. Thước đo vị thế của giới (GEM)
GEM chỉ ra sự bất bình đẳng giới tính trên ba phương diện chính:


tỷ lệ dân số nữ *(tỷ trọng % nữ trong từng lĩnh vực i)
-1

+


tỷ lệ dân số nam*(tỷ trọng % nam trong từng lĩnh vực i)
-1

-1

Với i = các lĩnh vực (tham gia quốc hội, làm lãnh đạo, thu nhập).
Với các lĩnh vực, tỷ lệ EDEP được chuẩn hoá bằng cách chia cho
50, vì trong một xã hội có bình đẳng giới hoàn toàn, các biến số của GEM
có thể bằng 50%, nghĩa là tỷ lệ nữ và nam bằng nhau trong mỗi biến số.
Cuối cùng, GEM là giá trị trung bình của 3 chỉ số EDEP.
1.2.4. Chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI)
HPI đo sự thiếu hụt trong 3 mặt cốt yếu của cuộc sống như đã phản
ánh trong HDI: sự sống lâu, trình độ giáo dục và mức sống tiêu chuẩn.
Các biến được sử dụng trong HPI-1 gồm:
- Phần trăm dân số chết trước 40 tuổi (P
1
);
- Phần trăm người lớn mù chữ (P
2
);
- Sự thiếu hụt về vật chất (P
3
).

+ P
33
)/3
1.2.5. Chỉ số phát triển công nghệ (TAI)
TAI là một chỉ số tổng hợp được thiết kế để đo thành tích của các
nước trong việc sáng tạo và phổ biến công nghệ và xây dựng một cơ sở
kỹ năng con người. Chỉ số này đo các thành tựu đạt được trên 4 thước đo:
 Sáng tạo công nghệ được đo bằng số bằng phát minh sáng chế cấp
cho dân định cư tính trên đầu người và bằng số thu phí quyền sở
hữu trí tuệ và phí bản quyền của nước ngoài trên đầu người.
 Phổ biến các thành tựu công nghệ gần đây, được đo bằng số máy
chủ internet trên đầu người và tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghệ cao.
 Phổ biến các thành tựu công nghệ trước đây, được đo bằng số điện
thoại (cố định và di động) và tiêu thụ điện năng trên đầu người.
 Các kỹ năng của con người được đo bằng trung bình số năm đến
trường của người lớn (15+) và tỷ lệ nhập học đại học khoa học.
Với mỗi chỉ số theo các thước đo trên, các giá trị quan sát tối thiểu
và tối đa được đặt ra (theo các nước có số liệu) là các giá trị tới hạn. Tính
toán trong mỗi chỉ số được thể hiện bằng một giá trị nằm giữa khoảng 0
và 1 bằng cách áp dụng công thức tính chung sau đây:
Chỉ số chỉ tiêu
trong thước đo
=
Giá trị thực tế – giá trị quan sát tối thiểu
Giá trị quan sát tối đa – giá trị quan sát tối thiểu
Chỉ số cho mỗi thước đo là kết quả tính giá trị trung bình chung
của các chỉ số chỉ tiêu trong thước đo đó. Chỉ số TAI, cũng vậy, là giá trị
trung bình của 4 chỉ số thước đo trên. Các giá trị tới hạn để tính toán TAI
Chỉ tiêu
Giá trị

Tổng tỷ lệ nhập học đại học khoa học tự nhiên (%)
27,4
0,1 15
1.2.6. Chỉ số năng lực cạnh tranh
Nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc tế cao sẽ đạt được tốc độ
tăng trưởng cao, tạo thêm việc làm và thu nhập, trình độ khoa học công
nghệ nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện. Không nâng cao được
năng lực cạnh tranh của quốc gia sẽ dẫn đến ít thu hút được vốn đầu tư
trong nước và nước ngoài, các doanh nghiệp mất thị phần trong nước và
thế giới. Thất bại trong cạnh tranh, doanh nghiệp sẽ phải chuyển hướng
sản xuất, thậm chí phải giải thể, phá sản, lao động mất việc làm.
Năng lực cạnh tranh diễn ra đồng thời ở ba cấp độ: Năng lực cạnh
tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh
của sản phẩm, dịch vụ. Ba cấp độ này liên quan với nhau: năng lực cạnh
tranh quốc gia cao khi có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao,
ngược lại để tạo doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, môi trường kinh
doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách vĩ mô phải rõ ràng,
có thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy nhà nước phải trong
sạch, hoạt động có hiệu quả, chuyên nghiệp.
Dưới đây là phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia
của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF):
Trước hết, WEF chọn từ 140 đến 250 chỉ tiêu khác nhau (tuỳ theo
năm nghiên cứu), trong đó có nhiều chỉ tiêu thuộc hệ thống tài khoản
quốc gia, đầu tư, thương mại, giá, lãi xuất, ứng dụng công nghệ mới, môi
trường, hệ thống luật pháp (thậm chí có tới 10 chỉ tiêu khác nhau liên
quan đến tình hình tham nhũng, hối lộ). Các chỉ tiêu này được xếp vào
tám nhóm nhân tố thể hiện năng lực cạnh tranh quốc gia:

công, quan hệ chủ thợ ).
8. Thể chế: tính đúng đắn của các pháp chế và xã hội (hệ thống luật
pháp và bảo hộ quyền sở hữu) đặt nền tảng cho nền kinh tế cạnh
tranh và hiện đại, gồm các chỉ số: tình hình cạnh tranh; chất lượng
của các thể chế pháp lý; cảnh sát và việc phòng chống tội phạm
Tám nhân tố trên gồm nhiều tiêu chí đã được lượng hoá bằng các
thông kê và có nhiều chỉ tiêu có tính chất định tính (do các chuyên gia
được phỏng vấn cho điểm về từng chỉ tiêu được hỏi) để so sánh với nhau.
Mỗi nhóm yếu tố trong từng giai đoạn được gán một trọng số nhất định.
1.2.7. Chỉ số giáo dục cho mọi người (EDI)
Chỉ số này do UNESCO công bố trong Báo cáo giám sát giáo dục
toàn cầu năm 2005. Đây là lần đầu tiên UNESCO tính chỉ tiêu này nhằm
đánh giá tiến độ của các nước thực hiện mục tiêu “Giáo dục cho mọi
người đến năm 2015” của Liên Hợp Quốc.
EDI được hình thành từ những chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học;
- Tỷ lệ biết chữ ở người lớn (từ 15 tuổi trở lên);
- Mức độ cân bằng về giới trong giáo dục;
- Chất lượng giáo dục.
Chỉ số EDI có giá trị từ 0 đến 1 hoặc tính theo tỷ lệ phần trăm.
Nước nào có điểm cao thì xếp hạng cao và ngược lại.
1.2.8. Chỉ số thịnh vượng quốc gia (WNI)
WNI do nhóm chuyên gia kinh tế của World Paper và Viện nghiên
cúu các vấn đề tiền tệ (MMI) của Mỹ tính và công bố hàng năm, bắt đầu
từ năm 1996. WNI nhằm đo lường sự thịnh vượng của các quốc gia. Điều
đáng chú ý WNI chủ yếu chỉ tính toán và xếp hạng trong phạm vi các
nước đang phát triển.
WNI được tính trên cơ sở 3 nhóm tiêu chí, mỗi nhóm tiêu chí lại
bao gồm 21 biến số với quyền số bằng nhau. Mỗi biến số sẽ có một số
điểm nhất định tuỳ theo mức độ đạt được của biến số. Tổng số điểm của

);
+ Chênh lệch lãi suất;
+ Đóng góp của doanh nghiệp nhà nước (% GDP);
+ Mức độ bảo hộ tài sản thương mại.
 Nhóm tiêu chí về môi trường xã hội, bao gồm:
- Sự ổn định và phát triển:
+ Phân phối thu nhập;
+ Bình đẳng nam nữ về tiền lương và về giáo dục;
+ Tỷ lệ thất nghiệp;
+ Tỷ lệ phần trăm người tị nạn so với dân số;
+ Chỉ số về quyền lợi chính trị;
+ Hệ thống pháp luật độc lập;
+ Số lượng phương tiện giao thông, chất lượng đường sá.
- Y tế:
+ Tốc độ tăng trưởng lực lượng lao động;
+ Chương trình y tế quốc gia (phúc lợi y tế so với chi tiêu);
+ Tỷ lệ dân số nghỉ hưu so với lực lượng lao động;
+ Đất canh tác bình quân đầu người;
+ Lượng cung cấp calo/ngày.
- Môi trường thiên nhiên:
+ Đất được bảo tồn so với tổng diện tích;

18
+ Tỷ lệ khí thải CO
2
(tấn/người);
+ Tỷ lệ dân số được sử dụng nước sạch;
+ Cam kết của Chính phủ về môi trường.
 Nhóm tiêu chí về trao đổi thông tin, bao gồm:
- Khả năng tiếp nhận thông tin:

19
II- PHẦN HAI:
CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1. Cơ sở pháp lý
Căn cứ pháp lý để xây dựng chỉ số tổng hợp phản ánh hội
nhập kinh tế quốc tế của nước ta là:
 Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: đây là văn bản cao
nhất trong đường lối lãnh đạo của Đảng, trong đó đã ghi nhận tầm
quan trọng của công tác hội nhập quốc tế, đặc biệt hội nhập kinh tế
quốc tế ở nước ta;
 Luật Thống kê số 04-2003-QH11 được Quốc hội thông qua ngày
17/6/2003 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2004: đây là văn bản
pháp lý tối cao về công tác thống kê, trong đó có công tác thống kê
phục vụ sự chỉ đạo và đề ra đường lối chính sách ở cấp quốc gia,
cấp Bộ , ngành và các cấp địa phương;
 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 305/2005/QĐ-TTg ngày
24/11/2005 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia:
văn bản này của Chính phủ có nội dung trao quyền cho các cấp Bộ,
ngành được tự xây dựng cho mình các hệ thống chỉ tiêu thống kê
chuyên ngành nhằm phục vụ cho sự chỉ đạo chuyên môn, đáp ứng

nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định,
bền vững. Phát triển quan hệ với tất cả các nước, các vùng lãnh thổ trên
thế giới và các tổ chức quốc tế theo các nguyên tắc: tôn trọng độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau; không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; giải quyết các bất
đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hòa bình; tôn trọng lẫn nhau,
bình đẳng và cùng có lợi.
Củng cố và tăng cường quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân,
đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc, cách mạng và tiến bộ trên
thế giới. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền.
Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm "chủ
động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả". Tích cực tham gia các diễn đàn và
hoạt động của nhân dân thế giới. Tăng cường vận động viện trợ và nâng
cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát
triển kinh tế - xã hội.
Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn
sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan
về vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động
xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc",
"tôn giáo" hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam.
Đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ
hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục
vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất.
Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù
hợp với chiến lược phát triển đất nước từ nay đến năm 2010 và tầm nhìn
đến năm 2020. Chuẩn bị tốt các điều kiện để ký kết các hiệp định thương
mại tự do song phương và đa phương. Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn
diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á - Thái Bình

chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại; đối ngoại, quốc phòng và an
ninh; thông tin đối ngoại và thông tin trong nước.
Các văn kiện của Đảng và đường lối chính sách của Nhà nước về
HNQT đòi hỏi Thống kê phải đưa ra các chỉ tiêu mô tả chúng, đánh giá
chúng, mà điều đó chỉ có thể thông qua các chỉ tiêu thống kê riêng lẻ về
từng lĩnh vực và các chỉ số thống kê tổng hợp.

2.2. Nhu cầu thực tiễn

Nhu cầu rất lớn của thực tiễn công tác thống kê phục vụ sự quản lý
và lãnh đạo các cấp của Đảng và Nhà nước là đẩy mạnh các khâu chuyên
ngành nhằm mô tả sát thực lĩnh vực HNQT của nước ta, trong đó có việc
xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh quá trình HNQT của nước ta, trước
hết là hội nhập kinh tế quốc tế; lựa chọn những chỉ tiêu chủ yếu nhất đại
diện cho các mặt cơ bản của HNQT; từ đó xác định ra một số chỉ số tổng
hợp đo lượng mức độ HNQT của Việt Nam, đặc biệt hội nhập kinh tế.
Nhu cầu đẩy mạnh quá trình HNQT được thể hiện qua một số hoạt
động cụ thể sau:
(i) Nhà nước đã quyết định thành lập Ủy ban quốc gia về hợp tác
kinh tế quốc tế với thành viên là đại diện các bộ, ngành; Hàng năm đại
diện các bộ ngành phải báo cáo trước Ủy ban về công tác HNQT trong
lĩnh vực phụ trách của bộ, ngành mình;

22
(ii) Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương số 08-NQ-T.Ư
ngày 5.2.2007 về hợp tác kinh tế quốc tế và từng bước HNQT, với Đề án
chiến lược đàm phán hiệp định thương mại tự do FTA đến năm 2020,
kiện toàn mạng lưới HNKTQT ở các bộ, ngành và địa phương; triển khai
thực hiện các cam kết trong các tổ chức WTO, ASEAN, APEC, ASEM;
tham gia đàm phán các hiệp định thương mại tự do song phương và đa

+ Chính s ách phát triển khu vực kinh tế tư nhân;
+ Đào tạo lao động;
+ Thiết chế pháp lý.
Chỉ số Chất lượng dân số Việt Nam (PQI) được xây dựng phục vụ
Chiến lược phát triển dân số Việt Nam thời kỳ 2010-2020 dựa trên 5 chỉ
số thành phần với 25 chỉ tiêu thống kê mô tả các khía cạnh:
+ Thể chất và sức khoẻ;

23
+ Văn hoá và tinh thần;
+ Giáo dục và trình đ ộ chuyên môn kỹ thuật;
+ Điều kiện sinh hoạt và các dịch vụ xã hội cơ bản;
+ Thu nhập và mức sống.
Chỉ số phát triển giáo viên Việt Nam cũng được Bộ Giáo dục và
Đào tạo thử nghiệm xây dựng với ba chỉ số thành phần là:
+ Chỉ số đào tạo;
+ Chỉ số về chi tiêu tài chính;
+ Chỉ số về tuổi đời;
+ Chỉ số về chất lượng giảng dạy thực tế.
Theo bản chất của HNKTQT, khái niệm và phạm vi của HNKTQT,
chúng ta hoàn toàn có thể đặt vấn đề tính toán chỉ số thống kê tổng hợp
phản ánh HNKTQT của Việt Nam dựa vào ba chỉ số thành phần là:
 Chỉ số xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ;
 Chỉ số xuất nhập khẩu lao động;
 Chỉ số xuất nhập đầu tư trực tiếp nước ngoài.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Việc lựa chọn các chỉ tiêu thống kê, cũng như việc xây dựng chỉ số
tổng hợp phản ánh lĩnh vực hội nhập quốc tế của Việt Nam đã có cơ sở lý

Towards the ASEAN Community, Volume 2: Data and
Metadata (ABR Team Members: Mario B. Lamberte; Heidi R.
Arboleda; Celia M. Reyes), Jakarta: ASEAN Secretariat,
7/2006.

4. Tạp san “Thông tin khoa học Thống kê”, Viện nghiên cứu khoa
học thống kê, Tổng cục Thống kê, số 4 – 2006;

5. Human Development Report, (from 1990 to 2006), UNDP;

6. Chất lượng cuộc sống Ma-lai-xi-a 2004, Nhóm Kế hoạch kinh
tế, Văn phòng Thủ tướng, Ma-lai-xi-a;

7. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X;

8. Luật Thống kê số 04-2003-QH11 được Quốc hội thông qua
ngày 17/6/2003;

9. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 305/2005/QĐ-TTg
ngày 24/11/2005 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê
quốc gia.

10. Ngô Văn Dụ - Hồng Hà - Trần Xuân Giá (Đồng chủ biên), Tìm
hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status