Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
MỤC LỤC
PHẦN I
1. Lý do chọn đề tài
2. Một số vấn đề lý luận chung về phương pháp phát triển lời nói cho trẻ mn
2. 1 Một số khái niệm về ngôn ngữ
2. 2 Một số quan điểm về sự phát triển ngôn ngữ TE.
2. 3 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ MN
2. 4 Quy luật lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ MN
2. 5 Nội dung phát triển hoạt động ngôn ngữ của trẻ MN
2. 6 Hình thức phát triển ngôn ngữ của trẻ MN
PHẦN II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LỜI NểI CHO TRẺỞ MỘT
SỐTRƯỜNG MẦM NON MN HIỆN NAY
1. Mục đích điều tra.
2. Đối tượng điều tra.
3. Nội dung điều tra.
4. Địa điểm điều tra.
5. Phương pháp đánh giá kết quả điều tra.
6. Phân tích và đánh giá kết quả điều tra.
6. 1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc phát triển lời nói cho trẻ
MN .
6. 2 Thực trạng về chương trình chăm sóc- giáo dục trẻ MN
6. 3 Thực trạng lập kế hoạch tổ chức hoạt động phát triển lời nói cho trẻ MN.
18
18
20
26
27
28
29
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỂ THAY ĐỔI THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN LỜI NểI CHO TRẺ MN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
30
33
Học viên: Phạm Thị Thu Thuỷ
Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
PHẦN I
1. Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ - thành tựu lớn nhất của con người – là một hệ thống tín hiệu đạc
biệt. Nú là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên trong xã hội
loài người, nhờ có ngôn ngữ con người có thể trao đổi cho nhau những hiểu biết,
truyền cho nhau những kinh ngiệm, bày tỏ với nhau những nguyện vọng, ý muốn
và cùng nhau thực hiện những dự định tương lai.
Ngôn ngữ chỉ sinh ra trong xã hội do ý muốn và nhu cầu - người ta phải
giao tiếp với nhau trong quá trình sống, tồn tại và phát triển. Bên ngoài xã hội loài
người ngôn ngữ không thể phát sinh. Ngôn ngữ là cacớ chung của xã hội, đối với
mỗi cá nhân ngôn ngữ như là một thiết chế xã hội chặt chẽ, được giữ ghỡn, phát
triển trong kinh nghiệm, trong truyền thống chung của cộng đồng. Thiết chế đó là
một tập hợp những thói quen như nghe, nói và hiểu được tiếp thu một cách dễ dàng
và liên tục ngay từ thời thơ ấu của mỗi chúng ta. Nú như là một cỏớ gì đấy bắt
buộc đối với mỗi mọi người trong mọi người.
Mặt khác, sự phân biệt giữa ngôn ngữ chuẩn, ngôn ngữ chung của mỗi
cộng đồng dân tộc với các biến dạng của nó trong các cộng đồng người nhỏ hơn
( gọi là tiếng địa phương)…cũng chính là những biểu hiện sinh động, đa dạng về
tính xã hội của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ không mang tính di truyền, người ta có được ngôn ngữ là do quá
trình học tập, tiếp thu từ những người sống xug quanh. Ở trẻ em để có vốn ngôn
ngữ nhất định phải trải qua quá trình học tập lâu dài.
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt bởi nú không phụ thuộc vào
kiến trúc thượng tầng riêng của một xã hội nào cho nên khi cơ sở hạ tầng nào đó bị
phá vỡ kéo theo sự sụp đổ của kiến trúc thượng tầng tương ứng thì ngôn ngữ vẫn là
nú. Mặt khác ngôn ngữ không mang tính giai cấp, nú ứng xử bình đẳng với mọi
người trong xã hội.
Học viên: Phạm Thị Thu Thuỷ
Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
-Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trong nhất của con người.
Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác với một
mục đích nhất định nào đó. Khi giao tiếp người ta trao đổi tư tưởng tình cảm với
nhau, tác động đến nhau, những tư tưởng, trí tuệ của người này được truyền từ
người này đến người khác , từ thế hệ này đến thế hệ khác – đó là nhờ ngôn ngữ -
một trong những động lực đả bảo sự tồn tại của xa hội loài người.
- Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy
Tư duy của con người - sự phản ánh thế giới khách quan xung quanh - chủ
phát triển được là nhờ trẻ hành độngvới các vật thể vật chất, phát hiện ra những
thiếu sót trong tư duy hiện có, luyện tập để sáng tạo ra phương thức tư duy phù hợp
với hiện thực
Ông cũng cho rằng mọi trẻ em đều trải qua quá trình phát triển như nhau
nhưng lại với tốc độ khác nhau, vì vậy giáo viên phảinỗ lực tổ chức hoạt động cho
từng trẻ, hoặc nhóm chứ không phải theo cả lớp
* Trong lý thuyết xã hội hoá của mình Vưugotxky lại cho rằng ngôn ngữ
như là một nền tảng của tất cả các quá trình tư duy bậc cao như: điều khiển, ghi
nhớ có chủ định, phân loại, kế hoạch hoá hoạt động, giải quyết vấn đề, trẻ càng lớn
càng thấy á hoạt động dễ dần, ngôn ngữ tự điều chỉnh sẽ chuyển đần vào bên trong
thành lời nói thầm.
Trong lý thuyết về vùng phát triển gần Vưugotxky đề cập đến một loại bài
tập mà trẻ không thể giải quyết được nếu không có sự giúp đỡ của người lớn hay
bạn bè lớn hơn. Khi tham gia vào hoạt động giao tiếp trẻ học được ngôn ngữ của
bạn lớn, người lớn và biến chúng thành ngôn ngưc cá nhân, lại dùng nú để tổ chức
hành động của các nhân theo cách tương tự.
=> Từ những quan điểm trên đã được được giáo dục hiện đại đưa vào
chương trình giáo dục của mình và áp dụng một cách linh hoạt trong dạy học, bên
cạnh một số điểm hạn chế thì nú cũng có rất nhiều ưu điểm – nú đã đưa đến một
cách nhìn mới trong dạy học.
Học viên: Phạm Thị Thu Thuỷ
Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
2. 3 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ.
Ngôn ngữ có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người, nhờ có ngôn ngữ
mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những
kinh nghiệm, tâm sự với nhau những điều thầm kớn…
Trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước chúng ta càng thấy rõ
vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ. Ngôn ngữ đã góp phần đào tạo
các em trở thành con người hoàn thiện.
2. 3. 1 Vai trò của ngôn ngữ đối với việc phát triển trí tuệ.
nhận thức của trẻ được sâu sắc hơn, tạo điều kiện cho trẻ được sống trong môi
trường có các hoạt động giao tiếp sẽ giúp trẻ nảy sinh những suy nghĩ sáng tạo
mới. Vì vậy trong ttrường mầm non, khi cho trẻ tiến hành các hoạt động vui chơi,
lao động, hoc tập, cần tọ điều kiện kích thích trẻ nói.
Rõ ràng ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục trí tuệ cho
trẻ. Thông qua ngôn ngữ giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh một cách sâu,
rông, rõ rang, chính xác. Ngôn ngữ giúp trẻ tích cực sáng tạo trong hoạt động trí
tụờ, vì vậy việc phát triển trí tuệ không tách rời việc phát triển ngôn ngữ.
2. 3. 2 Vai trò ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức.
Ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là tuổi mẫu giáo, các cháu bắt đầu hiểu biết và
lỡnh hội những khái niệm, những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội.
Tuy mới chỉ là những khái niệm ban đầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có ti nhs
chất quyết định những nét tính cách riệng biệt của mỗi con người trong tương lai.
Muốn cho các cháu hiểu, và lĩnh hội những khái niệm đạo đức này, chúng ta không
thể thông qua những hoạt động cụ thể hoặc qua những sự vật hiện tơựng trực quan
đơn thuần, mà phải có ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà các cháu có thể hiện được
đầy đủ những nhu cầu và nguyện vọng đầy đủ của mình . Cũng nhờ có ngôn ngữ
mà các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục có điều kiện hiểu con cháu mình hơn, để từ
đó có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu những tình cảm và những
hình vi đạo đức trong sáng nhất.
Học viên: Phạm Thị Thu Thuỷ
Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
hàng ngày trẻ còn được ăn ngon, đủ chất thì cơ thể trẻ mới phát triển hoàn
thiện, trong khi trẻ ăn thì người lớn cần phải dùng ngôn ngữ động viên, kích thích
trẻ ăn được nhiều và ăn ngon hơn.
=> Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục giúp con
người phát triển toàn diện. Sự phát triển chậm trễ về mặt ngôn ngữ có ảnh hưởng
đến sự phát triển toàn diện của trẻ. Cho nên các nhà giáo dục cần phải đề ra nhiệm
vụ, nội dung, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ đúng lúc và phù hợp với lứa
tuổi.
ngữ cảnh (thậm trí không tách rời khỏi ngữ cảnh được). Dạy lời nói cho trẻ phải
trong các ngữ cảnh sống động. Điều này giúp cho trẻ ghi nhớ những kiến thức mới.
Khi trẻ biết rồi cô phải tạo ngữ cảnh để cho nú vận dụng.
- Đứa trẻ cần phải hoạt động nhiều, giao tiếp nhiều. Con đường hoạt động
ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp tích cực là con đường hiệu quả nhất để phát
triển ngôn ngữ cho trẻ là con đường hiệu quả nhất.
Quy luật 5: Kết quả của việc lĩnh hội lời nói, viết phụ thuộc vào phối hợp
phát triển giữa lời nói viết và lời nói miệng.
Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là hai dạng hoạt động ngôn ngữ của con
người. Nú có những điểm đặc trưng của từng loại, phát triển ngôn từ cho một con
người là không thể bỏ qua một mặt nào, cả hai dựa vào nhau, bổ xung cho nhau.
- Lời nói viết đợc hình thành nếu ta chuyển được (dịch được) lời nói
âm thanh thành chử nghĩa (nói viết). Dạy nói cho trẻ là phải biết huy động đến cơ
mắt và cơ tay (nhìn là cầm bút viết) nhưng mắt và tay không thể thực hiện chức
năng đọc và viết nếu vẫn thiếu hoạt động các cơ của bộ máy phát âm
- Môi trường ngôn từ được ttỏ chức ra để dạy lời nói viết sẽ là tối ưu
nếu như tài liệu học tập giới thiệu cho trẻ cùng một lúc hình thức âm thanh và chữ
viết. Trong giai đoạn đầu của việc học lời nói viết đứa trẻ chuyển những con chữ
được biết sang những từ ngữ quen thuộc chúng đã nghe được. Sau này học tập ở
trường phổ thông bé không bị hạn chế bởi sự chuyển dịch dơn giản âm thanh sang
chữ viết và ngược lại nhưng nú lại thực hiện được điều này theo quy luật của chính
tả.
Học viên: Phạm Thị Thu Thuỷ
Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
PHẦN II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LỜI NểI CHO TRẺ Ở
MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON HIỆN NAY
1. Mục đích điều tra:
Tiến hành điều tra nhằm đánh giá tình hình chung của việc phát triển ngôn
đã phát triển vốn từ thị giác. Vốn từ thị giác của trẻ được phát triển vào giai đoạn
cuối tuổi mẫu giáo. Đó là những từ cú ý nghĩa đối với trẻ. Những từ này có thể
được viết lên những tấm thẻ. Trẻ có thể sử dụng tấm thẻ đó để sao chép từ. Ví dụ :
Tên trẻ, tên đồ vật, tên câu chuyện, bài thơ, bài hát
- Dạy trẻ cầm sách, mở sách, lật trang khi xem sách và bảo quản sách
- Hình thành thái độ yêu thích đối với việc đọc sách tranh truyện :
Chuẩn bị cho việc học đọc không chỉ liên quan đến sự phát triển các kỹ năng
mà còn cần đến việc hình thành ở trẻ thái độ yêu thích đối với việc đọc sách tranh
truyện. Trẻ bắt đầu hứng thú đến việc đọc sách khi nghe và quan sát người khác
đọc sách. Trẻ còn phát triển hứng thú khi hiểu rằng có thể biết nhiều điều hoặc tạo
ra cái gì đó từ việc giải mã được các chữ viết
Thiết kế các từ được làm ra từ các nguyên vật liệu khác nhau như : giấy
màu, miếng xốp, những hạt lấp lánh, hạt đỗ
Dán các thẻ từ lên những bức tranh do trẻ vẽ, tạo hình
Cho trẻ bắt chước lại các từ bằng cách dùng các chữ cái có nam châm dính
phía sau để ghép thành từ . Viết các động từ chỉ hành động lên những miếng bìa ví
dụ như “chạy”, “ngủ”, “ăn”, “ chơi” vv. Khi đưa ra những từ này, yêu cầu trẻ
đứng lên và diễn tả từ đó bằng hành động.
Học viên: Phạm Thị Thu Thuỷ
Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
Giúp trẻ thu thập các từ mà trẻ thích hoặc những từ cú ý nghĩa đối với riêng
trẻ. Cô có thể bảo trẻ mang một chiếc hộp, trang trí nú thành một “ngõn hàng từ”.
Cô viết những từ trẻ thích lên những miếng bìa kích thước 3cm x 5cm, sau đó yêu
cầu trẻ đọc và cất giữ trong hộp “ngõn hàng từ”. Trẻ có thể dùng một dây kim loại
xâu các tấm bìa vào với nhau. Sau đó trẻ có thể sử dụng các từ này để tạo thành
một câu chuyện hoặc để sử dụng cho các hoạt động khác
Tạo hình chữ cái thông qua các giác quan kết hợp với các bộ phận trên cơ
thể trẻ.
Một số hoạt động ứng dụng từ chương trình KIDSMART
Tìm tên các bạn có tên bắt đầu bằng chữ cái theo bảng. Ví dụ :
đồ chơi và hoạt động vui chơi làm con đường cơ bản để phát triển lời nói cho trẻ.
Bên cạnh đó trong quá trình dạy học họ đã sử dụng kết hợp giữa các phương pháp
trực quan, dùng lời và thực hành trong quá trình hướng dẫn trẻ phát triển lời nói.
Nội dung kiến thức đã có sự kết hợp theo chủ đề, chủ điểm và được đưa đến trẻ
một cỏh tổng hợp.
Hạn chế: Giáo viên vẫn coi mình là trung tâm của quá trình dạy học, vẫn
chủ yếu hướng dẫn trẻ bằng cách truyền đạt thông tin, thường sử dụng mẫu, vật
mẫu, kết hợp với diễn tả.
Trẻ chủ yếu là ghi nhơ, nhắc lại mẫu, phương pháp ghi nhớ vẫn mang tính
đồng loạt, nhiều giáo viên vẫn chưa coi trọng biện pháp chơi, hay những cách tìm
tòi khám phá bằng các giác quan. Nhiều giáo viên vẫn dựa vào tài liệu có sẵn,
nhiều khi còn áp đặt vào hiểu biết của trẻ.
Hình thức tổ chức nhiều khi còn đơn giản nghèo nàn, chủ yếu hướng vào
tiết học. Giáo viên vẫn chưa tậo điều kiện cho trẻ vận dụng kiến thức vào cuộc
sống hành
Học viên: Phạm Thị Thu Thuỷ
Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
ngày. Hình thức dạy mọi lúc mọi nơi ít được chú ý, biện pháp dạy học
được lặp đi lặp lại nên không gây hứng thú cho trẻ. Nhiệm vụ trong bài tập nhiều
khi còn đơn giản chưa chú ý nâng cao hiệu quả cho trẻ.PHẦN III - KẾT LUẬN
Trong quá trình tìm hiểu sơ bộ thực tế về nhận thứcvà việc chuẩn bị giáo án,
kế hoạch và qua dù mét sè tiết học của giáo viên trong khi tổ chức hoạt động cho
trẻ làm quen với tác phẩm văn học ở trường mầm non. Tôi nhận thấy hoạt
độngphát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non tại địa bàn tỉnh Tuyên
Quang chưa thực sự đạt hiệu quả vì mét số nguyên nhân sau:
- Giáo viên đã nhận thức đúng nhưng chưa đầy đủ về nhiệm vụ về nhiệm
của việc đọc và viết chỉ có thể phát triển được khi chúng có ý nghĩa đối với trẻ. Có
thể thực hiện việc phát triển ngôn ngữ và cho trẻ làm quen với đọc và viết thông
qua rất nhiều loại hình hoạt động có ý nghĩa đối với trẻ như: nghe, đọc truyện, thơ
của trẻ; tham quan, dạo chơi; đọc truyện cho trẻ nghe; quan sát những ký hiệu và
chữ viết, bảng biểu được sử dụng trong phòng nhóm; tham gia vào các trò chơi,
đóng kịch và các hoạt động giao tiếp khác như nói chuyện với bạn bè và người lớn;
cho trẻ làm quen với hoạt động viết thông qua vẽ, sao chép lại và tự viết các nét
chữ ban đầu.
Đọc và quan sát
- Hình thành ở trẻ những hành vi đọc thông qua các hoạt động trò chơi đóng vai và
dần dần trẻ có thể hiểu, giải thích và dịch được 1 số kí hiệu chữ viết quen
thuộc.
Học viên: Phạm Thị Thu Thuỷ
Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
Hình thành ở trẻ những hành vi đọc thông qua các hoạt động trò chơi đóng vai và
dần dần trẻ có thể hiểu, giải thích và dịch được 1 số kí hiệu chữ viết quen thuộc.
- Hiểu được ý nghĩa của chương trình nghe nhìn, các bài văn có nội dung quen
thuộc đối với trẻ, đặc biệt là những bài văn được bố cục theo từng đoạn
ngắn. Hiểu được ý nghĩa của chương trình nghe nhìn, các bài văn có nội
dung quen thuộc đối với trẻ, đặc biệt là những bài văn được bố cục theo từng đoạn
ngắn.
- Biết liên hệ giữa kiến thức, kinh nghiệm riêng của bản thân với các ý tưởng, sự
kiện và thông tinh trong bài văn được xem hoặc được nghe. Biết liên hệ
giữa kiến thức, kinh nghiệm riêng của bản thân với các ý tưởng, sự kiện và thông
tinh trong bài văn được xem hoặc được nghe.
- Thể hiện ý thức (có ý thức) và hiểu biết vai trò của các ký hiệu và qui ước về chữ
viết khi đọc tìm hiểu ý của văn bản. Thể hiện ý thức (có ý thức) và hiểu
biết vai trò của các ký hiệu và qui ước về chữ viết khi đọc tìm hiểu ý của văn bản.
- Nhận biết và sử dụng các dấu hiệu gợi ý (tranh minh hoạ, trí nhớ, từ…) để đoán ý
của bản văn hoặc các phương tiện nghe nhìn. Nhận biết và sử dụng các dấu
(“nếu cháu ở đây, cháu sẽ…”).
- Thể hiện kinh nghiệm của bản thân và so sánh với hành động của các nhân vật
trong truyện đã nghe qua nói chuyện, vẽ, trò chơi đóng vai, nghệ thuật tạo
hình. Thể hiện kinh nghiệm của bản thân và so sánh với hành động của các
nhân vật trong truyện đã nghe qua nói chuyện, vẽ, trò chơi đóng vai, nghệ thuật tạo
hình.
- So sánh cuộc sống của bản thân và những người quen thuộc. So sánh
cuộc sống của bản thân và những người quen thuộc.
- Trao đổi, hỏi về chuyện vừa được nghe đọc, những điều mới học
được. Trao đổi, hỏi về chuyện vừa được nghe đọc, những điều mới học
được.
Về biết đặc điểm và cấu trúc của ngôn ngữ:
Học viên: Phạm Thị Thu Thuỷ
Chuyên đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
Có ý thức về kí hiệu và qui ước của chữ viết; hiểu được tác dụng của chữ
viết khi đọc: hiểu ý nghĩa của bản văn. Cụ thể:
- Biết hiểu và sử dụng các biểu tượng và các kí hiệu chữ viết trong các hoạt động
đọc cùng nhau như chữ cái, từ, tên chuyện, trang, bìa, tranh minh hoạ và tên tác
giả. Biết hiểu và sử dụng các biểu tượng và các kí hiệu chữ viết trong các
hoạt động đọc cùng nhau như chữ cái, từ, tên chuyện, trang, bìa, tranh minh hoạ và
tên tác giả.
- Nhận biết được một vài từ trong văn bản. Nhận biết được dấu chấm, chữ in viết
hoa và khoảng trống giữa các từ trong bản văn in. Nhận biết được một vài
từ trong văn bản. Nhận biết được dấu chấm, chữ in viết hoa và khoảng trống giữa
các từ trong bản văn in.
- Nhận biết được một vài chữ cái trong bảng chữ cái và tỏ ra có ý thức về mối quan
hệ giữa chữ cái, âm tiết và vần (vần được tạo ra bởi chữ cái đầu và cuối trong các
từ). Nhận biết được một vài chữ cái trong bảng chữ cái và tỏ ra có ý thức
về mối quan hệ giữa chữ cái, âm tiết và vần (vần được tạo ra bởi chữ cái đầu và
cuối trong các từ).