Thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động Marketing sản phẩm xuất khẩu của Tổng công ty Rau quả Việt Nam sang thị trường Liên Bang Nga - Pdf 24

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có sự thay đổi
nhanh chóng, các hoạt động kinh tế trên nhiều lĩnh vực phát triển mạnh nhờ
vào sự quản lý điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Đặc biệt, trong lĩnh vực quan
hệ đối ngoại, chúng ta đã có những bước tiến hết sức lạc quan, hàng hoá của
ta xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Điều này góp phần tăng thu nhập
ngoại tệ cho đất nước và thúc đẩy hoạt động nhập khẩu vật tư máy móc thiết
bị xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại
hoá và phục vụ cho tái sản xuất.
Rau, hoa, quả là cây có giá trị cao của nền nông nghiệp Việt Nam,
đồng thời có giá trị với nền văn hoá, xã hội và môi trường sinh thái của đất
nước. Tiềm năng sản xuất rau, hoa, quả là một trong các mảng tài nguyên
nông nghiệp Việt Nam – phát triển rau, hoa, quả là khai thác một nguồn lợi
có giá trị của đất nước và đáp ứng được nhu cầu thiết yếu ngày càng tăng
của đời sống nhân dân. Rau, hoa, quả của nước ta được trồng rất sớm từ mấy
ngàn năm nay trong quá trình phát triển nông nghiêp. Điều kiện tự nhiên cho
phép nước ta trồng được nhiều loại rau quả nhiệt đới, á nhiệt đới và một số
rau quả gốc ôn đới, vụ mùa thu hoạch kế tiếp nhau nhiều tháng trong năm.
Việt Nam còn là một trong các vùng phát triển của các cây ăn quả như: cam,
quýt, vải, chuối,… và có nguồn gen di truyền thực vật phong phú, đa dạng
về cây ăn quả, rau, gia vị và hoa…
Thấy được lợi thế của ngành rau quả, trong những năm qua Đảng và
Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của ngành. Được
sự giúp đỡ và chỉ đạo trực tiếp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,
Tổng công ty Rau quả Việt Nam đã phát huy toàn bộ khả năng sản xuất của
mình cũng như hoạt động kinh doanh để không ngừng mở rộng thị trường,
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thúc đẩy hoạt động xuất khẩu các sản phẩm rau quả sang nhiều nước trên thế
giới và hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho.

Công ty kinh doanh quốc tế Việt Nam nói chung và Tổng công ty Rau quả
Việt Nam nói riêng.
Giới hạn và phạm vi nghiên cứu.
Do hạn chế về thời gian, điều kiện năng lực nghiên cứu và hơn nữa đề
tài chứa đựng nội dung nghiên cứu phức tạp nên tôi tập trung nghiên cứu đề
tài này trên giác độ tiếp cận môn Quản trị Marketing và Marketing Quốc tế,
với giới hạn về nội dung được xác định trong phần I của bài báo cáo thực
tập chuyên đề.
Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành tốt các mục tiêu nghiên cứu trên, tôi đã áp dụng hai
phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp nghiên cứu tài liệu, nắm bắt
rõ những cơ sở lý luận, tiền đề của đề tài và phương pháp nghiên cứu trực
tiếp tại hiện trường, thấy được việc áp dụng cơ sở lý luận vào thực tiễn ở
Tổng công ty Rau quả Việt Nam.

Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
I. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC HOẠT
ĐỘNG MARKETING CỦA CÔNG TY KINH DOANH QUỐC TẾ
1. Tự do hoá thương mại toàn cầu, những thời cơ và thách thức
đối với doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Việt Nam.
Trong hai thập kỷ vừa qua, nền kinh tế đã biến đổi rất cơ bản. sự xuất
hiện máy fax, các hệ thống nối mạng máy tính, điện thoại toàn cầu và
chương trình truyền hình qua vệ tinh đi khắp thế giới…, đang ngày càng
khẳng định những ảnh hưởng có tính quyết định, đa dạng của xu hướng toàn
cầu hoá. Toàn cầu hoá “là hiện tượng đa phương diện áp dụng cho nhiều
hình thức hoạt động xã hội đa dạng như kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật,
quân sự và công nghệ cũng như các vấn đề hoạt động xã hội, như môi
trường”.
Một trong những nội dung của toàn cầu hoá là vấn đề tự do hoá

- Những thành tựu kỳ diệu về khoa học công nghệ mở ra những khả
năng vô tận cho sản xuất và cuộc sống cho con người. Tham gia vào nền
kinh tế toàn cầu là điều kiện của các công ty kinh doanh quốc tế Việt Nam
tận dụng những thành tựu này và phát triển chính năng lực của mình, khẳng
định vị trí xứng đáng trên thị trường quốc tế.
- Ngoài việc ký kết các hiệp định thương mại với các nước tạo thị
trường cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, chúng ta tiến hành thành lập các
cơ quan xúc tiến thương mại nhằm cung cấp cho các nhà sản xuất trong
nước những thông tin đầy đủ về thị trường xuất khẩu. Những trung tâm này
luôn làm nhiệm vụ nghiên cứu và tư vấn cho các doanh nghiệp trong nước
về thị trường xuất khẩu.
- Như vậy, Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới nhờ sự tham
gia vào sự phân công và hợp tác quốc tế, sẽ mở rộng thị trường nước ngoài,
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng của Việt Nam có lợi thế so sánh và nâng
cao lợi thế cạnh tranh các sản phẩm của thị trường trên thế giới.
1.2. Những thách thức
Bên cạnh những thời cơ, những thách thức đối với doanh nghiệp
kinh doanh quốc tế Việt Nam là một bài toán đang cần được giải đáp.
- Việt Nam chỉ mới bắt đầu tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, do
vậy nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới rất dễ xảy ra.
Hiện nay năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất thấp
trên đấu trường quốc tế, bởi các nhân tố ảnh hưởng: chất lượng sản phẩm
còn hạn chế, giá thành sản phẩm cao, trình độ cán bộ không đồng đều, việc
áp dụng công nghệ vào sản xuất còn mới mẻ…
- Quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế còn đang tiến hành trong yêu
cầu hội nhập gay gắt, làm cho nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, cũng như
gây ảnh hưởng lớn đối với các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế Việt Nam.
- Lợi thế về con người (giá nhân công rẻ, tỷ lệ biết chữ cao) có khả

khả năng khai thác thị trường xuất khẩu trong đặc điểm nhằm nâng cao vai
trò của công ty trên thị trường.
- Phát triển nguồn nhân lực và nhân tài kinh doanh:công ty cần có kế
hoạch đào tạo thường xuyên để bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên
môn của đội ngũ cán bộ công nhân viên.
- Phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật: cần có sự đầu tư hợp lý để nâng
cao năng suất, chất lượng và đảm bảo thời hạn và giao hàng, giữ uy tín
trong kinh doanh.
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nói tóm lại, tự do hoá thương mại toàn cầu là một xu thế tất yếu mà
bất kỳ quốc gia nào trên thế giới hiện nay cũng cần quan tâm đến. Việt
Nam nói chung và các công ty kinh doanh quốc tế nói riêng nhất thiết phải
nắm bắt được những thời cơ cũng như thách thức của mình khi tham gia
vào xu thế này nằm có những phương hướng đổi mới phù hợp, bắt kịp với
thế giới hiện đại và tránh được sự tụt hậu đằng sau, gây nhiều hậu quả xấu.
2. phân tích nội dung cơ bản của tổ chức hoạt động Marketing
xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế
2.1. Khái niệm, bản chất và những đặc trưng cơ bản của
Marketing xuất khẩu
Khái niệm Marketing xuất khẩu
Hiện nay, một trong những vấn đề về quan điểm được tranh luận dai
dẳng trong Marketing là định nghĩa của nó. Thật vậy, đã có rất nhiều định
nghĩa Marketing khác nhau.
- Theo Philip Kotler: Marketing là hoạt động của con người hướng
tới sự thoả mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi.
- Theo hiệp hội Marketing Mỹ: Marketing là quá trình lập kế hoạch
và thực hiện kế hoạch đó, định giá, khuyến mại và phân phối hàng hoá,
dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi với các nhóm mục tiêu, thoả mãn
các mục tiêu của khách hàng và tổ chức.

+ Các khái nhiệm về Marketing, các quá trình, các nguyên lý
Marketing và nhiệm vụ của nhà tiếp thị là giống Marketing nội địa, tuy
nhiên khi xâm nhập vào thị trường nước ngoài, Marketing xuất khẩu
thường gặp phải những rào cản về luật pháp, sự kiểm soát của Chính phủ ở
những nước công ty xâm nhập vào.
+ Nhu cầu thị trường đa dạng hơn.
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Quan điểm về hoạt động kinh doanh ở tong thị trường nước ngoài
là khác nhau, do đó tuỳ tong thị trường mà ta vận dụng các quan điểm
Marketing xuất khẩu phù hợp.
+ Các điều kiện thị trường có thể biến dạng. Đây là đặc điểm khó
nhận biết khác về căn bản so với Marketing nội địa với cùng một sản phẩm,
các điều kiện thị trường có thể khác nhau về cơ bản giữa nước này với
nước khác, thu nhập, cơ cấu tiêu dùng sản phẩm của khách hàng, môi
trường công nghệ, điều kiện văn hoá xã hội và thói quen tiêu dùng, thói
quen tiêu dùng ở cùng một thị trường rất khác nhau. Vì vậy mà sẽ không có
một sản phẩm hay người tiêu dùng duy nhất.
- Mô hình Marketing xuất khẩu: quá trình Marketing xuất khẩu được
khái quát trong mô hình sau:
Mô hình Marketing xuất khẩu
Trong xu thế mới, nếu chỉ làm tốt công việc của mình thì các công ty
không thể sống sót được. Nếu muốn thành công trên thị trường toàn cầu
cạnh tranh ngày càng gay gắt thì họ phải thực hiện công việc của mình một
cách tuyệt hảo. Và Marketing là chức năng của công ty, có nhiệm vụ xác
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 10
Nghiên cứu Marketing xuất khẩu
Lựa chọn thị trường xuất khẩu
Xác định hình thức xuất khẩu
Vận hành và kiểm tra các nỗ lực Marketing xuất khẩu

Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Cung cấp các thông tin để công ty kinh doanh quốc tế tìm kiếm cơ
hội và thị trường mới để xuất khẩu.
- Cung cấp các thông tin để công ty kinh doanh quốc tế lựa chọn thị
trường và mục tiêu.
- Là cơ sở kinh doanh xác lập và triển khai chiến lược các chương
trình Marketing thích ứng với thị trường nước ngoài.
- Giảm bớt và đi đến loại trừ những rủi ro trong kinh doanh quốc tế.
- Cung cấp thông tin dể công ty kinh doanh thích ứng với các hoạt
động Marketing ở nước ngoài.
* Nội dung nghiên cứu Marketing xuất khẩu
- Nghiên cứu nhân tố mang tính toàn cầu, cụ thể là hệ thống thương
mại quốc tế
+ Thuế nhập khẩu: Đó là mức thuế sẽ được áp dụng đối với sản
phẩm mà công ty dự định xuất khẩu.Thuế nhập khẩu không những là nguồn
thu mà quan trọng hơn nó còn là biện pháp bảo hộ của mỗi quốc gia. Bởi
vậy, việc nghiên cứu thuế nhập khẩu là hết sức quan trọng.
+ Hạn nghạch nhập khẩu chung: Nó hạn chế trực tiếp khối lượng vật
lý hoặc (ít thông thường hơn) giá trị của hàng nhập khẩu, thường được sử
dụng bảo hộ sản xuất trong nước đối với cạnh tranh quốc tế.
+ Các tiêu chuẩn chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường:
đây là hàng rào bảo hộ mậu dịch các nước nhập khẩu.
+ Các quy định về kiểm soát ngoại tệ, giấy phép nhập khẩu, thủ tục
hải quan …
- Nghiên cứu các yếu tố thuộc về môi trường kinh tế
+ Mức độ phát triển thị trường: được đánh giá thông qua trình độ
phát triển công nghiệp: Xác định tổng thu nhập quốc nội, thu nhập bình
quân, cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu chỉ tiêu và đầu tư,
cơ cấu xuất nhập khẩu, dự trữ ngoại tệ, giá trị và sự ổn định của đồng tiên,

- Nghiên cứu nhu cầu thị trường nước ngoài.
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Quy mô thị trường sản phẩm: Thể hiện ở chỉ tiêu dân số, số lượng
khách hàng, sức mua, số lượng sản phẩm mà thị trường cần, doanh số bán.
+ Xác định nhu cầu nhập khẩu hàng năm về các loại sản phẩm.
+ Sự biến động của nhu cần thị trường quốc tế .
- Nghiên cứu khách hàng ở thị trường nước ngoài.
Đây là việc nghiên cứu để xác định các loại khách hàng ở nước
ngoài; nghiên cứu tập tính hiện thực và tinh thần cũng như cơ cấu khách
hàng nước ngoài.
- Nghiên cứu Marketing sản phẩm để thích ứng sản phẩm với nhu
cầu nước ngoài bao gồm:
+ Nghiên cứu về chủng loại, kích cỡ, màu sắc, nguyên liệu, các
tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.
+ Nghiên cứu cứu tiêu chuẩn đóng gói bao bì, nhãn mác và nghiên
cứu hoàn thiện sản phẩm.
- Nghiên cứu giá cả ở thị trường nước ngoài nhằm mục tiêu lựa chọn
thị trường xâm nhập, bên cạnh đó là xác định các chính sách giá phù hợp
với điều kiện nước ngoài (như bán buôn bán lẻ…), xu hướng biến động giá
cả.
- Nghiên cứu Marketing phân phối để lựa chọn các kênh phân phối
cũng như các trung gian ở nước ngoài.
+ Nghiên cứu hệ thống phân phối quốc tế và trong nước ở nước
ngoài.
+ Nghiên cứu các trung gian thương mại và hệ thống bán lẻ ở nước
ngoài.
- Nghiên cứu Marketing xúc tiến thương mại quốc tế để xác lạp triển
khai xúc tiến thương mại quốc tế. Đây là việc nghiên cứu:
+ Tập tính trong thu thập thông tin đại chúng.

ngoài, họ cần những số liệu tin cậy để làm cơ sở cho những quyết định và
kế hoạch Marketing. Họ cần biết quy mô tiềm ẩn của một thị trường nước
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngoài, thái độ và sở thích của người mua, những đặc điểm của các kênh
phân phối và những thông tin khác. Họ không thể cứ đơn giản nhảy vào thị
trường nước ngoài rồi bán sản phẩm và dịch vụ của mình theo cách giống
như ở trong nước.
Phân tích khả năng xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế.
Khả năng xuất khẩu của công ty kinh doanh quốc tế phụ thuộc vào
rất nhiều nhân tố, ở đây nó bao gồm cả nhân tố chủ quan và khách quan.
Nó được xem xét trên một số chỉ tiêu chính:
- Sản phẩm xuất khẩu: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu có ý nghĩa rất
lớn đối với các công ty, sản phẩm xuất khẩu càng đa dạng thì công ty càng
có điềukiện để xâm nhập vào nhiều loại thị trường khác nhau. Ngoài ra
việc đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu sẽ giúp công ty có thể lựa chọn những
mặt hàng có ưu thế về giá cả và chủng loại.
- Khả năng sản xuất: Yếu tố này quyết định việc công ty có duy trì
được hoạt động xuất khẩu của mình hay không.
- Chi phí hoạt động sản xuất: mục tiêu chính của công ty là lợi
nhuận. Chi phí sản xuất có ảnh hưởng đến việc định giá cả xuất khẩu của
công ty, nên yếu tố rất được coi trọng. Nếu công ty đưa ra một mức giá hợp
lý thì sẽ làm tăng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, từ đó làm tăng khả
năng xuất khẩu của công ty và ngược lại.
- Khả năng tài chính: Đây là nhân tố then chốt quyết định đến khả
năng xuất khẩu là phải có một số vốn lớn, nên khả năng tài chính tốt sẽ có
điều kiện thực hiện những hợp đồng xuất khẩu lớn, tạo được uy tín và dễ
thu được lợi nhuận cao.
- Khả năng tham gia trên thị trường quốc tế: xuất phát từ những đặc
điểm kinh doanh của công ty kinh doanh quốc tế là luôn luôn hướng tới thị

• Khoảng cách từ quốc gia mình đến các quốc gia nhập khẩu.
• Điều kiện giao thông vận tải, khí hậu địa hình.
+ Dân số:
• Phân bố dân số theo độ tuổi.
• Phân bố dân số theo lãnh thổ.
+ Kinh tế: Xem xét GNP, tốc độ tăng trưởng.
+ Sự phát triển: Khoa học kỹ thuật, công nghệ và khả năng ứng
dụng.
- Nhóm tiêu chuẩn về quy chế tiền tệ:
+ Các hàng rào bảo hộ mậu dịch:Thuế nhập khẩu, giấy phép nhập
khẩu, giấy chứng nhận an toàn đối voứi hàng hoá xuất nhập khẩu.
+ Tình hình tiền tệ: lạm phát, diễn biến của tỷ giá hối đoái.
- Nhóm tiêu chuẩn thương mại:
+ Quy mô và tính năng động của thị trường.
+ Có nhu cầu về sản phẩm của công ty.
+ Mức độ cạnh tranh.
Đây là những tiêu chuẩn lựa chọn căn bản của công ty kinh doanh
quốc tế.Tuỳ thuộc đặc điểm, nguồn lực của từng công ty mà họ lựa chọn
tiêu chuẩn nào là quan trọng nhất.
* Phương pháp lựa chọn thị trường xuất khẩu.
Lựa chọn thị trường xuất khẩu cho hoạt động quốc tế hoá công ty là
khâu khởi đầu đầy khó khăn quyết định sự thành công trong tương lai của
công ty. Khi lựa chọn thị trường xuất khẩu, có thể có hai phương pháp khác
nhau là thụ động và chủ động.
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Phương pháp thụ động: Là phương pháp chọn thị trường nước
ngoài trên cơ sở dôưn đặt hàng của thị trường nước ngoài, Phương pháp
này dùng chủ yếu cho các công ty vừa và nhỏ với một chút hoặc không có
kinh nghiệm. Với các công ty lớn hơn, đôi khi cũng có thể áp dụng trong

ngoài.
Khi xuất khẩu theo hình thức này,công ty không gặp phải rủi ro đối
với hoạt động xuất khẩu và không phải mất nhiều thời gian cho nó. Như
vậy,xuất khẩu này thường phù hợp với các công ty mà mục tiêu mở rộng
thị trường nước ngoài hạn chế. Bên cạnh đó nó còn những lợi thế như:đòi
hỏi ít vốn đầu tư, công ty không phải tổ chức một phòng xuất khẩu, một lực
lượng bán hàng ở hải ngoại, hoặc một loạt các các cuộc tiếp xúc với nước
ngoài, tốc độ chu chuyển vốn nhanh.
Tuy nhiên xuất khẩu gián tiếp có nhược điểm là không nắm bắt được
nhu cầu thị hiếu và sự thay đổi của chúng ở thị trường nước ngoài do đó
công ty không làm sản phẩm thích ứng với sự thay đổi đó;không thiết lập
và củng cố được uy tín với khách hàng; phụ thuộc vào trung gian; chỉ hiệu
quả trong các trường hợp :
Thứ nhất: khi công ty xuất khẩu với mục tiêu tiêu thụ các sản phẩm
dư thừa hoặc phát huy hết công xuất của công ty.
Thứ hai: quy mô lô hàng nhỏ.
Thứ ba: nghuồn lực hạn chế (đặc biệt là nhân sự và tài chính).
* Hợp tác xuất khẩu
Với một công ty mong muốn kiểm soát ở mức độ nào đó hoạt động
xuất khẩu nhưng lại hạn chế nguồn lực hoặc khối lượng bán không đủ lớn
ddể thiết lập một bộ phận xuất khẩu thì howpj tác xuất khẩu là sự lựa chọn
thích hợp. Trương trường hợp này, công ty thoả thuận với hợp tác với một
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công ty khác để phối hợp các hoạt động nghiên cứu, xúc tiến thương mại,
vận tải, phân phối và các hoạt động khác liên quan đến thị trường xuất
khẩu.
Một dạng khác của hợp đồng hợp tác xuất khẩu trong Marketing
quốc tế là dựa vào một công ty khác, trong đó một công ty tiếp thị sản
phẩm của mình thông qua tổ chức phân phối của một công ty khác ở thị

chuyển vốn chậm.
Tóm lại, tuỳ từng đặc điểm và khả năng của từng công ty mà họ lựa
chọn hình thức xuất khẩu phù hợp, đem lại hiệu quả kinh doanh tối ưu nhất
cho công ty.
3. Xác lập triển khai Marketing sản phẩm xuất khẩu
3.1. Khái niệm và cấu trúc sản phẩm trên thị trường quốc tế
Sản phẩm là bất cứ cái gì có thể được cung ứng, chào hàng cho một
thị trường nhất định để tạo ra sự chú ý, mua và sử dụng chúng nhằm thoả
mãn một nhu cầu hoặc mong muốn nào đó.
Trên thị trường quốc tế, sản phẩm được hiểu là bất cứ thứ gì mà công
ty kinh doanh chào bán để thoả mãn nhu cầu mong muốn của khách hàng
nước ngoài. Việc nghiên cứu sản phẩm trên thị trường quốc tế chủ yếu là:
- Thành phần cơ bản của hàng hoá: phản ánh giá trị sử dụng của
hàng hoá gồm có sản phẩm cụ thể, các đặc tính sản phẩm và thiết kế, các
đặc tính chức năng và sự cho phép của luật pháp.
- Bao bì đóng gói: ngoài chức năng bảo vệ, bảo quản hàng hoá còn
có chức năng khuyếch trương thành phần cơ bản của sản phẩm và chức
năng cung cấp thông tin (thành phần cấu tạo, nơi sản xuất…). Do đó, công
ty phải xem xét đến sở thích của khách hàng để thiết kế bao bì, hình dáng,
kích thước phù hợp. Bên cạnh đó là trang trí bao bì, nhãn hiệu thương mại,
nhãn hiệu hàng hoá, các thông tin bao bì dảm bảo đúng quy định của pháp
luật.
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Nhãn hiệu hàng hoá: nhãn hiệu thực hiện một số chức năng như
đảm bảo nhận biết được sản phẩm hay hàng hoá, chỉ rõ phẩm cấp của sản
phẩm, mô tả sản phẩm (người sản xuất, nơi sản xuất, ngày sản xuất, nội
dung trong bao bì, cách sử dụng và quy tắc an toàn khi sử dụng), tuyên
truyền sản phẩm bằng những hình vẽ hấp dẫn.
- Các dịch vụ bổ trợ như: bảo hành, cung cấp phụ ting thay thế,

và dễ hang, việc bán dịch vụ thường bao hàm sản xuất, trao đổi và tiêu
dùng cùng một lúc. Điều này dẫn đến nhu cầu về việc tiếp xúc mặt đối mặt
trực tiếp hơn, người bán và người mua ở cùng một địa điểm khi thực hiện
giao dịch dịch vụ.
+ Sản phẩm theo sau gồm việc sử dụng nhưng không được uỷ quyền
các hình dạng khác nhau của tài sản công nghiệp và trí tuệ như bằng sáng
chế, thiết kế sản phẩm và nhãn hiệu thương mại. Để chống lại làm giả sản
phẩm, công ty có thể quyết định phát triển sản phẩm, tức là thực hiện một
bước trước những người giả mạo hoặc chiến lược cộng tác như liên doanh,
cấp giấy phép.
Như vậy, sự bùng nổ kinh tế toàn cầu đã đòi hỏi các công ty kinh
doanh của các quốc gia phải có sự phát triển để hướng tới xu hướng toàn
cầu hoá. Chính vì vậy mà bất kỳ một công ty nào cũng muốn sản phẩm của
công ty mình được bán trên khắp thế giới. Để làm được điều đó thì
Marketing xuất khẩu đang trở thành một yếu tố cực kỳ quan trọng của các
quốc gia, sản phẩm quốc tế đang có xu hướng là chu kỳ sống của nó ngày
càng ngắn đi và toàn cầu hoá các sản phẩm này đang trở nên phổ biến. Bên
cạnh đó thì chất lượng sản phẩm hàng hoá quốc tế đang được kiểm tratheo
Hoµng V¨n quang – Líp 41A Trang 24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ISO do đó một công ty kinh doanh quốc tế muốn thành công trên thị trường
thế giới thì bên cạnh chất lượng sản phẩm phải tốt, việc đánh giá phân phối
và xúc tiến bán cũng vô cùng quan trọng.
Trong kinh doanh nội địa, do thị trường hạn chế và môi trường hoạt
động quen thuộc cho nên công ty sẽ ít gặp khó khăn trong việc sử dụng
phối thức Marketing, nhưng khi đã sử dụng Marketing xuất khẩu để bán
sản phẩm sang thị trường nước ngoài rộng lớn, môi trường hoạt động chưa
quen nên công ty sẽ vấp phải không ít khó khăn. Vì vậy, các công ty kinh
doanh quốc tế phải làm sao cho sản phẩm của mình đứng vững được trên
thị trường quốc tế và chiến thắng đối thủ cạnh tranh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status