Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non qua các bài thơ viết cho thiếu nhi của nữ sĩ xuân quỳnh - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
..............................................

LƯU THỊ HƯỞNG

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẦM NON QUA CÁC BÀI THƠ VIẾT CHO
THIẾU NHI CỦA NỮ SĨ XUÂN QUỲNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học
Ths. LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI - 2012

1


LỜI CẢM ƠN
Tác giả khóa luận xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các
thầy, cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo trong
khoa giáo dục Tiểu học và đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô
giáo: Thạc sĩ Lê Thị Lan Anh - người đã trực tiếp chỉ bảo tận tình để tôi
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các cán bộ quản lý thư viện trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
thành khóa luận của mình.
Qua đây, tôi cũng xin gửi tới ban Giám hiệu và các cô giáo trường

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
6. Phương pháp nghiên cứu
7. Cấu trúc đề tài
Nôi dung
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1.

Cơ sở lí luận

1.1.1. Ngôn ngữ và sự hình thành phát triển ngôn ngữ
1.1.2. Sự hình thành, phát triển ngôn ngữ của cá nhân
1.1.3. Vài nét về đặc điểm tâm lí lứa tuổi mầm non
1.1.4. Vài nét về đặc điểm sinh lí của trẻ mầm non
1.1.5. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ
1.2.

Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Mục đích điều tra
1.2.2. Nội dung điều tra
1.2.3. Phương pháp điều tra
1.2.4. Cách thức điều tra
1.2.5. Phân tích kết quả điều tra
Chương 2. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non qua các bài thơ viết cho
thiếu nhi của nữ sĩ Xuân Quỳnh
2.1. Thơ ca đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo

4



tốt, góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ.
Việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng
tiếp cận với các môn khoa học khác như: môn làm quen với môi trường xung
quanh, làm quen với toán, âm nhạc, tạo hình...mà điều đặc biệt là thông qua
bộ môn làm quen văn học, nhất là qua các bài thơ đã giúp trẻ khả năng phát
triển trí nhớ, tư duy và ngôn ngữ, khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp, cái tốt,

6


cái xấu của mọi vật xung quanh trẻ. Thơ ca là phương thức đắc lực bồi dưỡng
tâm hồn trẻ thơ mà không gì có thể thay thế được. Với nội dung trong sáng,
lành mạnh, thơ là suối nguồn, là làn gió thơm góp phần bồi dưỡng tư tưởng,
tình cảm tốt đẹp, trí tưởng tượng cũng như phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Nói
chung thơ ca có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giáo dục ở mọi lứa tuổi.
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại có rất nhiều tác giả
viết nhiều và viết hay cho thiếu nhi như: Định Hải, Ngô Viết Dinh, Võ
Quảng, Phạm Hổ,…Thế nhưng nhà thơ nữ viết cho thiếu nhi thì không nhiều
và viết thật đặc sắc cho thiếu nhi lại càng hiếm. Có một nhà thơ nữ với sự
nghiệp thơ không dài chỉ trên 25 năm nhưng các tác phẩm của nhà thơ viết
cho thiếu nhi là một bộ phận quan trọng làm nên sự nghiệp của nhà thơ này
“Trong tư cách người phụ nữ, người yêu, người vợ, Xuân Quỳnh đã để lại một
di sản thơ đằm thắm, da diết đến khắc khoải… Trong tư cách người mẹ, Xuân
Quỳnh đã để lại một gia tài thơ viết cho con, cũng là thơ viết cho các thế hệ
trẻ thật dồi dào và trong trẻo, thật ngộ ngĩnh và dễ thương” [15, 29].
Xuân Quỳnh để lại một gia tài thơ cho thiếu nhi như là sự kết tinh mọi
trải nghiệm của đời mình. Nếu mảng thơ về tình yêu là lời nói của trái tim:
“Em trở về đúng nghĩa trái tim em” thì trong thơ viết cho thiếu nhi Xuân
Quỳnh đã một lần nữa, từ tuổi thơ của chính mình mà đến với tuổi thơ của các
em, như nhà thơ đã từng viết: “Là một người làm thơ cho các em, qua những

Quỳnh”. Chúng tôi mong muốn được đưa các bài thơ của Xuân Quỳnh đến
với các em nhỏ nhiều hơn nữa nhằm kích thích việc phát triển ngôn ngữ cho
các em.

8


2. Lịch sử vấn đề
Trẻ em luôn giành được rất nhiều sự quan tâm của gia đình, nhà trường
và xã hội. Những vấn đề về trẻ em đã được các nhà nghiên cứu khoa học hết
sức quan tâm. Riêng về phát triển ngôn ngữ và lời nói mạch lạc cho trẻ đến
nay đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học với những công trình nghiên cứu
được xã hội ghi nhận.
Trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”, NXB Đại học Sư
phạm, năm 2004, Nguyễn Xuân Khoa đã nghiên cứu rất kĩ sự phất triển ngôn
ngữ của trẻ mẫu giáo. Trên cơ sơ những đánh giá chung về đặc điểm sinh lí
của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với
những bộ môn khác ông đã đưa ra được một số phương pháp phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn đề phát triển lời nói mạch lạc
cho trẻ. Cuốn sách này là tài liệu bổ ích cho các giáo viên và sinh viên ngành
mầm non, cũng như các nhà nghiên cứu về vấn đề này.
Cùng với Nguyễn Xuân Khoa, trong cuốn “Giáo trình phương pháp
phát triển lời nói trẻ em” của tác giả Đinh Hồng Thái, NXB Đại học Sư
phạm, năm 2007 đã viết rất chi tiết về lời nói mạch lạc và các hình thức,
phương pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo.
Tạp chí Giáo dục mầm non có rất nhiều bài viết về cách tổ chức, quản
lý, tin hoạt động, những sáng kiến dạy học của giáo viên và các cán bộ quản
lý ngành mầm non. Ở đó cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề phát triển ngôn
ngữ cho trẻ. Trong Tạp chí Giáo dục mầm non số 1/2006, tác giả Đinh Thị
Uyên có bài dịch tìm hiểu về chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm

thấm đượm chất dân gian mà mới mẻ…
Và còn rất nhiều những công trình nghiên cứu khác đã đi sâu vào tìm
hiểu về ngôn ngữ và lời nói mạch lạc cho trẻ mầm non. Các nhà khoa học đều
muốn trẻ được phát triển về mặt ngôn ngữ, nâng cao chất lượng dạy và học
của ngành giáo dục mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nước nói

10


chung. Tuy nhiên cho đến thời điểm này, chưa có một ai và một công trình
khoa học nào đi sâu vào khai thác đề tài phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
qua các bài thơ viết cho thiếu nhi của nữ sĩ Xuân Quỳnh. Với đề tài nghiên
cứu này, chúng tôi đã tìm được cho mình một hướng đi riêng, dựa trên sự tìm
hiểu, đánh giá và thực nghiệm của chính bản thân mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này để thấy được vai trò, tác dụng của thơ
Xuân Quỳnh đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non đặc biệt là trẻ ở
lứa tuổi mẫu giáo.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
qua các bài thơ viết cho thiếu nhi của nữ sĩ Xuân Quỳnh.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: trong khuôn khổ khóa luận chúng tôi
không thể đi nghiên cứu tất cả các bài thơ trong đời thơ Xuân Quỳnh. Chúng
tôi chỉ xin dừng lại ở những bài thơ Xuân Quỳnh viết cho thiếu nhi được in
trong tập thơ: “Bầu trời trong quả trứng” và một số bài thơ được đăng trên
trang web [23, 24].
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài,
nghiên cứu của chúng tôi nhằm thực hiện những nhiệm vụ sau:
+ Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài.

1.1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ
bản và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người. Ngôn ngữ
đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn
hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Tùy theo hoàn cảnh lịch sử mà sự hình thành dân tộc và ngôn ngữ dân
tộc mỗi nơi, mỗi thời kì một khác, theo những con đường khác nhau. Mác và
Ăngghen đã viết: “Trong bất cứ ngôn ngữ phát triển nào hiện nay, cái nguyên
nhân khiến cho một ngôn ngữ phát sinh một cách tự phát, được nâng lên
thành ngôn ngữ dân tộc thì một phần là do ngôn ngữ đó được phát triển một
cách lịch sử từ chỗ nó được chuẩn bị đầy đủ về tư liệu, như ngôn ngữ La Mã
và ngôn ngữ Giecmani chẳng hạn, một phần là do sự giao dịch và hỗn hợp
của các dân tộc, như tiếng Anh chẳng hạn; một phần nữa là do các phương
ngữ tập trung thành ngôn ngữ dân tộc thống nhất và sự tập trung đó lại do sự
tập trung kinh tế, chính trị quyết định”.
1.1.1.2. Các bộ phận và các đơn vị của ngôn ngữ
a. Các bộ phận của ngôn ngữ
Ba bộ phận cấu thành của ngôn ngữ là từ vựng, ngữ âm và ngữ pháp.
Trong kết cấu ngôn ngữ, từ vựng thuộc vào ngoại biên về nghĩa vì nó trực tiếp
gọi tên các sự vật, hiện tượng của thực tế; còn ngữ âm phụ thuộc vào ngoại
biên về chất liệu vì nó trực tiếp được tích lũy bởi giác quan con người. So với

13


ngữ âm và từ vựng thì ngữ pháp luôn luôn là gián tiếp, không có tính chất cụ
thể. Nó chỉ liên hệ với thông qua từ vựng, chỉ lĩnh hội được thông qua ngữ
âm. Vì vậy, ngữ pháp chiếm vị trí trung tâm trong kết cấu ngôn ngữ.
b. Các đơn vị của ngôn ngữ
+ Âm vị: Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất mà người ta có thể phát âm

người. Ngay cả những bộ lạc lạc hậu nhất mà người ta mới phát hiện ra cũng
dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau. Ngoài ngôn ngữ, con người còn có
các phương tiện khác để giao tiếp như cử chỉ, các loại dấu hiệu, kí hiệu khác
nhau (kí hiệu toán học, đèn tín hiệu giao thông, v.v...), những kết hợp thanh
của âm nhạc, những kết hợp màu sắc của hội họa, v.v... nhưng ngôn ngữ là
phương tiện trọng yếu nhất của con người.
Chính nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình
sinh hoạt và lao động, mà người ta có thể diễn đạt và làm cho người khác hiểu
được tư tưởng, tình cảm, trạng thái và nguyện vọng của mình. Có hiểu biết
lẫn nhau, con người mới có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục thiên nhiên,
chinh phục xã hội, làm cho xã hội ngày càng tiến lên.
b. Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy
Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền chức năng thể hiện tư duy
của nó, bởi vì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ chỉ có thể giúp ta trao đổi tư
tưởng, tình cảm với nhau, do đó hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ chức công
tác chung trên mọi lĩnh vực hoạt động nếu bản thân ngôn ngữ tàng trữ kinh
nghiệm, những tư tưởng và tình cảm của con người.
Chức năng thể hiện tư duy của ngôn ngữ thể hiện ở cả hai khía cạnh:
+ Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng. Không có từ nào, câu
nào mà lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng. Ngược lại, không có ý
nghĩ, tư tưởng nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ. Ngôn ngữ là biểu hiện
thực tế của tư tưởng.

15


+ Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng. Mọi ý
nghĩ, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ. Không
có ngôn ngữ thì không có tư duy và ngược lại không có tư duy thì ngôn ngữ
chỉ là những âm thanh trống rỗng, thực chất là không có ngôn ngữ.

lớn. Các âm bập bẹ nhanh chóng mất đi nhường chỗ cho các từ tham gia vào
cấu tạo câu sử dụng trong giao tiếp. Những từ đầu tiên xuất hiện, các kiểu câu
đơn giản gồm hai đến ba từ khiến cho khả năng giao tiếp của trẻ tăng lên. Trẻ
tích cực hơn trong giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp. Nhu cầu giao
tiếp tăng lên thúc đẩy hoạt động giao tiếp ngôn ngữ, kết quả là các kĩ năng
giao tiếp ngôn ngữ được hình thành.
1.1.2.2. Ngôn ngữ viết
Trẻ luyện viết là hoạt động tập hứng thú và tự giác. Chính vì vậy, khi
dạy viết cho trẻ quan trọng nhất là giải thích để trẻ hiểu được mục đích của
việc luyện viết (lưu ý trẻ mẫu giáo chưa tiến hành hoạt động học tập). Giáo
viên mầm non chỉ khuyến khích cho trẻ nhận thức được tầm quan trọng của
chữ viết. Trẻ sẽ tự giác ngồi vào vẽ chữ. Khi trẻ bắt đầu có hứng thú với chữ
viết cô nên chuẩn bị dụng cụ để giúp trẻ luyện viết tại góp luyện viết (bút chì,
bút màu, bút vẽ, v.v...).
1.1.3. Vài nét về đặc điểm tâm lí lứa tuổi mầm non
Ngay từ năm đầu khi mới lọt lòng mẹ, ngoài sự tăng trưởng và phát
triển mạnh mẽ về thể chất thì tâm lí trẻ mầm non cũng có sự thay đổi rõ rệt và
nhanh chóng.
Từ thuở lọt lòng, trẻ đã được tiếp xúc với những câu hát ru “ầu, ơ”,
những câu nự của bà, của mẹ. Tất cả đã thấm sâu trong tiềm thức non nớt của
trẻ. Lớn hơn một chút, khi nhu cầu cần được giao tiếp của trẻ phát triển, trẻ
biết hóng chuyện thì mẹ là người thường xuyên trò chuyện, tâm sự với trẻ.
Khi giao tiếp trẻ bắt chước những âm thanh trong lời nói của những người

17


xung quanh. Sau ba tháng, một đứa trẻ bình thường có phát ra những âm
thanh nhỏ “gừ gừ”, thỉnh thoảng ta có thể bắt gặp những âm thanh “ô, a”
trong miệng đứa trẻ theo nhịp điệu “à ơi” hay “ầu ơ” trong lời ru của người

thơ đã sáng tác một số bài thơ theo hình thức hỏi - đáp nhằm giúp trẻ thỏa
mãn nhu cầu này. Nhờ đó mà tư duy của trẻ mẫu giáo đã phát triển hơn so với
lứa tuổi nhà trẻ.
Tư duy của trẻ mẫu giáo phát triển trên cơ sở kinh nghiệm cảm tính
ngày càng tăng, trong quá trình giao tiếp với người lớn bằng ngôn ngữ các
hình thức tư duy cũng được hoàn thiện dần khi hiểu biết của trẻ càng mở
rộng. Sự phát triển tư duy của trẻ gắn chặt với phát triển ngôn ngữ và sự tăng
vốn từ. Ở trẻ các quá trình khái quát hóa, trừu tượng hóa cần thiết để hình
thành các khái niệm đã xuất hiện và phát triển.
Như vậy, các đặc điểm tâm lí chung của trẻ mầm non đang được hình
thành và phát triển mạnh mẽ song lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của sự phát triển
ngôn ngữ. Sự lĩnh hội ngôn ngữ của độ tuổi này góp phần sự thúc đẩy phát
triển về cả thể chất lẫn tâm lí của trẻ, bước đầu hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách con người.
1.1.4. Vài nét về đặc điểm sinh lí của trẻ mầm non
Từ lúc trẻ sinh ra, lớn lên và được phát triển không ngừng, cấu tạo của
các cơ quan đều được phát triển nhanh chóng nhưng không phải luôn luôn
giống nhau về mức độ phát triển. Quá trình này có sự tác động sâu sắc đến tất
cả các cơ quan của cơ thể kể cả tâm lí. Vì vậy tính thích nghi và khả năng
hoạt động khác của trẻ dễ bị thay đổi dưới những tác động khác nhau.
1.1.4.1. Hệ thần kinh
Các nhà sinh lí và giải phẫu học chứng minh cơ sở vật chất của đời
sống trẻ phụ thuộc vào bộ não và hoạt động thần kinh cao cấp. Cho đến lúc ra
đời, não bộ của trẻ chưa phát triển đầy đủ, dù hình thái và cấu tạo giải phẫu
không khác với não người lớn là mấy.

19


Trẻ sơ sinh não bộ có kích thước nhỏ, trọng lượng


Các khớp xương trẻ rất linh hoạt, dây chằng dễ bị giãn, các gân còn
yếu. Các khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn mềm yếu, dây chằng
lỏng lẻo, tính vững chắc của khớp tương đối kém.
Hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ,
mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn
yếu, cơ nhanh mệt mỏi.
1.1.4.3. Hệ tuần hoàn
Hệ tim mạch của trẻ bắt đầu hoạt động sớm hơn các hệ khác và các
mạch máu của trẻ rộng hơn so với người lớn (về tỉ lệ) nên áp lực của máu vào
mạch yếu, để bù vào đó tần số co bóp của tim lại nhanh. Tim trẻ 5 tuổi nặng
gấp 4 - 5 lần trẻ sơ sinh. Hệ thống điều khiển hoạt động của tim vẫn tiếp tục
phát triển mạnh, mạch đập có chậm hơn trẻ 1 - 2 tuổi nhưng vẫn còn nhanh
hơn người lớn rất nhiều. Mạch đập của trẻ 3 - 4 tuổi là 100 - 110 lần/phút, trẻ
5 - 6 tuổi là 90 - 100 lần/phút. Huyết áp tăng, số lượng hồng cầu trong máu
tăng, tỉ lệ huyết sắc tố trong máu tăng rõ nét. Sự điều hòa thần kinh tim chưa
hoàn thiện nên nhịp co bóp dễ mất ổn định và cơ tim rất nhanh mệt mỏi. Tuy
vậy, khi thay đổi hoạt động theo xu hướng giảm dần thì tim trẻ lại phục hồi
rất nhanh.
1.1.4.4. Hệ hô hấp
Đường hô hấp của trẻ em tương đối hẹp, niêm mạc đường hô hấp mềm
mại, mao mạch phong phú dễ phát sinh miễn cảm. Khí quản của trẻ nhỏ,
không khí đưa vào ít, trẻ thở nông nên khả năng trao đổi không khí phổi kém.
Bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ, không chịu được những vận động quá sức
kéo dài liên tục. Tần số hô hấp của trẻ ở lứa tuổi này thường là 20 - 26
lần/phút.
1.1.5. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ
1.1.5.1. Khái quát các giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ em

21

22


b. Giai đoạn ngôn ngữ
Bắt đầu từ 12 tháng trở đi sẽ xuất hiện những âm bập bẹ có nghĩa đầu
tiên và ngay lập tức trẻ huy động chúng vào giao tiếp với người lớn. Các âm
bập bẹ nhanh chóng mất đi nhường chỗ cho các từ tham gia vào cấu trúc câu
sử dụng trong giao tiếp. Những từ đầu tiên xuất hiện, các kiểu câu đơn giản
thường 2 - 3 từ khiến cho khả năng giao tiếp của trẻ tăng lên. Trẻ tích cực
trong giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp. Nhu cầu, kĩ năng giao tiếp
tăng lên thúc đẩy hoạt động giao tiếp ngôn ngữ kết quả là các kĩ năng giao
tiếp ngôn ngữ được hình thành.
Thời kì ngôn ngữ
12 - 18 tháng * Những từ đầu tiên xuất hiện trong vòng khoảng 12 tháng;
tuy nhiên chỉ có những người gần gũi chăm sóc trẻ mới có
thể hiểu được chúng. Ví dụ: de de (đòi uống nước).
* Các từ được sử dụng thường nhiều nghĩa hơn tùy thuộc
vào ngữ điệu mà trẻ sử dụng khi nói. Ví dụ: de de có thể có
nghĩa là: Tôi muốn uống nước, tôi uống nước xong rồi, tôi
muốn uống nước nữa…(các nhà ngôn ngữ học gọi những từ
kiểu này là Holophrase - câu đa nghĩa).
* Vào khoảng 15 tháng trẻ em sẽ có khoảng 10 từ và những
người chăm sóc trể mới có thể hiểu được những từ này.
18 - 24 tháng

* Hai từ được nối với nhau. Ví dụ: ma măm, dì, bà…
* Những bài đối thoại ngắn xuất hiện, trẻ thường chú ý đến
những từ chính, câu thường sai ngữ pháp.
* Vốn từ vựng của trẻ tăng lên. Trẻ đọc được khoảng 10 30 từ trong 1 tháng.
* Đến 2 tuổi, hầu hết các trẻ có khoảng 200 từ.

vào cuộc sống xã hội và giao tiếp với người khác; thể hiện
nhu cầu của trẻ và thuật lại những trải nghiệm của chúng.
* Đến 5 tuổi, từ vựng của trẻ có khoảng 5000 từ.
* Trẻ biết nói đúng những câu phức hợp.
* Thích tham gia kể và nghe chuyện.
* Trẻ hiểu rằng ngôn ngữ có thể được viết dưới dạng các
biểu tượng.
* Đến 8 tuổi; hầu hết các trẻ em đều đã nói thành thạo và
biết cách viết ngôn ngữ của chúng.

24


(Theo Penny & Kate Beith trong cuốn “Nursery Nursing”)
Trên đây là bảng khái quát các bước chung ngôn ngữ trẻ em thời kì
ngôn ngữ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi xin được đi sâu
hơn vào đặc điểm sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo.
1.1.5.2. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo
a. Khái niệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non
U.Sinxki đã khẳng định: “Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển,
là vốn quý của mọi tri thức”. Từ đó, có thể thấy rằng ngôn ngữ có vai trò rất
to lớn trong cuộc sông của con người. Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp,
đồng thời cũng là công cụ của tư duy. Nhờ ngôn ngữ con người có thể trao
đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm hay tâm sự
với nhau những nỗi niềm thầm kín...
Trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước, chúng ta càng
thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ. Ngôn ngữ đã góp
phần đào tạo các mầm non trở thành những con người phát triển toàn diện.
Về mặt trí tuệ: Ngôn ngữ là phương tiện giúp trẻ nhận thức thế giới
xung quanh, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy. Chính vì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status