1
MỘT SỐ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 18-24
THÁNG TUỔI THÔNG QUA GIỜ KỂ CHUYỆN Ở TRƯỜNG
MẦM NON ĐỨC THẮNG
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chưa làm mẹ nhưng chứa chan tình mẹ
Bởi yêu nghề nên quý lớp măng non.
Dạy tiếng mẹ đẻ cho trẻ tuổi mầm non có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ gióp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần quan
trọng vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ. Việc phát triển ngôn ngữ
mạch lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn khoa học
khác như: Môi trường xung quanh, làm quen với toán, âm nhạc, tạo hình…mà
điều tôi muốn nói ở đây đặc biệt là thông qua bộ môn làm quen văn học. Bộ môn
làm quen văn học dạy trẻ đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch… tạo cho trẻ được hoạt
động nhiều. Việc phát triển vốn từ luyện phát âm và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp…
không thể tách rời các môn học cũng như các hoạt động của trẻ. Mỗi từ cung cấp
cho trẻ phải dựa trên một biểu tượng cụ thể, có nghĩa, gắn liền với âm thanh và tình
huống sử dụng chúng. Nội dung vốn từ cung cấp cho trẻ cũng như hình thức ngữ
pháp phải phụ thuộc vào khả năng tiếp xúc, hoạt động và nhận thức của trẻ.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một nhiệm vụ quan trọng trong chương trình
giáo dục toàn diện trẻ. Chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ đã được nhà giáo
dục mầm non Liên Xô nổi tiếng: Eiti – KhêVa xem là khâu chủ yếu nhất của hoạt
động trong trường mầm non, là tiền đề thành công của công tác khác.
Hiện nay việc trẻ em của chúng ta nói trống không, không đủ câu, trọn nghĩa
chiếm một số lượng không nhỏ và rất khó cho việc tiếp cận với các tác phẩm văn
học bởi vì trẻ một phần nghèo nàn về vốn từ, một phần trẻ không biết phải diễn đạt
sao cho mạch lạc. Vì vậy tôi chọn đề tài “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 18-24
tháng tuổi thông qua giờ kể chuyện ở trường mầm non Đức Thắng " làm đề tài nghiên
cứu.
qua cử chỉ và lời nói của người lớn trẻ làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong
môi trường xung quanh, trẻ hiểu những đặc điểm, tính chất, công dụng của các sự
vật cùng với từ tương ứng với nó. Nhờ có ngôn ngữ trẻ nhận biết ngày càng nhiều
các sự vật, hiện tượng mà trẻ được tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày.
Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ.
Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt là đối với trẻ nhỏ,
đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh hình
thành những cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hoà nhập với cộng
đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng. Nhờ có những lời chỉ dẫn của
người lớn mà trẻ dần dần hiểu được những quy định chung của cộng đồng mà mọi
thành viên trong cộng đồng phải thực hiện, mặt khác trẻ cũng có thể dùng ngôn
ngữ để bày tỏ những nhu cầu mong muốn của mình với các thành viên trong cộng
đồng điều đó giúp trẻ hoà nhập với mọi người.
Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ, thông qua các câu chuyện trẻ dể dàng tiếp nhận
những chuẩn mực đạo đức của xã hội và hoà nhập vào xã hội tốt hơn. Trẻ từ 1 đến
2 tuổi có số lượng từ rất ít, và được tăng dần theo độ tuổi của trẻ. Trẻ ở lứa tuổi
này không chỉ hiểu nghĩa các từ biểu thị các sự vật, hành động cụ thể mà có thể
hiểu nghĩa các từ biểu thị tính chất màu sắc, thời gian và các mối quan hệ. Tuy
nhiên mức độ hiểu nghĩa của các từ này ở trẻ từ 1 đến 2 tuổi còn rất hạn chế và có
nét đặc trưng riêng, trẻ sử dụng các từ biểu thị thời gian chưa chính xác trẻ nhận
thức về công cụ ngữ pháp và sử dụng nó còn rất hạn chế. Đối với trẻ mầm non nói
chung và trẻ từ 18 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi nói riêng, chúng ta cần phải giúp
trẻ phát triển mở rộng các từ loại trong các từ, biết sử dụng nhiều loại câu, bằng
cách thường xuyên trò chuyện với trẻ về những sự vật, sự việc trẻ nhìn thấy trong
4
sinh hoạt hàng ngày, nói cho trẻ biết các từ biểu thị về các đặc điểm, tính chất,
công dụng của chúng. Cho trẻ xem tranh, kể cho trẻ nghe các câu chuyện đơn giản
qua tranh. Đặt các câu hỏi cho trẻ giúp trẻ biết kể chuyện theo tranh bằng ngôn
* Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên.
- Vì chưa hiểu hết được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
cho nên trong quá trình chăm sóc giáo dục hầu như giáo viên chưa chú ý đến việc
thay đổi nội dung và cách thức trò chuyện, tạo các tình huống cho trẻ thể hiện
những tình cảm và yêu cầu của mình bằng các âm các từ. Khi nói chuyện với trẻ
cô hay nói nhanh và không chú ý tới việc sửa sai lỗi về từ, âm, câu cho trẻ.
- Đối với trẻ thì hệ thống ngôn ngữ không được mở rộng do cô đưa hệ thống
câu hỏi đóng, trẻ hay nói câu thiếu các thành phần.
- Khả năng lĩnh hội thông tin của trẻ rất hạn chế nếu cô truyền đạt một câu
dài hoặc một sự việc có nội dung truyền tải nhiều.
2. Các giải pháp thực hiện.
2.1. Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ
từ 18 đến 24 tháng tuổi.
2.2. Quan tâm đến tâm lý nhận thức đối với trẻ lứa tuổi từ 18 đến 24 tháng
tuổi để tìm ra phương pháp kể chuyện phù hợp đồng thời phát triển ngôn ngữ của trẻ.
2.3. Nâng cao nhận thức và trình độ của bản thân thông qua việc học tập
BDTX và học hỏi đồng nghiệp.
2.4. Đầu tư tốt bài soạn, đồ dùng phục vụ giờ dạy.
2.5. Chú ý đến trẻ cá biệt, chậm phát triển.
2.6. Đầu tư khai thác những nội dung tích hợp phù hợp.
6
2.7. Sưu tầm các trò chơi, các hoạt động, thông qua đó phát triển ngôn ngữ
cho trẻ 18 đến 24 tháng tuổi.
2.8. Cho trẻ tham gia xem tranh ảnh, đồ dùng trực quan có liên quan đến nội
dung câu chuyện ở mọi lúc mọi nơi.
2.9. Thường xuyên trò chuyện, đàm thoại, kể chuyện, đọc chuyện và yêu cầu
trẻ kể lại chuyện.
3. Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ 18 đến 24 tháng tuổi thông qua giờ kể chuyện.
8
53,3
Qua kết quả đó tôi miệt mài nghiên cứu tài liệu, các phương tiện thông tin
đại chúng đồng nghiệp và đưa một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ 18
đến 24 tháng tuổi thông qua giờ kể chuyện.
Với trẻ 18 đến 24 tháng tuổi rất thích nghe kể chuyện và rất hứng thú với
hoạt động này. Chính vì vậy mà tôi muốn thông qua giờ kể chuyện để phát triển
ngôn ngữ cho trẻ. Cụ thể các biện pháp thực hiện như sau:
*Biện pháp 1.
7
Nghiên cứu kĩ yêu cầu của giờ kể chuyện kể cả về kiến thức, kĩ năng và giáo
dục đạo đức. Từ đó đưa ra phương pháp, hệ thống câu hỏi, đồ dùng phục vụ giờ
dạy đạt hiệu quả cao.
Ví dụ: Mục đích yêu cầu của giờ kể chuyện “Cây táo”
* Về kiến thức:
- Trẻ biết tên câu chuyện, biết tên nhân vật và hành động của các nhân vật
trong chuyện.
- Đọc được các từ: “ông”, “bé”, “gà trống”, “mặt trời”, “bươm bướm”, “sưởi
nắng”, “bật ra”.
- Biết lắng nghe và trả lời các câu hỏi của cô.
* Về kĩ năng:
- Trẻ nhận biết và phân biệt được quả to, quả nhỏ.
- Nhận biết và phân được ba màu: đỏ, vàng, xanh và đọc chính xác các từ:
“màu đỏ”, “màu vàng”, “màu xanh”.
* Về giáo dục.
- Trẻ biết “Ăn quả nhớ phải nhớ ơn người trồng cây”
- Đồ vật thật có liên quan đến câu chuyện.
Ví dụ: trong câu chuyện “Cây táo”.
*Chuẩn bị:
Quả táo xanh, quả táo vàng, phải to, tròn, đẹp, màu sắc rõ nét, với nhiều kích
thước khác nhau.
9
Cành táo phải nhiều lá, nhiều quả, được cắm vào một chậu đẹp.
Tranh vẽ phải đẹp và sinh động, kích thước phù hợp không được to hoặc nhỏ quá.
Sa bàn: Thấp có cây táo, ông, bé, gà trống, bươm bướm, mặt trời. Các nhân
vật này có gắn que để điều khiển được.
* Biện pháp 4: Nội dung tích hợp.
Sau khi xác định được mục đích yêu cầu của giờ kể chuyện. Tôi suy nghĩ để
tích hợp các môn học khác vào giờ kể chuyện sao cho hợp lý, logíc phù hợp với giờ học.
Ví dụ: Trong câu chuyện cây táo tôi có thể tích hợp thêm các môn:
- Nhận biết tập nói.
- Vận động.
- Âm nhạc.
- Dinh dưỡng và vệ sinh chăm sóc.
* Biện pháp 5. Mọi lúc, mọi nơi.
Cho trẻ xem tranh liên quan đến câu chuyện.
Ví dụ: Tranh cây táo trong chuyện cây táo:
Tôi có thể cho trẻ tiếp xúc với vật thật trong sinh hoạt hàng ngày.
Ví dụ: Cho trẻ quan sát và tiếp xúc với cây táo, quả táo.
Nói chuyện âu yếm, trò chuyện đàm thoại cùng với trẻ.
* Biện pháp 6: Tiến trình hoạt động.
Để có một giờ dạy tốt trước hết phải rèn luyện cho trẻ nề nếp trong học tập
đó là cơ sở ban đầu hỗ trợ cho giờ dạy đạt kết quả cao. Trong lớp học tôi chia ra
từng tổ, trong mỗi tổ đều có các cháu có khả năng tiếp thu bài khác nhau: Giỏi có,
- Ai tưới nước cho cây táo? (Em bé). Cô cho trẻ đọc từ “Em bé”.
11
- Con gì đến động viên cây mà nó gáy “ò ó o”? (Con gà trống). Cô cho trẻ đọc từ
“con gà trống”.
- Cả con gì đến động viên cây nữa?(con bươm bướm).Cô cho trẻ đọc từ “bươm bướm”.
+ Sau đó tôi giảng nội dung câu chuyện, giải thích các từ khó và cho trẻ đọc
các từ khó.
Ví dụ: Trong chuyện cây táo có từ “sưởi nắng”, “bật ra”, cô cho trẻ đọc các từ này.
+ Cuối cùng tôi kể cho trẻ cho trẻ nghe câu chuyện lần 3 bằng sa bàn.
• Hoạt động 3. Kết thúc giờ học.
Bằng nhiều cách khác nhau tôi cho trẻ kết thúc giờ học một cách nhẹ nhàng
thoải mái.
Ví dụ: Kết thúc giờ học tôi cho trẻ tôi cho trẻ cùng hát bài “Đố quả” và cho
trẻ thăm vườn cây ăn quả.
Trong các giờ kể chuyện tôi cho trẻ tự kể lại câu chuyện mà trẻ đã được học.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Kết quả nghiên cứu
- Áp dụng những kinh nghiệm giảng dạy như trên đối với môn kể chuyện. Qua
các giờ học tôi thấy các cháu rất hứng thú, rất thích nghe kể chuyện. Thông qua đó
mà việc phát triển ngôn ngữ đạt hiệu quả cao.
- Trong khi nghe kể chuyện, kể lại chuyện và trả lời các câu hỏi của cô. Vốn từ
của trẻ được tăng lên rất nhiều đồng thời trẻ biết sử dụng các loại câu phong phú và
đa dạng.
Sau một năm áp dụng phương pháp mới này kết quả giảng dạy của tôi đã được
nâng lên rõ rệt, cụ thể như sau:
Khá
ngôn ngữ rất tốt, hiểu được lời nói của mọi người, biết trả lời các câu hỏi, biết kể
lại các câu truyện đã được nghe. Vốn từ phong phú và dần dần hoàn thiện theo độ
tuổi.
2. Bài học kinh nghiệm.
Muốn giúp trẻ từ 18 tháng đến 24 tháng tuổi phát triển ngôn ngữ thông qua giờ
kể chuyện tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
1. Nắm vững đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của trẻ để có biện pháp giáo dục
phù hợp. Vận dụng cấc biện pháp giáo dục mọi lúc, mọi nơi. Chú ý đến trẻ cá biệt,
luôn tạo ra niềm tin, sự hứng thú cho trẻ.
2. Cần phát huy tính tích cực, thu hút sự chú ý và tạo hứng thú cho trẻ bằng
các thủ thuật như trò chơi, câu đố, thơ, hát, hò, vè....
3. Đầu tư thời gian để nghiên cứu kĩ đề tài để có các phương pháp dạy học
cụ thể, phù hợp và đạt hiệu quả tốt nhất.
4. Trước khi thực hiện một đề tài phải chuẩn bị chu đáo đồ dùng trực quan
cũng như gợi mở kiến thức cho trẻ. Thông qua các hoạt động ở mọi lúc, mọi nơi
nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
IV. KẾT LUẬN
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 18 -24 tháng tuổi thông qua bộ môn làm quen
văn học thể loại truyện kể là sự tổng hợp toàn bộ nội dung rèn luyện ngôn ngữ .
Nói mạch lạc chứng tỏ ngôn ngữ của trẻ đạt yêu cầu cao về mặt biểu hiện âm
thanh, từ diễn đạt, câu đúng ngữ pháp cũng như sự mạnh dạn tin tưởng trong giao
tiếp. Đề tài
nghiên cứu này sẽ làm cơ sở vững chắc cho việc học tập của trẻ
những năm tiếp theo.
13
14
Phạm Thị Hà Phương
VII. MỤC LỤC
Nội dung
I. Đặt vấn đề
1, Cơ sở lý luận
2, Cơ sở thực tiễn
II. Nội dung vấn đề nghiên cứu
1, Thực trạng của vấn đề
2, Các giải pháp
III.Kết quả nghiên cứu
1, Kết quả nghiên cứu
2, Bài học kinh nghiệm
IV.Kết luận
V. Đề nghị
VI.Tài liệu tham khảo
VII.Mục lục
Trang
1
2
2
4
4
6
12
12
12