CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ TÁC
ĐỘNG CỦA VIỆC HỘI NHẬP TỚI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM-
HÀN QUỐC
1.1 - Hội nhập kinh tế - khái niệm và bản chất
1.1.1. Hội nhập kinh tế - vấn đề mang tính khách quan của các nền kinh tế hiện nay
Hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu của nền kinh
tế thế giới, từ thấp đến cao, từ quy mô hẹp đến quy mô ngày càng rộng lớn hơn,
đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, khi quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa và
quốc tế hóa đang diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động mạnh mẽ của
cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Trước đây, tính chất xã hội hóa của quá
trình sản xuất chủ yếu mới lan tỏa bên trong phạm vi biên giới của từng quốc
gia, nó gắn các quá trình sản xuất, kinh doanh riêng rẽ lại với nhau, hình thành
các tập đoàn kinh tế quốc gia và làm xuất hiện phổ biến các loại hình công ty cổ
phần trong nền kinh tế quốc gia. Qua đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đã
có sự thay đổi đáng kể, dần hình thành nên sở hữu hỗn hợp. Từ đó, việc đáp ứng
yêu cầu về quy mô vốn lớn cho sản xuất kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn.
Tình hình này càng đòi hỏi sự tham gia ngày càng lớn của chính phủ các quốc
gia có nền kinh tế phát triển. Bởi lẽ, các quốc gia này là những quốc gia có thế
mạnh về vốn, công nghệ, trình độ quản lý... Ngày nay, một mặt do trình độ phát
triển cao của lực lượng sản xuất làm cho tính chất xã hội hóa của chính nó càng
vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia, lan tỏa sang các quốc gia khu vực và
thế giới nói chung. Mặt khác, tự do hóa thương mại cũng đang trở thành xu
hướng tất yếu, được xem là nhân tố quan trọng thúc đẩy buôn bán giao lưu giữa
các quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống của mọi quốc
gia. Chính vì vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới theo định hướng phát triển
của mình đều điều chỉnh các chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ
bỏ các rào cản thương mại, tạo điều kiện cho việc lưu chuyển các nguồn lực và
hàng hóa tiêu dùng giữa các quốc gia ngày càng thuận lợi hơn, thông thoáng
hơn. Không ngừng đẩy mạnh trao đổi hàng hóa và dịch vụ, mở rộng sự phân
công và hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật... là một
nhu cầu không thể thiếu được của đời sống kinh tế và là một tất yếu khách quan
tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên
có sự ràng buộc theo những quy định chung của khối. Nói một cách khái quát
nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh
tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực
hiện thuận lợi hóa và tự do hóa thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối
ngoại khác.
*Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm giải quyết 6 vấn đề chủ yếu:
Đàm phán cắt giảm thuế quan;
Giảm, loại bỏ hàng rào phi thuế quan;
Giảm bớt các hạn chế đối với dịch vụ;
Giảm bớt các trở ngại đối với đầu tư quốc tế;
Điều chỉnh các chính sách thương mại khác;
Triển khai các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế... có tính chất toàn cầu.
1.1.3. Bản chất của hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập là kết quả chính trị có chủ đích rõ ràng nhằm hình thành một tập
hợp khu vực để thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường cho sản phẩm dịch vụ
nước mình. Do đó Hội nhập là hoạt động chủ quan của con người, ở đây là các
chính phủ, nhằm lợi dụng sức mạnh của thời đại để tăng cường sức mạnh dân
tộc mình. Hội nhập quốc tế trước kia cũng như hiện nay cùng có mục đích
giống nhau là lợi dụng đến mức tối đa sự hợp tác quốc tế để tăng cường sức
mạnh dân tộc. Hội nhập quốc tế ngày nay với toàn cầu hoá tuy là hai quá trình
khác nhau vì hội nhập quốc tế là hành động chủ quan còn toàn cầu hoá là hiện
tượng khách quan nhưng chúng có mối quan hệ thân thiết và phụ thuộc lẫn
nhau. Do vậy, khi tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế cần phải có những bước
đi cụ thể được tính toán cẩn thận, phải xây dựng lộ trình hội nhập phù hợp với
khả năng và lợi ích của dân tộc. Hội nhập giúp chúng ta tìm được chỗ thích hợp
nhất trong con tàu toàn cầu hoá, nhưng mặt khác toàn cầu hoá lại chỉ là con tàu
chỉ chạy một chiều và không đậu lại ở một bến nào cả, nên muốn không bị nhỡ
hoặc bị văng va khỏi con tàu này, tức là tụt hậu thì quá trình hội nhập nói chung
và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng cũng phải khẩn trương và có những quyết
vi địa lý của một quốc gia) thông qua hoạt động mua bán, lấy tiền làm môi gới.
Đây là một trong những hình thức chủ yếu của hoạt động kinh doanh quốc tế.
Trong thập kỷ vừa qua, thương mại đóng vai trò ngày càng tăng đối với
phần lớn các nền kinh tế thế giới. Một chỉ số để đánh giá tầm quan trọng của
thương mại đối với một quốc gia là xem xét tương quan giữa quy mô thương
mại của mỗi nước đối với tổng sản lượng của nước đó. Có những nước trên thế
giới, chẳng hạn như Singapore, chỉ số này lớn hơn 100% (tức là giá trị thương
mại của nước đó đã vượt quá giá trị hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra).
1.2.1.2 Đặc điểm của thương mại quốc tế
Một là, hoạt động thương mại quốc tế diễn ra trên thị trường thế giới, có
thể là thị trường toàn thế giới, thị trường khu vực hay thị trường của nước xuất
khẩu hoặc nước nhập khẩu. ở đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá của
các bên tham gia trao đổi.
Hai là, các bên tham gia thương mại quốc tế là những người khác quốc gia,
có thể là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể hoặc tư nhân. Mục
đích tham gia buôn bán quốc tế của họ là có lợi trong việc trao đổi. Cái lợi trong
việc buôn bán quốc tế tư nhân là lợi nhuận có được do việc mua rẻ và bán đắt.
Ba là, hàng hoá trao đổi trong thương mại quốc tế là hàng hoá vật chất,
hàng hoá dịch vụ… Trao đổi quốc tế về hàng hoá vật chất gọi là thương mại
hàng hoá quốc tế, ở phạm vi một quốc gia gọi là ngoại thương. Hàng hoá vật
chất là những hàng hóa tồn tại dưới dạng vật chất, định lượng được, dự trữ được
như hàng hoá lương thực thực phẩm và phi lương thực thực phẩm. Trong trao
đổi, người mua và người bán mua bán với nhau quyền sở hữu và sử dụng hàng
hoá. Do có sự cách biệt về địa lý, hàng hoá vật chất có sự di chuyển qua biên
giới từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Cùng với các nghiệp vụ mua, bán
hàng hoá có cả dịch vụ kèm theo như: vận chuyển, bảo quản, bảo hành, bảo
hiểm, thanh toán quốc tế…
Trao đổi quốc tế về hàng hoá và dịch vụ gọi là thương mại dịch vụ quốc tế,
ở phạm vi một quốc gia gọi là dịch vụ thu ngoại tệ. Hàng hoá dịch vụ là những
hàng hoá tồn tại dưới dạng phi vật chất, khó định lượng được, không dự trữ
gia tăng nhanh chóng của thương mại phi hàng hoá tạo ra nguồn thu ngoại tệ
lớn cho các nước đặc biệt là đối với các nước phát triển. Nếu thế kỷ XIX, xuất
khẩu hàng hoá chiếm vị trí bao trùm thì trong thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản ngày
càng nổi trội: tổng số vốn đầu tư ra nước ngoài tăng nhanh. Năm 1990, đầu tư
quốc tế trực tiếp (FDI) đạt 151 tỷ USD, năm 1999 đạt 865 tỷ USD.
Ba là, thương mại quốc tế phát triển lôi cuốn tất cả các quốc gia đều tham
gia, nhưng cũng tập trung chủ yếu vào các nước công nghiệp phát triển. Những
thập kỷ gần đây, trong xu thế phát triển của kinh tế thế giới - toàn cầu hoá và
"mở cửa kinh tế" quốc gia, các nước trên thế giới không thể phát triển kinh tế
riêng rẽ được, phải có hoạt động kinh tế với nước ngoài. Phát triển thương mại
quốc tế là một trong những định hướng kinh tế được các nước lựa chọn. Ngày
nay, tất cả các nước đều có thương mại quốc tế, song thương mại quốc tế phát
triển chủ yếu tập trung ở các nước công nghiệp phát triển. Hai vấn đề này phản
ánh lực lượng sản xuất của thế giới phát triển đáng kể và tiềm lực kinh tế của
các nước công nghiệp ngày một tăng, ưu thế ngày càng lớn.
Bốn là, các trung tâm thương mại quốc tế đã và đang hình thành. Trên thế
giới có 3 trung tâm kinh tế lớn là Mỹ - Canada, Tây Âu và Đông Bắc á, ngoài ra
còn các khối, ASEAN, Trung Mỹ, Tây Phi… đã và đang hình thành. Nhìn
chung, các trung tâm, từng khối kinh tế đang và ngày càng hoàn thiện, tận dụng
các mối quan hệ thuận lợi của nhau về địa lý, tính văn hoá dân tộc, về lợi ích,
khắc phục các mâu thuẫn, bất đồng, tăng cường đoàn kết, nhằm phát triển kinh
tế và thương mại, mở rộng quan hệ kinh tế với các trung tâm, các khối bên
ngoài để cùng phát triển.
1.2.1.3 Vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển kinh tế
- Thương mại quốc tế có vai trò rất quan trọng trong phát triển và tăng trưởng
kinh tế. Xuất nhập khẩu có mối quan hệ nhân quả tới tăng trưởng kinh tế. (1),
(2), (3), (4) Giáo trình kinh tế phát triển, trang 303, 305. Mối quan hệ này được
thể hiện ở các khía cạnh: Xuất khẩu cho phép khai thác được các lợi thế so sánh,
hiệu quả kinh tế theo qui mô, thực hiện chuyên môn hoá sản xuất; nhập khẩu bổ
sung được hàng hoá, dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng; xuất nhập
“Đầu tư trực tiếp ám chỉ số đầu tư được thực hiện để thu lợi ích lâu dài
cho một hãng hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư,
mục đích của nhà đầu tư là dành được tiếng nói có hiệu quả trong công việc
quản lí đó”.Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về FDI. Theo luật
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi, ban hành ngày 12/11/1996 tại điều 2
chương I:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đưa
vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến hành hoạtđộng đầu
tư theo quy định của luật này”.
Bộ luật tự do hoá chu chuyển vốn do tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
(OECD) ban hành thì lại nhấn mạnh về mục tiêu của FDI theo đó “ FDI được
hiểu là các loại đầu tư nhằm tạo ra quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh
nghiệp ”.
Xét dưới góc độ vốn đầu tư, FDI lại được nhận xét là “ một loại hình di
chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp
quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Cũng có ý kiến khác nhau cho
rằng “đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư
nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho
phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư”. Có thể
nói mỗi nhà kinh tế định nghĩa về FDI theo một cách khác nhau tuỳ theo khía
cạnh mà họ tiếp xúc.
Như vậy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm về
FDI, song từ những khái niệm trên có thể đưa ra một khái niệm tổng quát nhất,
đó là:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn để tạo
lập cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư. Trong đó, nhà đầu tư
nước ngoài có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tư và
giữ quyền quản lí, điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích
thu được lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở tuân theo quy định
của luật đầu tư nước ngoài của nước sở tại.