Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Yên Bái giai đoạn 1986 đến 2012 - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

ĐOÀN PHƢƠNG HOA

ĐOÀN PHƢƠNG HOA

ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
VÀO TỈNH YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 1986- 2012 Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60.22.03.13 LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

TRƢỞNG KHOA CHUYÊN MÔN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

ii
-
.
.
.
,
đ
.
8 năm 2014
luận văn

1.1.1 Khái niệm FDI 9
1.1.2 Tình hình thu hút FDI ở Việt Nam 12
1.2.3 Quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. 16
Yên Bái 19
1.1.1 Vị trí đị 19
1.2.2 Có t 23
1.2.3. Có điều kiện phát triển - 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

iv
1.2.4. Có c thu hút 26
Chƣơng 2. TÌNH HÌNH ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI FDI Ở
YÊN BÁI GIAI ĐOẠN 1986-2012 30
30
35
38
44
Chƣơng 3. -
ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI (1986- 2012) 57
57
. 57
. 63
66
70
. 70
. 71
3.2. 74
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

TNHH

UBND
Ủy ban nhân dân
USD
Đô la Mỹ
VNĐ
WTO XHCN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Lợi thế của doanh nghiệp FDI so với doanh nghiệp nước tiếp nhận
đầu tư 12
. 20
Bảng 2.1 Cơ cấu vốn đầu tư FDI phân theo đối tác 34
Bảng 2.2 So sánh vốn đăng FDI của Yên Bái trong vùng Tây Bắc 34
2.3 Kết quả phân chia các dự án FDI theo lĩnh vực đầu tư 37
Bảng 2.4 Cơ cấu vốn FDI theo hình thức đầu tư 40
Bảng 2.5 Cơ cấu vốn FDI loại hình đầu tư 41
Bảng 2.6 Quy mô trung bình một dự án FDI. 47

càng phát triển nền kinh tế Việt Nam. Đây là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt
Nam với kinh tế thế giới, thúc đẩy phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ và tạo
điều kiện để Việt Nam chủ động hội nhập ngày càng sâu hơn vào đời sống kinh tế
thế giới. Đặc biệt đầu tư nước ngoài đã góp phần thay đổi cục diện, gương mặt và
đời sống kinh tế, xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhiều địa phương từ một
tỉnh thuần nông trở thành tỉnh công nghiệp phát triển năng động và hiệu quả.
Yên Bái là một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam nằm sâu trong nội địa,
cách xa Hà Nội, Hải Phòng, các cửa khẩu và các vùng trọng điểm phát triển
kinh tế, có điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy
nhiên, Yên Bái có khó khăn hơn các tỉnh vùng đồng bằng, ngân sách địa
phương mới chỉ đáp ứng được 20% - 30% nhu cầu chi thường xuyên còn lại do
Trung ương hỗ trợ tính đến năm 2010. Dân số toàn tỉnh có 749.145 người
nhưng có gần 50% là đồng bào các dân tộc thiểu số (trong đó: dân tộc Kinh
49,6%, Tày 18,6%, Dao 10,3%, H’Mông 8,9%, Thái 6,7%, các dân tộc khác:
Mường, Nùng, Cao La 2% dân số), kinh tế chậm
phát triển, trình độ dân trí thấp và không đồng đều. Vùng cao Yên Bái trải rộng
trên 7 huyện với 70 xã chiếm 64,4% diện tích và 30,2% dân số toàn tỉnh. Phát
triển kinh tế - xã hội vùng cao nói chung và Yên Bái nói riêng đòi hỏi phải có
sự cố gắng nỗ lực rất lớn của địa phương và sự hỗ trợ của Nhà nước, của các tổ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

2
chức Quốc tế cả về đời sống, sản xuất, giải quyết việc làm, các vấn đề xã hội và
xây dựng cơ sở hạ tầng.
Do vậy, trong gần 30 năm thực hiện Đổi mới, tỉnh Yên Bái đã đạt được
những thành tựu quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Tốc độ tăng
trưởng kinh tế Yên Bái đạt khá cao, GDP bình quân 9%/năm. Đời sống người dân
được cải thiện đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu kinh tế - xã hội
trên là nguồn lực, một nhân tố quyết định được khơi dậy nhờ các chính sách đổi

trọng điểm và chưa hướng mạnh vào các thị trường đối tác có tiềm lực tài
chính. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài còn
những mặt yếu kém, vừa có hiện tượng buông lỏng, vừa can thiệp quá sâu vào
hoạt động của doanh nghiệp, một số thủ tục hành chính còn phiền hà dẫn đến
tiêu cực, nhũng nhiễu của một số người thừa hành công vụ.
chọn đề tài Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI vào
Yên Bái giai đoạn 1986- 2012 làm Luận văn Thạc sĩ.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về FDI ở Việt Nam. Loại này bao gồm:
Thứ nhất là các công trình nghiên cứu của cơ quan trực tiếp quản lí
đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Năm 1996, bộ Kế hoạch và
Đầu tư xuất bản c Một số vấn đề mới về FDI tại Việt Nam. Trên cơ sở
nêu lên một số văn bản hướng dẫn hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư
nước ngoài FDI tại Việt Nam, công trình cho thấy thực trạng hương hướng
hoạt động của FDI trong thời kì Đổi mới.
Kể từ khi Luật Đầu tư ra đời (năm 1987) đến nay, đầu tư nước ngoài đã
góp phần tích cực trong việc thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
lao động theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hóa. Khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài. Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đang ngày càng khẳng
định vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tạo nguồn vốn bổ sung
thiết yếu vào tổng vốn đầu tư của toàn xã hội, góp phần cải thiện cán cân thanh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

4
toán, đồng thời tăng cường năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ của nhiều
ngành kinh tế, khai thông thị trường sản phẩm, gia tăng kim ngạch xuất khẩu
hàng hóa, đóng góp cho ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho bộ phận lao

tiếp nước ngoài bắt đầu được đưa vào Việt Nam, trở thành một động lực vô
cùng quan trọng cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất nước.
như Đầu tư trực tiếp nước ngoài
tiềm năng quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam
4 năm 2002. Bài viết Những loại hình đầu tư trực tiếp
nước ngoài tại Khu vực Đông Á - Đông Nam Á và kinh nghiệm thu hút vốn
FDI của một số quốc gia, tác giả Trà Ngọc Phong trên Tạp chí Kinh tế và
phát triển số 85 năm 2004. Sách tham khảo Thu hút đầu tư trực tiếp của
các công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam, của tác giả Hoàng Thị Bích
Loan, chủ biên (2008), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Tác giả cho ta
thấy toàn cảnh bức tranh của TNCs trong dòng lưu chuyển vốn FDI toàn
cầu, chiến lược đầu tư trực tiếp của các TNCs, thực trạng đầu tư trực tiếp
của TNCs vào Việt Nam.
Thứ đến là các công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ở tỉnh Yên
Bái. Công trình có giá trị về mặt khoa học trước hết là Luận án Tiến sĩ của
NCS Nguyễn Văn Ngọc Chiến lược Marketing địa phương với việc thu hút đầu
tư phát triển kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái. Tác giả nêu lên thực trạng việc
Marketing địa phương thu hút đầu tư nước ngoài, các điểm mạnh điểm yếu của
tỉnh Yên Bái trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn nước ngoài từ đó đề ra các
chiến lược thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên, tác
giả chưa đề cập sâu đến vấn đề thu hút nguồn vốn FDI trên địa bàn tỉnh Yên Bái
và mới chỉ dừng lại ở góc độ tiếp cận trên quan điểm marketing đươi góc độ
nghiên cứu kinh tế.
Yên Bái tiềm năng và cơ hội đầu tư đăng trên Tạp chí
Tổng quan Kinh tế - Xã hội Việt Nam Số 1 năm 2010, tác giả
phân tích mặt mạnh, mặt yếu trong thu hút đầu tư trực t

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

6

7
3.2 Phạm vi
Đề tài tập trung làm rõ tình hình đầu tư trực tiếp của FDI vào Yên Bái
trên các mặt vốn đăng ký, quy mô vốn đầu tư, tình hình thực hiện vốn FDI, lĩnh
vực đầu tư, địa bàn đầu tư, hình thức đầu tư và đối tác đầu tư trong giai đoạn
1986- 2012.
3.3. Nhiệm vụ
- Khái quát đầu từ trực tiếp nước ngoài điều
kiện thu hút đầu tư FDI ở tỉnh Yên Bái.
- Thực trạng quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn
tỉnh Yên Bái. Từ đó, phân tích đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài
ở tỉnh Yên đầu tư trực tiếp nước ngoài với kinh tế
xã hội tỉnh Yên Bái 1986- 2012.
3.4. Mục đích
Làm rõ tình hình thực tế quá trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
trên địa bàn tỉnh Yên Bái đầu tư trực tiếp
nước ngoài với kinh tế xã hội tỉnh Yên Bái 1986- 2012.
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
ba . Thø
nhất là các công trình khoa học của các tác giả trong nước đã công bố, xuất bản
bao gồm các sách chuyên khảo, giáo trình, luận án và các bài viết đăng trên tạp
chí hoặc in trong hội thảo khoa học. Thứ hai là các tài liệu địa phương bao gồm
liệu C
Lao T
. Đồng thời để
trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH YÊN BÁI
9

Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI
TẠI VIỆT NAM

1.1. Việt Nam
1.1.1 Khái niệm FDI
FDI (Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu
tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch
vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu
tư. Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp là: các chủ đầu tư nước ngoài
phải đóng góp một số vốn tối thiểu hoặc tối đa tuỳ thuộc theo quy định
chung của Luật đầu tư từng nước. Luật đầu tư của Việt Nam quy định "số
vốn đóng góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định
của dự án [100, tr.32-33]. Trong khi đó ở Hàn Quốc, tối đa bên phía nước
ngoài góp 40% vốn pháp định. Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc độ
góp vốn của chủ đầu tư trong vốn pháp định. Nếu góp 100% vốn pháp định
thì nhà đầu tư toàn quyền quyết định sự hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện dưới hình thức đóng góp
vốn để xây dựng xí nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần xí nghiệp
đang hoạt động, mua cổ phần để thôn tính hoặc sáp nhập.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện từ thời tiền tư bản. Các công ty của
Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha là những công ty đi đầu trong lĩnh

dựng được cơ sở kinh doanh nằm trong lòng các nước thực thi chính sách bảo hộ
mậu dịch. Đầu tư trực tiếp cho phép các chủ đầu tư tham dự trực tiếp kiểm soát và
điều hành doanh nghiệp mà họ bỏ vốn theo hướng có lợi nhất cho chủ đầu tư.
Thông qua hoạt động trực tiếp đầu tư các nhà đầu tư nước ngoài tham dự vào quá
trình giám sát và đóng góp việc thực thi chính sách mở cửa kinh tế theo cam kết
thương mại và đầu tư song phương và đa phương của các chủ nhà. 11
Theo Lênin, thông qua xuất khẩu tư bản, các nước tư bản thực hiện việc
bóc lột đối với các nước lạc hậu và thường là thuộc địa của nó. Nhưng cũng
chính Lênin khi đưa ra chính sách Kinh tế mới đã nói rằng Những người cộng
sản phải biết lợi dụng những thành tựu kinh tế và khoa học kỹ thuật của chủ
nghĩa tư bản thông qua hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước. Theo quan điểm
này nhiều nước đã chấp nhận phần nào sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản để phát
triển kinh tế như: khai thác vốn của từng chủ đầu tư nước ngoài. Nhiều nước
thiếu vốn trầm trọng nên đối với hình thức đầu tư trực tiếp không quy định mức
đóng góp tối đa của mỗi chủ đầu tư, thậm chí đóng góp vốn càng nhiều thì càng
được hưởng những chính sách ưu đãi về thuế của nước chủ nhà. FDI giúp tiếp thu
công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các chủ đầu tư nước
ngoài. Nhờ đó FDI cho phép nước chủ nhà có điều kiện khai thác tốt nhất những
lợi thế của mình về tài nguyên, vị trí, mặt đất, mặt nước Sự cạnh tranh, ganh đua
giữa các nhà đầu tư có vốn trong nước và nước ngoài tạo động lực kích thích sự
đổi mới và hoàn thiện trong các nhà doanh nghiệp và đâu là nhân tố quan trọng
đưa nền kinh tế phát triển với tốc độ cao. Các dự án FDI góp phần giải quyết việc
làm và nâng cao mức sống của người lao động. Với những ưu điểm trên FDI giúp
cho các nước tiếp nhận phát triển kinh tế nhanh hơn tự thân vận động hay đi vay
vốn để mua lại kỹ thuật của các nước công nghiệp phát triển.
Mặt khác, mức độ bóc lột của các nước tư bản còn tuỳ thuộc vào điều
kiện kinh tế chính trị của các nước tiếp nhận đầu tư tư bản. Nếu như trước đây

vật liệu
Có những ưu đãi trong việc tìm kiếm và mua nguyên vật
liệu phục vụ cho quá trình sản xuất
Thoả thuận
với Chính phủ
Có khả năng đàm phán thoả thuận để được hưởng những
ưu đãi từ phía Chính phủ của nước tiếp nhận đầu tư
Nguồn: Cục đầu tư trực tiếp nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư( 2012)
Như vậy, hiểu một cách chung nhất thì Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) chính là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp
một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp
tham gia điều hành quá trình sử dụng số vốn mà họ đầu tư. Theo luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là việc nhà đầu
tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến
hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật pháp Việt Nam.
1.1.2 Tình hình thu hút FDI ở Việt Nam
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kể từ khi ban hành Luật Đầu tư
nước ngoài (12/1987) đến hết tháng 12/2012, trên địa bàn cả nước đã thu hút
được 10.669 dự án đầu tư nước ngoài (chỉ tính dự án còn hiệu lực), với tổng
vốn đầu tư đạt trên 69,1 tỷ USD. 13
Về tốc độ thu hút vốn đầu tư: Theo số liệu tổng hợp tình hình thực hiện
đầu tư trực tiếp nước ngoài của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, thời kỳ
1988-1990 nước ta chỉ thu hút được 214 dự án với tổng vốn đăng ký là 1,582
tỷ USD. Do đây là giai đoạn khởi đầu nên số dự án trong thời gian này chưa
nhiều, mức tăng trưởng vốn đầu tư còn chậm.
Nếu như thời kỳ 1988-1990 được coi là giai đoạn khởi đầu thì thời kỳ
1991-1995 được đánh giá là giai đoạn tăng trưởng nhanh và thay đổi về chất

vẫn còn hạn chế và còn chậm so với một số nước trong khu vực nhất là chi phí
đầu vào cao, luật pháp chính sách còn đang hoàn thiện và đôi khi chưa nhất
quán, thủ tục còn phiền hà, dịch vụ hành chính công chưa hiệu quả đã làm
cho môi trường đầu tư của ta trở nên kém hấp dẫn. Ngoài ra, đây còn là hệ quả
của việc cạnh tranh mạnh mẽ nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các nước
xung quanh trong khu vực, nhất là Trung Quốc sau khi đã gia nhập WTO. Như
vậy, 12 năm 2012
.
Về ngành nghề thu hút đầu tư, nhìn chung, các dự án đầu tư nước ngoài
tập trung đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất với tổng số
2.431 dự án và trên 45,7194 tỷ USD (chiếm 66,26% về số dự án đầu tư và trên
56,67% về vốn đầu tư đăng ký). Trong đó, công nghiệp nặng là 995 dự án,
công nghiệp nhẹ là 975 dự án, xây dựng là 242 dự án, công nghiệp thực phẩm
là 190 dự án và công nghiệp dầu khí là 29 dự án. Kế đến là lĩnh vực dịch vụ với
754 dự án đầu tư, thu hút trên 14,52 tỷ USD vốn đầu tư (chiếm 20,55% số dự
án và trên 37,14% số vốn đăng ký đầu tư). Lĩnh vực nông - lâm - nghiệp thu
hút ít dự án đầu tư nhất, chỉ có 484 dự án với số vốn 2,42 tỷ USD (chiếm
13,19% số dự án và chỉ chiếm 6,19% tổng vốn đăng ký).
Về hình thức đầu tư, các dự án đầu tư nước ngoài tập trung nhiều vào
hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài với 2.417 dự án, vốn đăng ký là 14,2 15
tỷ USD (chiếm 65,88% tổng số dự án đầu tư và 36,32% tổng vốn đăng ký
đầu tư). Trong khi đó, hình thức liên doanh có 1.089 dự án, chiếm 29,68% số
dự án nhưng số vốn đăng ký đạt cao nhất là 19,699 tỷ USD, chiếm trên
50,37% tổng vốn đầu tư. Còn lại hình thức BOT và hình thức hợp đồng hợp
tác kinh doanh chỉ có 163 dự án đầu tư (chiếm 4,44% số dự án) và chỉ chiếm
13,31% vốn đăng ký đầu tư.
Về tình hình thu hút vốn đầu tư theo địa phương, đến thời điểm cuối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status