Những ưu nhược điểm của phương pháp lập bảng cân đối lương thực của FAO và các nước trong khu vực khi áp dụng cho việt lập bảng cân đối lương thực ở Việt Nam - Pdf 24


1
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VỤ TK NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THỦY SẢN

CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC

NHỮNG ƢU, NHƢỢC ĐIỂM CỦA PHƢƠNG PHÁP LẬP BẢNG CÂN ĐỐI
LƢƠNG THỰC CỦA FAO VÀ CÁC NƢỚC TRONG KHU VỰC KHI ÁP
DỤNG CHO VIỆC LẬP BẢNG CÂN ĐỐI LƢƠNG THỰC Ở VIỆT NAM

Thuộc đề tài:
“Nghiên cứu nội dung và phương pháp lập bảng cân đối
lương thực ở Việt Nam”
đoạn 2010 – 2015 ở Việt Nam. 11
I. Các yếu tố cần thiết khi tính bảng cân đối, những ƣu nhƣợc điểm khi áp
dụng tại Việt Nam 11
1. Các yếu tố 11
(1). Sản lƣợng: 11
(2). Thay đổi tồn kho: 11
(3) Yếu tố về xuất, nhập khẩu: 12
(4). Thức ăn cho chăn nuôi: 13
(5). Sản phẩm chế biến 13
(6). Giống 13
(7). Thông tin về hao hụt 14
(8). Sử dụng khác 14
(9). Để ăn 14
(10). Cung cấp bình quân đầu ngƣời 15
2. Nguyên nhân của những ƣu và nhƣợc điểm trên 16
II. Một số đề xuất lập bảng cân đối lƣơng thực trong giai đoạn 2010 – 2015
ở Việt Nam 16
1. Về sản phẩm 17
2. Mẫu bảng cân đối lƣơng thực và quy trình tính 17
3. Kỳ báo cáo trong biên soạn bảng cân đối: 18
4. Các chỉ tiêu tính toán 18

3
Phần I. Sự cần thiết của việc lập bảng cân đối lương thực ở Việt Nam
Sản phẩm lƣơng thực (lúa gạo, ngô, kê, mì mạch,…) chủ yếu dùng làm
nguồn lƣơng thực cho con ngƣời, ngoài ra còn đƣợc dùng làm thức ăn cho chăn
nuôi và là nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp chế biến, …, phần dƣ lại
có thể đƣợc dùng xuất khẩu, thu ngoại tệ cho nền kinh tế.
Việt Nam có gần 10 triệu hộ tham gia sản xuất lƣơng thực (là hộ có sử
dụng đất trồng lúa) (số liệu Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản

dụng ngắn vì vậy vấn đề cân đối lƣơng thực cũng đặt ra khoảng thời gian để chu
chuyển sản phẩm.
Ở các nƣớc có sản xuất lƣơng thực, cân đối lƣơng thực (cân đối giữa sản
xuất, tiêu dùng, xuất (nhập) khẩu…. vẫn đƣợc thực hiện hàng năm, là một chỉ
tiêu quan trọng để tính tổng mức chu chuyển, phục vụ tính các cân đối lớn của
nền kinh tế; ngoài ra còn để kiểm định các chỉ tiêu về sản xuất, tiêu dùng.
Vấn đề nghiên cứu về cân đối lƣơng thực đã đƣợc Tổng cục Thống kê
nghiên cứu và triển khai những năm trƣớc đây, chủ yếu để giúp cho tính toán
cân đối sản lƣợng, phục vụ việc giao kế hoạch sản xuất cho các địa phƣơng,
ngành kinh tế và phục vụ cho việc tính chi phí trung gian và giá trị tăng thêm
của ngành nông lâm nghiệp và thủy sản.
Trong thực tiễn hiện nay, bƣớc sang nền kinh tế thị trƣờng, các nhà kế
hoạch, các nhà chính sách cũng rất cần các cân đối về một số sản phẩm quan
trọng của nền kinh tế, trong đó cân đối lƣơng thực.
Trong chuyên đề này, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu phƣơng pháp lập
bảng cân đối lƣơng thực do FAO khuyến cáo, cũng nhƣ nghiên cứu kinh nghiệm
lập bảng cân đối của các nƣớc, nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu, triển
khai lập bảng cân đối lƣơng thực phù hợp với đặc điểm của nền sản xuất của
Việt Nam trong những năm tiếp theo.

5
Phần II. Những ưu, nhược điểm của phương pháp lập bảng cân đối lương
thực của FAO và các nước trong khu vực khi áp dụng cho việc lập bảng cân
đối lương thực ở Việt Nam.

I. Phương pháp lập bảng cân đối lương thực của FAO.
Tổ chức Nông lƣơng Liên hợp quốc (FAO) rất quan tâm đến việc tăng
cƣờng dinh dƣỡng và các điều kiện sống cho con ngƣời. Để giúp cho việc lập
chính sách thực hiện mục tiêu đó và cần phải có các thông tin sau:
- Số lƣợng và loại lƣơng thực có sẵn cho tiêu dùng ở mỗi nƣớc;


1. Yêu cầu khi tính bảng cân đối lương thực
Theo FAO, bảng cân đối lƣơng thực đƣợc biên soạn từ nhiều nguồn khác
nhau. Sự thiếu chính xác và sai số có thể gặp phải trong mỗi công đoạn xây
dựng bảng cân đối. Một cách lý tƣởng, số liệu cơ bản cần để biên soạn bảng cân
đối lƣơng thực phải lấy từ cùng một nguồn. Điều này ngụ ý rằng, thứ nhất, mỗi
quốc gia phải nên có 1 hệ thống thống kê toàn diện ghi lại tất cả những thông tin
hiện hành liên quan đến từng mảng chỉ tiêu trong bảng cân đối lƣơng thực (bắt
đầu từ ngƣời sản xuất đến ngƣời tiêu dùng); thứ hai, khái niệm của thông tin
đƣợc thu thập phải phù hợp với khái niệm dùng trong bảng cân đối; thứ ba,
nguồn thông tin sẵn có phải đồng nhất, ít nhất là về đơn vị tính và thời gian báo
cáo. Tuy nhiên trong thực tế, hệ thống thống kê lý tƣởng nhƣ trên lại không tồn
tại. Thậm chí ở một số nƣớc, chủ yếu là nƣớc phát triển sử dụng những quy trình
báo cáo phức tạp không thông dụng, nên số liệu thu thập thƣờng không đáp ứng
đƣợc yêu cầu thứ hai và thứ ba. Một số thông tin chủ yếu thƣờng dùng có từ
nguồn chủ yếu nhƣ sau:
- Thông tin về sản xuất và thƣơng mại là một phần của thống kê chính
thức quốc gia đang thực hiện. Những thông tin này có thể dựa trên phỏng vấn
trực tiếp hay từ báo cáo hoặc do các cơ quan thống kê tính toán.
- Thông tin về thay đổi tồn kho có đƣợc từ cơ quan quản lý thị trƣờng và
các công ty hoặc từ điều tra tồn kho của hộ nông dân.
- Thông tin về sử dụng trong công nghiệp thu đƣợc từ các cuộc điều
tra/tổng điều tra công nghiệp chế biến/công nghiệp.
- Tỷ lệ lƣơng thực làm thức ăn chăn nuôi và làm giống có đƣợc từ các
cuộc điều tra chi phí sản xuất hay từ tính toán của các cơ quan chính phủ có liên
quan.
- Hao hụt trong chế biến công nghiệp lấy từ điều tra công nghiệp chế biến.

Một số nƣớc đã áp dụng khoảng thời gian 12 tháng, từ tháng 7 đến tháng
6 năm sau, hay từ tháng 10 đến tháng 9 năm sau, hoặc từ tháng 3 đến tháng 4
năm sau để tính bảng cân đối. Tuy vậy, không một khoảng thời gian nào trong
các giai đoạn trên lại bao trùm hoạt động sản xuất của tất cả các sản phẩm nông

8
nghiệp, buôn bán và sử dụng trong nƣớc. Có thể không có một khoảng thời gian
12 tháng nào trong năm lại phù hợp hoàn toàn cho việc ghi chép số liệu về cung
cấp và sử dụng của tất cả sản phẩm trên. Vì vậy, một thời kỳ nhất định theo năm
dƣơng lịch (từ tháng một đến tháng 12) có thể không phải tối ƣu, nhƣng những
ƣu điểm của nó nổi trội hơn: Hầu hết các vụ thu hoạch đều nằm trong đó sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho việc liên kết thống kê nông nghiệp với thống kê công
nghiệp và một số ngành khác trong nền kinh tế.

II. Kinh nghiệm của Philippin
- Danh mục sản phẩm tính cân đối: Bao gồm toàn bộ các sản phẩm trồng
trọt, chăn nuôi, thủy sản, gồm: Gạo, ngô, mía, các sản phẩm cây có củ, cây lấy
lá, cây lấy hạt, dừa, các loại gia súc, gia cầm, trứng, sữa, cá, các sản phẩm thủy
sản khác nhƣ rong biển, nhím biển….
- Bảng cân đối đƣợc lập hàng năm, số liệu đƣợc cân đối và công bố cho 3
năm liên tiếp.
- Phƣơng pháp lập bảng cân đối:
A. Tổng cộng cung cấp trong nƣớc (TDS)
TDS = Sản lƣợng - Thay đổi trong tồn kho + chênh lệch xuất, nhập khẩu
+ Đối với số liệu sản lƣợng, nguồn số liệu từ các cuộc điều tra của cơ
quan thống kê. Những sản phẩm không thu đƣợc từ các cuộc điều tra, có thể tính
sản lƣợng theo xu hƣớng sản xuất, số liệu về nhập, xuất sản phẩm. Tổng điều tra
Nông nghiệp sẽ làm cơ sở cho việc ƣớc tính các thông số cho sản phẩm khác,
nhất là sản phẩm chăm nuôi.
Đối với các sản phẩm chế biến, nguồn số liệu từ các cuộc điều tra cơ sở

điều tra dinh dƣỡng đã đƣợc thực hiện đối với một số mặt hàng từ "có thể mua"
thành "đã sử dụng" ở cấp độ hộ gia đình.
- Tỉ lệ đáp ứng nhu cầu: Là thƣớc đo về sự đáp ứng đầy đủ của nguồn
cung cấp thực phẩm có sẵn cho yêu cầu thực phẩm của ngƣời dân. Đƣợc đo
bằng tỷ lệ phần trăm, nó đƣợc tính bằng cách chia nguồn cung cấp sẵn cho
lƣợng tiêu dùng bình quân nhân với 100. Giá trị lớn hơn 100% chỉ ra rằng việc
cung cấp thức ăn sẵn có nhiều hơn đủ để đáp ứng nhu cầu lƣơng thực của dân
chúng, trong khi giá trị nhỏ hơn 100 % cho thấy điều ngƣợc lại.
- Tốc độ tăng trƣởng trung bình (hàng năm)
Tỷ lệ tăng trƣởng trung bình hàng năm là một thƣớc đo tỷ lệ tăng trƣởng
hàng năm của các yếu tố trong bảng cân đối dựa trên khái niệm về tỷ lệ: 10
Trong đó:
g = tỷ lệ tăng trƣởng trung bình hàng năm
xt = giá trị của tính vào thời gian t
xo = giá trị của tính vào lúc bắt đầu của
thời gian tham khảo
t = năm trôi qua kể từ khi bắt đầu đến kết thúc
của thời kỳ tham chiếu

11
Phần III. Những ưu nhược điểm khi áp dụng phương pháp cân đối lương
thực ở Việt Nam và những đề xuất lập bảng cân đối lượng thực trong giai
đoạn 2010 – 2015 ở Việt Nam.

I. Các yếu tố cần thiết khi tính bảng cân đối, những ưu nhược điểm
khi áp dụng tại Việt Nam
1. Các yếu tố

Đối với Việt Nam, tồn kho có thể có số liệu tồn kho của Chính phủ, tồn
kho trong lƣu thông của một số sản phẩm (khai thác từ doanh nghiệp) nhƣng
chƣa có số liệu về lƣợng tồn kho trong dân.
Cách tính: Số liệu này có thể ƣớc tính trên cơ sở 3 năm theo khuyến cáo
của FAO. Trƣờng hợp tồn kho cũng đƣợc sử dụng để chuyển sản lƣợng từ năm
dƣơng lịch có vụ thu hoạch sang năm chúng đƣợc sử dụng trong nƣớc hay xuất
khẩu.
(3) Yếu tố về xuất, nhập khẩu:
Về khái niệm, phạm vi: Tổng nhập khẩu: Bao gồm tất cả hàng hóa đƣợc
chuyển vào một nƣớc và hàng hóa đã qua chế biến nhƣng không tách riêng trong
bảng cân đối. Do đó hàng nhập khẩu bao gồm hàng hóa qua buôn bán thƣơng
mại, viện trợ lƣơng thực theo những điều kiện cụ thể, hàng hóa tài trợ và ƣớc
tính hàng hóa nhập khẩu qua đƣờng tiểu ngạch.
Tổng xuất khẩu: Bao gồm tất cả hàng hóa đƣợc đƣa ra khỏi biên giới của
một nƣớc trong một thời kỳ nhất định. Các điều kiện xác định đối với hàng nhập
khẩu cũng đƣợc áp dụng tƣơng tự đối với hàng xuất khẩu.
Thông thƣờng, số liệu về xuất, nhập khẩu hàng hóa chính ngạch đã đƣợc
cơ quan Hải quan thống kê đầy đủ nên về cơ bản số liệu có thể có nguồn từ cơ
quan này. Mặt hàng lƣơng thực xuất nhập khẩu cơ bản đã áp dụng bảng danh
mục mã theo tiêu chuẩn quốc tế. Số liệu về xuất nhập khẩu tiểu ngạch đối với
sản phẩm lƣơng thực hiện nay ở Việt Nam cũng lớn. Theo số liệu của chuyên
gia, lƣợng gạo từ Campuchia xuất tiểu ngạch sang Việt Nam năm 2009 khoảng
3 nghìn tấn; một lƣợng thức ăn gia súc nhất định đã đƣợc nhập từ Trung quốc
trong đó có các thành phần ngô bột;
Về tính chính xác và đầy đủ: Ngoài việc phải tính toán chính xác và đầy
đủ về số liệu xuất, nhập khẩu tiểu ngạch của mặt hàng lƣơng thực, công tác quy
đổi ra sản lƣợng tiêu chuẩn cũng là một vấn đề. Sản lƣợng lƣơng thực xuất khẩu
chủ yếu của Việt Nam là gạo nhƣng có nhiều phẩm cấp nên khi tính toán ngƣợc
cho sản lƣợng thóc cũng cần nghiên cứu các tiêu chuẩn kỹ thuật: tỉ lệ thóc - gạo
(theo thành phần) (5% tấm…), tỉ lệ % của trấu, cám…, tính lƣợng ngô trong

qua các cuộc điều tra chi tiêu lƣơng thực, thực phẩm của hộ gia đình.
(6). Giống
Bao gồm số lƣợng tất cả những sản phẩm dùng làm giống với mục đích
tái sản xuất trong một thời kỳ nhất định, nhƣ hạt giống, bất kể chúng đƣợc sản
xuất trong nƣớc hay nhập khẩu. Nếu không có thông tin chính thức, số liệu về
giống có thể đƣợc tính dựa vào tỉ lệ phần trăm của sản lƣợng hay nhân tỉ lệ làm

14
giống với diện tích gieo trồng của năm sau. Thông thƣờng, lƣợng giống bình
quân cho mỗi hecta gieo trồng thay đổi không nhiều qua các năm.
Thông tin về giống:
- Thu thập qua ƣớc tính kế hoạch gieo cấy cho năm sau để tính lƣợng từng
loại giống sẽ đƣợc sử dụng bình quân cho mỗi hecta;
- Tỉ lệ lƣợng thóc, ngô… để lại làm giống ở hộ gia đình.
(7). Thông tin về hao hụt
Bao gồm số lƣợng sản phẩm mất mát trong quá trình vận chuyển và bảo
quản. không bao gồm mất mát xảy ra trƣớc khi thu hoạch và trong khi thu
hoạch. Những hao hụt về kỹ thuật xảy ra trong quá trình chuyển hóa từ sản
phẩm thô thành sản phẩm đã qua chế biến đƣợc tính đến trong đánh giá về tỉ lệ
thu hồi chuyển đổi tƣơng ứng. Không tính hao hụt những phần có thể ăn đƣợc
hay không ăn đƣợc của sản phẩm tại hộ gia đình.
Thông tin về hao hụt trong chế biến công nghiệp có thể lấy từ các cuộc
điều tra công nghiệp, hao hụt trong lƣu thông có thể lấy từ hao hụt của các
doanh nghiệp thƣơng mại nhƣng hao hụt trong bảo quản sản phẩm tại hộ hoặc
các hao hụt khác thƣờng không có số liệu.
(8). Sử dụng khác
Gồm số lƣợng dùng cho mục đích khác: cho khách du lịch tiêu dùng,
dùng cho công nghiệp chế biến phi lƣơng thực, thực phẩm. Sai số thống kê cũng
đƣợc quy định tính gộp vào đây
Cách tính: Thông thƣờng là số cân đối giữa số liệu nguồn và sử dụng.

bớt tính phụ thuộc vào phƣơng pháp hiệu số hay phƣơng pháp cân đối khi tính
mức lƣơng thực sẵn có, và cho phép xử lý linh hoạt các yếu tố khác khi thông tin
thống kê cơ sở còn yếu.
Đối với Việt Nam, khi tính toán chỉ tiêu trên, cũng theo khuyến nghị của
FAO là thông tin lấy từ điều tra hộ gia đình, có sự tính toán theo mức sẵn có cho
tiêu dùng vì số liệu của điều tra hộ gia đình là số thực tiêu dùng của hộ.
(10). Cung cấp bình quân đầu ngƣời
Kết quả tính toán cho biết chỉ tiêu cung cấp lƣơng thực bình quân đầu
ngƣời sẵn có cho tiêu dùng của dân cƣ trong một thời kỳ nhất định dƣới dạng số
lƣợng, giá trị năng lƣợng, hàm lƣợng protein và chất béo.
Cung cấp lƣơng thực bình quân đầu ngƣời theo số lƣợng, đƣợc tính từ
tổng nguồn cung cấp sẵn có cho tiêu dùng của dân cƣ bằng cách chia số lƣợng
lƣơng thực cho tổng số dân cƣ thực sự tiêu dùng, nghĩa là dân số tự nhiên hiện
có trong biên giới địa lý hiện hành của quốc gia ở giữa thời điểm của một thời
kỳ nhất định. Do đó cƣ dân sống ở nƣớc ngoài trong thời gian trên không tính
nhƣng lại bao gồm ngƣời nƣớc ngoài sống trong nƣớc. Một số điều chỉnh có thể

16
có đối với số dân có mặt hay vắng mặt trong thời gian ngẵn, ví dụ cƣ dân di trú
hay những ngƣời đi du lịch tạm thời, hay những nhóm cƣ dân đặc biệt không
tiêu thụ lƣơng thực nhƣ thổ dân sống trong những điều kiện đặc thù.
Để tính giá trị năng lƣợng, hàm lƣợng protein và chất béo trong cung cấp
lƣơng thực bình quân đầu ngƣời, cần xác định rõ các yếu tố thích hợp cấu thành
lƣơng thực. Yếu tố dinh dƣỡng có thể lấy trực tiếp từ bảng hàm lƣợng dinh
dƣỡng thực phẩm quốc gia (có thể tham khảo bảng của FAO). Vì số liệu của
bảng cân đối lƣơng thực là dựa trên cơ sở “mua “ có nghĩa là lƣơng thực rời
khỏi cửa hàng bán lẻ, hay bằng cách nào đó đi vào hộ gia đình, nên nhất thiết
thành phần dinh dƣỡng trong thực phẩm ăn uống phải đƣợc chuyển đổi theo cơ
sở này. Áp dụng hệ số hao hụt hàm lƣợng dinh dƣỡng trong thực phẩm để tính
chuyển đổi.

Đối với sản phẩm gạo là sản phẩm ở giai đoạn thứ hai của thóc, khi tính
toán có thể chấp nhận quy đổi các sản phẩm ở giai đoạn thóc nhƣ quy đổi lƣợng
gạo xuất khẩu; sản lƣợng dùng cho chế biến, tiêu dùng… ra lƣợng thóc tƣơng
ứng.
2. Mẫu bảng cân đối lương thực và quy trình tính
Theo tổ chức Nông lƣơng Liên hợp quốc, có nhiều mẫu khác nhau đƣợc
phát triển trong nhiều năm vẫn tồn tại và đƣợc sử dụng để xây dựng và trình bày
bảng cân đối lƣơng thực, các nƣớc có thể sử dụng các mẫu khác nhau nhƣng
trong bảng cân đối đều cần có 3 phần:
1. Nguồn ;
2. Sử dụng trong nƣớc ;
3. Bình quân đầu ngƣời.
Bảng cân đối lƣơng thực, thực phẩm
Năm………….
Dân số: …………… ngƣời
Sản
phẩm
Nguồn
Sử dụng trong nƣớc
Cung cấp bình quân đầu ngƣời
Sản
lƣợng
Thay
đổi
tồn
kho
Nhập
khẩu
Xuất
khẩu

gam
Béo/
ngày
Gam

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Thóc

=
Giá trị nhập khẩu
x
100
Sản xuất trong nƣớc + Giá trị nhập khẩu – Giá trị xuất khẩu

(2).Tỉ lệ tự cung tự cấp (SSR)
SSR
=
Sản xuât
x
100
Sản xuất + Nhập khẩu + Xuất khẩu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status