Nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học ở Việt Nam Nguyễn Hoàng Lan. - Pdf 24

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi các nước đang chuyển dần từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào tài nguyên
và vốn, sang nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức, nguồn nhân lực (NNL)
ngày càng đóng vai trò quan trọng. Đây là nhân tố quyết định tăng trưởng
kinh tế và tiến bộ xã hội ở mỗi quốc gia. Trong đội ngũ này, NNL có trình
độ đại học (ĐH) trở lên luôn được coi là bộ phận tiên phong, kéo theo các bộ
phận còn lại và đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế, xã hội của
mỗi quốc gia.
Ở nước ta,theo chuẩn đánh giá kết quả đầu ra của các trường đại học
(ĐH), đa số sinh viên tốt nghiệp (SVTN) đều đạt yêu cầu về kiến thức, kỹ
năng để có thể tham gia vào thị trường lao động, góp phần hình thành đội
ngũ nhân lực trình độ ĐH, phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên,
kết quả các cuộc khảo sát doanh nghiệp (DN) sử dụng lao động trong giai
đoạn từ năm 2002 đến nay, đã cho thấy sự thiếu hụt lớn về kiến thức, kỹ năng
làm việc đối với hầu hết các SVTN. Điều này gây khó khăn đáng kể cho các
DN trong việc tìm kiếm nhân lực có kỹ năng phù hợp và góp phần làm gia
tăng số lao động thất nghiệp có trình độ ĐH.
Điều này đã đặt ra sự cần thiết phải có những nghiên cứu đầy đủ và toàn
diện về chất lượng đào tạo nhân lực nói chung và nhân lực trình độ ĐH nói
riêng để tìm hiểu xem nhân lực trình độ ĐH ở nước ta hiện còn chưa đáp ứng
yêu cầu của các DN ở mức độ nào, ở những kỹ năng nào, có làm cho DN hài
lòng khi sử dụng lao động hay không. Từ đó đề ra các giải pháp để nâng cao
chất lượng NNL đáp ứng nhu cầu của người sử dụng lao động, góp phần phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Xuất phát từ cách nhìn nhận và tầm quan trọng của vấn đề này mà người
nghiên cứu đã lựa chọn vấn đề đánh giá sự hài lòng của DN sử dụng lao động
về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam làm để tài nghiên
cứu của luận án.

DN. Nghiên cứu tập trung vào đánh giá chất lượng của đội ngũ này ở giai
đoạn đầu sau khi đào tạo từ các trường ĐH và vào làm việc trong các DN.
Hai khối ngành được lựa chọn để đánh giá là Kỹ thuật-Công nghệ và Kinh
tế-Quản lý.
5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận án là:
- Phân tích hệ thống, nghiên cứu tổng quan dựa trên các số liệu thống kê
đã được cập nhật
- Phương pháp mô hình hóa và phương pháp chuyên gia
- Phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát thực tế cùng với việc xử lý
số liệu thu được bằng phần mềm SPSS.
6. Những đóng góp mới của luận án
 Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa được các vấn đề lý luận ở trong và ngoài nước về chất lượng
ĐTĐH, chất lượng NNL, từ đó xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá chất
lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam dưới góc độ của các DN
sử dụng lao động.
3

- Tập hợp được kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về đánh giá chất
lượng ĐTĐH, chất lượng NNL và sự hài lòng của người sử dụng lao động,
để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Định lượng vấn đề chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam
dưới góc độ của các DN sử dụng lao động bằng các chỉ số chất lượng.
- Đề xuất ra mô hình đánh giá sự hài lòng của DN về chất lượng đào tạo
nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam.
 Về mặt thực tiễn:
- Luận án đã đánh giá được toàn cảnh về chất lượng ĐTĐH và chất lượng
NNL ở Việt Nam hiện nay.
- Dựa trên bộ tiêu chí và các chỉ số phản ánh chất lượng đề xuất, luận án

dẻo dai), (2) Trí lực (trình độ học vấn, kiến thức, kỹ năng chuyên môn, thái
độ với công việc), (3) Phẩm chất đạo đức, lối sống, quan niệm thẩm mỹ.
Trong chất lượng NNL, yếu tố quan trọng nhất, là trình độ học vấn, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, cũng như các kỹ năng của đội ngũ lao động.
1.1.3. Khái niệm và các thành tố của nguồn nhân lực trình độ ĐH
NNL trình độ ĐH là một bộ phận của NNL trình độ cao, được đào tạo
trong các cơ sở ĐTĐH, ở trình độ ĐH, có năng lực chuyên môn cao, có thể
đảm đương được các công việc phức tạp, yêu cầu cao về trình độ chuyên
môn, có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công
nghệ sản xuất, có khả năng vận dụng sáng tạo các kiến thức, kỹ năng được
đào tạo nhằm đem lại năng suất, hiệu quả cao trong công việc.
Do trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ được hình thành
chủ yếu trong nhà trường, thông qua giáo dục-đào tạo, nên khi đánh giá về
chất lượng NNL nói chung và chất lượng NNL trình độ ĐH nói riêng, người
ta thường quay về đánh giá chất lượng đào tạo ra NNL đó. Việc nâng cao
chất lượng NNL bao giờ cũng bắt đầu từ nâng cao chất lượng đào tạo.
1.2. Chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học
1.2.1. Khái niệm “chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học”
Đào tạo đại học là một loại hình dịch vụ đặc biệt mà ở đó có sự tương
tác rất lớn giữa cơ sở đào tạo, người dạy, người học và người sử dụng lao
động. Sản phẩm đầu ra của các cơ sở đào tạo là nguồn cung cho thị trường
lao động. Cầu về lao động được hình thành từ các cơ quan, tổ chức, DN hoặc
nhu cầu nhập khẩu lao động của thị trường lao động quốc tế.
Về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH, có các quan niệm sau:
- Khái niệm truyền thống: chất lượng là sự hoàn hảo
- Chất lượng là sự phù hợp với tiêu chuẩn (thông số kỹ thuật)
- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích
- Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng: chất lượng phải được
đánh giá thông qua việc người học có được trang bị đầy đủ các kiến
thức, kỹ năng cần thiết để đáp ứng các yêu cầu của người sử dụng lao

trong xã hội hiện đại bao gồm 3 nhóm: (1) Kỹ năng nhận thức, (2) Kỹ năng
kỹ thuật và (3) Kỹ năng xã hội và hành vi.
Trong những năm gần đây, người ta nói nhiều đến các kỹ năng cứng và
kỹ năng “mềm”. Kỹ năng “cứng” được hiểu là kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật.
Các kỹ năng “mềm” vừa là đặc trưng cá nhân, vừa mang tính phổ quát, cần
thiết cho tất cả mọi người, không phụ thuộc vào công việc, ngành nghề như
kỹ năng cứng.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo trình độ ĐH
Luận án không đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp như môi
trường xã hội, chính sách học bổng, tiền lương, …, mà chỉ tập trung vào các
nhân tố có tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH,
bao gồm 6 nhóm: (1) Mục tiêu-chương trình-phương pháp đào tạo, (2) Đội
ngũ giảng viên, (3) Cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính, (4) Chất lượng đầu
vào của sinh viên, (5) Các yếu tố quản lý, (6) Sự tham gia của người sử dụng
lao động.
1.2.4. Mô hình đánh giá chất lượng
6

Để đánh giá chất lượng dịch vụ thường có là một số mô hình nổi bật
như mô hình của Grönroos, mô hình SERVQUAL, mô hình SERVPERF.
Tuy nhiên, 2 mô hình SERVQUAL và SERVPERF chủ yếu được sử dụng
để đánh giá quá trình cung cấp dịch vụ chứ không phải sản phẩm đầu ra của
dịch vụ. Trong lĩnh vực ĐTĐH, khách hàng thụ hưởng trực tiếp dịch vụ chính
là các sinh viên và họ (cùng với các cơ sở đào tạo) mới có đầy đủ thông tin
để có thể đánh giá về chất lượng quá trình đào tạo. Còn DN chỉ là người sử
dụng các sản phẩm đầu ra của ĐTĐH, chứ không phải quá trình đào tạo, nên
xét dưới góc độ này, mô hình của Grönroos là phù hợp nhất. Nó được hình
thành từ việc so sánh giữa cái mà khách hàng kỳ vọng, mong đợi với cảm
nhận thực tế của họ sau khi sử dụng dịch vụ.
1.3. Sự hài lòng của khách hàng về chất lượng đào tạo nhân lực

doanh nghiệp về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ đại học
Các DN có thể đưa ra các nhận định, đánh giá khác nhau về chất lượng
đào tạo nhân lực trình độ ĐH và sự hài lòng của họ, tùy thuộc vào các nhân
tố ảnh hưởng đến việc đánh giá. Có thể chia thành 2 nhóm:
(1) Nhóm nhân tố liên quan đến DN đưa ra đánh giá, bao gồm: địa bàn hoạt
động, loại hình DN, lĩnh vực hoạt động, quy mô nhân lực, tỷ lệ cán bộ
có trình độ ĐH.
(2) Nhóm nhân tố liên quan đến đối tượng được đánh giá, bao gồm khối
ngành đào tạo của SVTN, loại hình đào tạo, loại hình trường và uy tín
của cơ sở đào tạo.
1.3.4. Các mô hình đánh giá sự hài lòng về chất lượng
Các mô hình đánh giá sự hài lòng không chỉ dừng lại ở việc đánh giá
chất lượng mà còn tiến xa hơn nữa trong việc đánh giá mối quan hệ giữa chất
lượng với sự hài lòng. Các mô hình này nghiên cứu khái niệm sự hài lòng
của khách hàng trong mối liên kết, tác động với một số khái niệm khác có
liên quan như chất lượng, giá trị, sự phàn nàn, sự trung thành, điển hình là
mô hình “Kỳ vọng – Cảm nhận” của Oliver, mô hình chỉ số hài lòng của
khách hàng – CSI.

Chương 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực trình độ đại học ở Việt Nam
2.1.1. Quy mô và cơ cấu nhân lực trình độ ĐH những năm gần đây
Ở nước ta, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn rất thấp, chưa đến 20%
trong lực lượng lao động và có xu hướng giảm dần qua giai đoạn từ 2007
(đạt 17,7%) đến 2012 (đạt 16,8%). Trong các trình độ đào tạo, chỉ có trình
độ từ ĐH trở lên là tăng liên tục qua các năm, từ 4,9% năm 2007 lên đến
6,4% năm 2012. Các trình độ khác đều giảm, đặc biệt là đào tạo nghề và
trung cấp chuyên nghiệp.

đã đưa ra nhận định rằng các DN và người sử dụng lao động ở Việt Nam vẫn
đang phải vất vả tìm những người lao động phù hợp với mình vì các ứng viên
không có kỹ năng phù hợp (“thiếu hụt kỹ năng”) hoặc vì sự khan hiếm người
lao động trong một số ngành nghề (“thiếu hụt người lao động có tay nghề”).
2.1.4. Mối quan hệ giữa chất lượng nguồn nhân lực trình độ đại học
với năng suất lao động và năng lực cạnh tranh
Chất lượng NNL, đặc biệt là chất lượng NNL trình độ ĐH, là một trong
những yếu tố tác động lớn nhất tới năng suất lao động và năng lực cạnh tranh.
Do chất lượng đào tạo thấp, do thiếu hụt lao động có kỹ năng, nên năng suất
lao động của Việt Nam thấp so với hầu hết các nước trong khu vực. Theo
Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2013-2014 của Diễn đàn kinh tế thế
giới, chỉ số về ĐTĐH nước ta mới chỉ đạt 3,69/7 điểm, xếp hạng 95/148 quốc
gia, còn chỉ số về năng lực cạnh tranh toàn cầu thì ở mức 4,18/7 điểm và xếp
hạng 70/148.
2.2. Thực trạng đào tạo đại học ở Việt Nam
9

2.2.1. Quy mô và cơ cấu đào tạo
Trong hơn một thập niên vừa qua, quy mô ĐTĐH đã tăng lên một cách
đáng kể, cả về số trường ĐH-CĐ lẫn số sinh viên. Tuy nhiên, mạng lưới các
trường ĐH-CĐ lại phân bổ chưa hợp lý, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng
sông Hồng và miền Đông Nam Bộ. Riêng tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh,
có tới 40% trường ĐH-CĐ với gần 70% sinh viên của cả nước theo học.
Về cơ cấu ngành nghề đào tạo, ít có sự thay đổi rõ rệt theo những yêu
cầu đặt ra trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đòi hỏi của thị trường
lao động. Có khoảng 50% số sinh viên các trường theo học nhóm ngành kinh
tế-thương mại-pháp lý và ngành sư phạm. Số sinh viên theo học các ngành
có liên quan trực tiếp đến sản xuất (kỹ thuật, công nghệ, xây dựng, giao
thông, …) chỉ chiếm khoảng 20%-25%.
2.2.2. Chất lượng đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng

Tuy nhiên, những thay đổi này mới chỉ là bước đầu và chưa mang tính
phổ biến, cơ bản. Theo ý kiến của chuyên gia và phản hồi từ DN, chương
trình đào tạo ở các trường ĐH-CĐ ở nước ta nhìn chung còn cứng nhắc, thiếu
tính liên thông, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành và rèn luyện kỹ năng.
Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy ở các trường ĐH nhìn chung còn
lạc hậu, kém hiệu quả, vẫn thiên về truyền đạt kiến thức, chưa coi trọng đúng
mức việc dạy phương pháp tư duy. Ít có sự tương tác giữa sinh viên và giảng
viên. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho đào tạo và nghiên cứu còn
nghèo nàn, lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu mà việc đổi mới nội dung,
chương trình và phương pháp đào tạo đặt ra.
c) Quản lý giáo dục đại học
Trong thời gian vừa qua, cũng đã có một số chuyển biến theo hướng
tích cực trong quản lý GDĐH. Điểm nổi bật là nâng cao tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của các trường trước xã hội và Nhà nước. Tuy nhiên, những đổi
mới này vẫn chưa nhiều, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập làm ảnh hưởng đến
chất lượng đào tạo và sự phát triển của toàn hệ thống. Việc kiểm định chất
lượng đào tạo, một trong những giải pháp cơ bản để đảm bảo và nâng cao
chất lượng, vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
2.2.3. Thực trạng liên kết đại học-doanh nghiệp ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các trường ĐH đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện các
chủ trương của Đảng và Nhà nước về tăng cường liên kết ĐH-DN và đã đạt
được các kết quả đáng ghi nhận trong thời gian qua.
Mặc dù vậy, xét về tổng thể, liên kết ĐH-DN ở nước ta hiện nay vẫn
còn ở trình độ khá thấp, chưa đáp ứng được mong đợi của cả 2 bên và yêu
cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Sự yếu kém trong liên kết ĐH-DN
ở Việt Nam đã được Ngân hàng Thế giới đánh giá qua chỉ số phản ánh cường
độ liên kết ĐH-DN, theo đó, nước ta mới chỉ đạt 3,2/7 điểm và được xếp vào
nhóm các nước có liên kết yếu ở khu vực Đông Á.
2.3. Tình hình việc làm của sinh viên tốt nghiệp và dự báo cung
cầu nhân lực trình độ đại học đến năm 2020

DOANH NGHIỆP VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC
TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
3.1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
3.1.1. Căn cứ xây dựng mô hình
Luận án xây dựng mô hình đánh giá tổng hợp dựa trên việc áp dụng mô
hình “Kỳ vọng-Cảm nhận” của Oliver, mô hình chỉ số hài lòng của khách
hàng CSI trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm đầu ra của ĐTĐH.
Theo mô hình đề xuất, DN sử dụng lao động sẽ so sánh giữa những kỳ
vọng, mong đợi của họ với các kiến thức, kỹ năng thực tế mà SVTN thể hiện
ra trong công việc, để từ đó có được đánh giá về chất lượng đào tạo. Nếu
cảm nhận thực tế trùng hoặc lớn hơn kỳ vọng thì DN sẽ hài lòng. Nếu cảm
nhận thực tế mà nhỏ hơn kỳ vọng thì DN sẽ không hài lòng.
Bên cạnh đó, thông qua các cuộc trao đổi với các cán bộ làm công tác
nhân sự tại các DN, trong luận án có đưa thêm một nhân tố có khả năng ảnh
hưởng đến sự hài lòng của DN khi sử dụng lao động vào mô hình nghiên
12

(-)
(+)
cứu. Đó chính là thời gian đáp ứng yêu cầu công việc. Kết quả luận án đã đề
xuất mô hình đánh giá sự hài lòng của DN như sau:

Sự hài lòng
Chất lượng
cảm nhận
Thời gian đáp ứng công việc
13

 Thu thập, phân tích một số thông tin từ các nguồn khác như các yêu cầu
tuyển dụng lao động, các ý kiến của DN tại hội nghị, hội thảo và trên
các phương tiện thông tin đại chúng;
 Tham vấn ý kiến đóng góp của của một số cán bộ quản lý DN.
3.2.2. Bộ tiêu chí đề xuất của luận án
Gồm 22 tiêu chí kỹ năng, được chia thành 3 nhóm:
- (a) Kỹ năng kỹ thuật: phản ánh các kỹ năng liên quan đến chuyên môn
của một nghề cụ thể, bao gồm cả các kiến thức lý thuyết, thực hành và
các kỹ năng có liên quan đến chuyên môn của một nghề nghiệp nhất
định. Nó bao gồm 5 tiêu chí: (1) kiến thức chuyên ngành, (2) khả năng
ứng dụng kiến thức chuyên ngành vào thực tế, (3) khả năng cập nhật
kiến thức mới, (4) kỹ năng công nghệ thông tin, (5) trình độ ngoại ngữ.
- (b) Kỹ năng nhận thức: phản ánh khả năng giải quyết vấn đề một cách
bản năng so với việc sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề, gồm 8 tiêu
chí: (6) năng lực nghiên cứu, sáng tạo, (7) khả năng tư duy logic, (8)
năng lực tổ chức, điều hành công việc, (9) khả năng ra quyết định (10)
khả năng phân tích, phản biện, (11) khả năng quản lý thời gian, (12) tính
ham học hỏi và khả năng tự học, (13) hiểu biết về môi trường DN.
- (c) Kỹ năng xã hội và hành vi: phản ánh các kỹ năng mềm, kỹ năng xã
hội, kỹ năng sống, đặc điểm tính cách. Nó bao gồm 9 tiêu chí: (14) kỹ
năng giao tiếp và ứng xử, (15) ) tính kỷ luật trong công việc, (16) kỹ
năng làm việc theo nhóm, (17) kỹ năng thuyết trình, (18) kỹ năng đàm
phán, (19) khả năng chịu áp lực công việc, (20) khả năng thích nghi với
những thay đổi, (21) kỹ năng kiểm soát bản thân, (22) thái độ tích cực

không có trọng số. Trọng số này sẽ do bản thân các DN đánh giá dựa trên
cảm nhận thực tế của họ về mức độ quan trọng của các kỹ năng so với yêu
cầu của công việc. Khi đó:
Chất lượng = (Cảm nhận thực tế–Mong đợi) x Trọng số tầm quan trọng
3.3.3. Chỉ số mức độ đáp ứng chất lượng so với mong đợi (R)
Các chỉ số chất lượng trên mới chỉ phản ánh được mức chất lượng của
việc đào tạo nhân lực trình độ ĐH về mặt số tuyệt đối, chứ chưa phản ánh
được mức chất lượng về số tương đối. Để phán ánh chất lượng đáp ứng được
ở mức độ nào so với mong đợi đặt ra, luận án sẽ đi vào tính toán chỉ số mức
độ đáp ứng chất lượng so với mong đợi (Responsiveness):
Mức độ đáp ứng chất lượng
so với mong đợi (R) (%)
=
Chất lượng (Q)
x
100%
Mong đợi (E)
3.4. Xây dựng các giả thuyết của mô hình
3.4.1. Xây dựng các giả thuyết về mối quan hệ giữa chất lượng, thời
gian đáp ứng công việc với sự hài lòng
Nhóm giả thuyết về mối quan hệ giữa Chất lượng và Sự hài lòng:
(H1): Chất lượng cảm nhận về các kỹ năng của SVTN có tác động cùng chiều
đến Sự hài lòng về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH.
Giả thuyết (H1) này bao gồm các giả thuyết nhỏ sau:
 (H1a):Chất lượng cảm nhận về kỹ năng kỹ thuật có tác động cùng chiều
đến Sự hài lòng về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH.
 (H1b): Chất lượng cảm nhận về kỹ năng nhận thức có tác động cùng
chiều đến Sự hài lòng về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH.
 (H1c): Chất lượng cảm nhận về kỹ năng xã hội và hành vi có tác động
cùng chiều đến Sự hài lòng về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH.

Quản lý (H8)
3.5. Phương pháp nghiên cứu
3.5.1. Mô tả phương pháp
Luận án đã sử dụng phương pháp điều tra-khảo sát với 2 bước: nghiên
cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Nghiên cứu định tính (trao đổi, xin ý kiến chuyên gia và cán bộ quản lý
ở DN) dùng để khám phá, điều chỉnh các tiêu chí phản ánh các kỹ năng mà
SVTN cần phải có để có thể đáp ứng yêu cầu của công việc được giao.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng cách phát Phiếu khảo sát cho
các DN sử dụng lao động. Đối tượng được hỏi ý kiến là các cán bộ quản lý
hoặc các cán bộ phụ trách bộ phận nhân sự của DN.
3.5.2. Xác định kích thước mẫu
Theo phần mềm The Survey System, với mức độ tin cậy 95% và khoảng
tin cậy 5%, với tổng thể khoảng 312.642 DN đang hoạt động thì kích thước
mẫu cần thiết sẽ phải là 384 mẫu. Về phương pháp chọn mẫu, luận án đã lựa
chọn mẫu theo phương pháp phân tầng và thuận tiện. Kết quả có 386 DN
(trong đó có 5 Tập đoàn, 17 Tổng công ty và một số DN FDI) có phản hồi
và đảm bảo đủ tính đại diện để có thể đưa vào tiến hành phân tích.
3.5.3. Công cụ thu thập và xử lý dữ liệu:
Phiếu khảo sát gồm 15 mục hỏi. Phần đánh giá của các DN về các kỹ
năng và thời gian đáp ứng công việc của SVTN được tách riêng cho 2 khối
ngành Kỹ thuật-Công nghệ và Kinh tế-Quản lý.
Việc xử lý số liệu khảo sát được thực hiện bằng phần mềm SPSS version
18.0 (PASW 18.0).
16

Chương 4
THỬ NGHIỆM VÀ VẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ SỰ
HÀI LÒNG CỦA DOANH NGHIỆP VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO
TẠO NHÂN LỰC TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

Nhóm Kỹ năng kỹ thuật có sự thiếu hụt về chất lượng nhiều nhất so với yêu
cầu. Chỉ số chất lượng tổng thể của khối Kinh tế-Quản lý thấp hơn khối Kỹ
thuật-Công nghệ.
17
Hình 4.6a: Mức độ đáp ứng chất lượng so với
mong đợi – Khối Kỹ thuật-Công nghệ (%)
Hình 4.6b: Mức độ đáp ứng
chất lượng so với mong đợi-
Khối Kinh tế-Quản lý (%)
4.2.4. Kiểm định giá trị thang đo chất lượng qua phân tích EFA
Để khẳng định các thang đo về chất lượng có giá trị thống kê, trong
luận án đã tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor
Analysis). Kết quả cho thấy, sau phân tích EFA, các kiểm định Barlett và
KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) của các biến chất lượng có trọng số của cả 2
khối ngành đều thỏa mãn các điều kiện:
- KMO nằm trong mức cho phép [0,5, 1]: với khối Kỹ thuật-Công nghệ
KMO = 0,805, với khối Kinh tế-Quản lý = 0,813, tức là phân tích nhân
tố là thích hợp.
- Kiểm định Barlett đều có sig.=0,000 <0,05, tức là các các biến có tương
quan với nhau trong tổng thể.
Với hệ số tải nhân tố >0,4 và tổng phương sai trích đều >50%, trong
22 tiêu chí đề xuất, có 1 tiêu chí là “Hiểu biết về môi trường DN” là không
phù hợp, cần được loại bỏ. Khi đó, chỉ còn lại 21 tiêu chí kỹ năng phù hợp
và có giá trị về mặt thống kê, được xếp vào 3 nhóm (Bảng 4.5).
-15,38
-37,04
-17,79

Khả năng tự học
Hiểu biết về môi trường DN
Kỹ năng giao tiếp, ứng xử
Tính kỷ luật
Kỹ năng làm việc nhóm
Kỹ năng thuyết trình
Kỹ năng đàm phán
Khả năng chịu áp lực
Khả năng thích nghi
Kỹ năng kiểm soát bản thân
Thái độ tích cực với tổ chức
-22,43
-35,66
-22,53
-18,09
-21,24
-18,82
-20,83
-13,95
-12,81
-6,92
-13,08
-12,62
-11,82
-9,23
-15,03
-15,01
-11,81
-15,82
-10,71

(8 tiêu chí)
14. Kỹ năng làm việc theo nhóm
15. Kỹ năng đàm phán
16. Khả năng phân tích, phản biện
17. Tính kỷ luật trong công việc
18. Khả năng ra quyết định
19. Kỹ năng thuyết trình
20. Kỹ năng giao tiếp và ứng xử
21. Khả năng quản lý thời gian
4.3. Đánh giá chi tiết các chỉ số chất lượng sau phân tích EFA
4.3.1. Tính toán các chỉ số chất lượng nhóm và tổng thể sau EFA
Do bớt đi 1 tiêu chí và có một số tiêu chí được đổi nhóm, chỉ số chất
lượng của nhóm và của tổng thể đã được tính toán lại như trong bảng 4.6.
Bảng 4.6: Các chỉ sô chất lượng có điều chỉnh sau phân tích EFA
Nhóm
Khối Kỹ thuật-Công nghệ
Khối Kinh tế-Quản lý
Q
(điểm)
Q trọng
số (điểm)
R (%)
Q
(điểm
)
Q trọng
số (điểm)
R (%)
Kỹ năng kỹ thuật
-,85

4.3.2. Phân tích chi tiết các chỉ số chất lượng
4.3.2.1. Theo nhóm các tiêu chí
Bảng 4.7: 3 tiêu chí kỹ năng bị đánh giá thấp nhất trong mỗi nhóm
STT
Khối Kỹ thuật-Công nghệ

STT
Khối Kinh tế-Quản lý
Nhóm Kỹ năng kỹ thuật

Nhóm Kỹ năng kỹ thuật
1.
Khả năng ứng dụng kiến thức
chuyên ngành vào thực tế

1.
Khả năng ứng dụng kiến thức
chuyên ngành vào thực tế
2.
Trình độ ngoại ngữ

2.
Kiến thức chuyên ngành
3.
Khả năng tư duy logic

3.
Khả năng cập nhật kiến thức
Nhóm Kỹ năng nhận thức


Kỹ năng giao tiếp, ứng xử

3.
Kỹ năng làm việc nhóm
4.3.2.2. Theo địa phương
Các DN ở Hà Nội thường có đánh giá chất lượng thấp hơn các DN ở
các địa phương khác, đặc biệt là so với các DN ở miền Trung và Nam Bộ.
4.3.2.3. Theo loại hình doanh nghiệp
Các DN FDI đánh giá chất lượng thấp nhất, tiếp đó, đến các DNNN.
4.3.2.4. Theo lĩnh vực hoạt động
Các DN trong lĩnh vực điện tử viễn thông-công nghệ thông tin (ĐTVT-
CNTT) có đánh giá chất lượng thấp hơn các DN thuộc các lĩnh vực khác như
sản xuất-chế biến-xây dựng (SX-CB-XD) và thương mại-dịch vụ-vận tải
(TM-DV-VT).
4.3.2.5. Theo quy mô nhân lực
Các DN có quy mô trên 200 người thường đánh giá chất lượng thấp nhất.
4.3.2.6. Theo tỷ lệ cán bộ có trình độ ĐH
Các DN tỷ lệ này từ 30% trở lên thường có đánh giá chất lượng thấp nhất.
4.4. Đánh giá sự hài lòng về chất lượng và các thông tin bổ sung
4.4.1. Đánh giá sự hài lòng về chất lượng
Nếu tính trên thang điểm 5 thì sự hài lòng của các DN về chất lượng đào
tạo nhân lực trình độ ĐH đều nằm ở giữa mức “Bình thường” và “Hài lòng”.
Phân tích chi tiết hơn cho thấy khoảng gần 50% số mẫu đánh giá sự hài lòng
ở mức độ “Bình thường”. Các DN có cảm giác hài lòng với chất lượng đào
tạo khoảng trên 40%. Số còn lại, rất ít tỏ ra rất hài lòng hoặc chưa hài lòng.
20

Mặt khác, DN hài lòng về chất lượng đào tạo khối ngành Kỹ thuật-Công
nghệ (3,49 điểm) hơn là khối ngành Kinh tế-Quản lý (3,41 điểm).
4.4.2. Các thông tin bổ sung

thuật (H1a)
Chấp nhận
H1a
Chấp
nhận
H1
Đối với nhóm Kỹ năng nhận
thức (H1b)
Chấp nhận
H1b
Đối với nhóm Kỹ năng XH
và hành vi (H1c)
Chấp nhận
H1c
Đối với tổng thể các kỹ năng
(H1d)
Chấp nhận
H1d
Đối với kỹ năng quan trọng
nhất (H1e)
Chấp nhận
H1e
H2
Quan hệ tương quan không cùng chiều giữa thời
gian đáp ứng công việc và sự hài lòng
Chấp nhận H2
4.5.2. Các giả thuyết về sự khác biệt trong đánh giá sự hài lòng về
chất lượng
21


• Các DNNN và các DN FDI đánh
giá chất lượng và sự hài lòng thấp
hơn Cty TNHH và DN tư nhân
• Không có sự khác biệt trong
đánh giá chất lượng và sự hài
lòng
Theo lĩnh
vực hoạt
động
• Có sự khác biệt trong đánh giá
chất lượng và sự hài lòng giữa
các DN ĐTVT-CNTT với các
DN SX-CB-XD và với các DN
TM-DV-VT
• Các DN ĐTVT-CNTT đánh giá
chất lượng và sự hài lòng thấp
hơn các DN SX-CB-XD và các
DN TM-DV-VT.
• Chỉ có sự khác biệt trong đánh
giá chất lượng giữa các DN
SX-CB-XD với các DN
ĐTVT-CNTT, nhưng không
có sự khác biệt trong đánh giá
sự hài lòng.
• Các DN ĐTVT-CNTT đánh
giá chất lượng thấp hơn các
DN SX-CB-XD
Theo quy
mô nhân
lực

lệ này dưới 20%
Theo khối
ngành
• Có sự khác biệt trong đánh giá chất lượng và sự hài lòng
• Chất lượng và sự hài lòng đối với SVTN khối Kinh tế-Quản lý được
đánh giá thấp hơn khối Kỹ thuật-Công nghệ.
4.6. Kết luận chung về mô hình
Mô hình nghiên cứu đã định lượng được các chỉ số đánh giá chất lượng
đào tạo nhân lực trình độ ĐH, đồng thời kiểm định được các giả thuyết về
mối quan hệ giữa các nhân tố đến chất lượng và sự hài lòng, cũng như kiểm
định được sự khác biệt trong đánh giá chất lượng và sự hài lòng giữa các DN
sử dụng lao động.

Chương 5
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
5.1.1. Kết quả nghiên cứu
 Luận án đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận về chất lượng và sự hài
lòng của khách hàng để vận dụng vào nghiên cứu đánh giá mức độ hài
lòng của DN về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH. Trong luận án
cũng đã tập hợp kinh nghiệm của các nước trong việc đánh giá chất lượng
đào tạo và sự hài lòng của người sử dụng lao động, từ đó rút ra được các
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Đây là những cơ sở lý luận quan
trọng để tác giả tham khảo khi xây dựng mô hình nghiên cứu của luận
án và đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân
lực trình độ ĐH và sự hài lòng của DN sử dụng lao động.
 Luận án đã phân tích một cách cụ thể thực trạng nhân lực trình độ ĐH
của các DN hiện nay và trong tương lai, đồng thời đưa ra đánh giá tổng
quát về chất lượng đào tạo ĐH dưới các góc nhìn khác nhau (cơ sở đào
tạo, cơ quan quản lý, DN và những người sử dụng lao động khác). Luận

như đề xuất ban đầu là: nhóm kỹ năng kỹ thuật, nhóm kỹ năng nhận
thức và nhóm kỹ năng xã hội và hành vi.
 Kết quả thu được ở chương 3 và chương 4, cùng với việc phân tích thực
trạng ở chương 2 là căn cứ để tác giả luận án đưa ra các khuyến nghị,
đề xuất với Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường ĐH, các DN
về một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH
đáp ứng nhu cầu của DN nói riêng và của thị trường lao động nói chung.
5.1.2. Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu trên đây vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa có ý
nghĩa thực tiễn. Nó góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về đánh giá chất
lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH cũng như mối quan hệ giữa chất lượng
với sự hài lòng của DN sử dụng lao động và sự khác biệt trong đánh giá chất
lượng và sự hài lòng của DN theo các nhân tố ảnh hưởng khác nhau. Các tiêu
chí và giả thuyết đưa ra trong mô hình đánh giá là hợp lý, đảm bảo tính khoa
học và khả thi. Vì vậy, mô hình này có thể áp dụng để đánh giá mức độ hài
lòng của DN về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH ở Việt Nam.

24

5.2. Một số khuyến nghị
Để nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực trình độ ĐH đáp ứng yêu cầu
của DN và qua đó nâng cao sự hài lòng của DN sử dụng lao động, cần phải
có những đổi mới hoặc cải cách mạnh mẽ mà trọng tâm là đổi mới nội dung,
chương đào tạo và đảm bảo các điều kiện để thực hiện thành công sự đổi mới
đó. Việc này đòi hỏi sự tham gia tích cực của các bên có liên quan: Nhà nước,
cở sở đào tạo, DN, người học và người lao động làm việc trong DN. Chính
vì vậy, luận án đã đưa ra một số khuyến nghị cụ thể như sau:
5.2.1. Đối với Chính phủ
- Xây dựng, ban hành các quy định liên quan đến chất lượng đào tạo
- Đổi mới cơ chế tài chính, tăng phần hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status