Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
0
BIÊN SOẠN: PGS.TS. NGUYỄN BÁ UÂN
Hµ né i - 2012
T
T
R
R
Ư
Ư
Ỷ
ỶL
L
Ợ
Ợ
I
IB
B
ộ
ộm
m
ô
ô
n
n
:
:Q
Q
Q
Q
U
U
Ả
Ả
N
NL
L
Ý
ÝD
D
Ự
ỰÁ
Á
N
N
C
A
A
O
O(TẬP BÀI GIẢNG DÙNG CHO CAO HỌC)
TẬP BÀI GIẢNG Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
1
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG
1.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI DỰ ÁN
1.1.1. Khái niệm dự án
Dự án là gì?
Dự án hiểu theo nghĩa thông thường là “điều mà người ta có ý định làm”.
Theo “Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lý dự án” của Viện Nghiên cứu
Quản lý dự án Quốc tế (PMI) thì: “Dự án là sự nỗ lực tạm thời được thực hiện để
tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”.
Theo định nghĩa này, dự án có 2 đặc tính:
1. Tạm thời (hay có thời hạn) - Nghĩa là mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết
thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu dự án đạt được hoặc khi đã xác định
được rõ ràng là mục tiêu khống chế đạt được và dự án được chấm dứt. Trong mọi
trường hợp, độ dài của một dự án là xác định, dự án không phải là một cố gắng liên
dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn sẵn có để tạo ra những lợi ích thiết thực cho
nhà đầu tư và cho xã hội.
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Xét trên tổng thể chung của quá trình đầu tư: dự án đầu tư có thể được hiểu
như là kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt được mục tiêu đã
đề ra trong khoảng thời gian nhất định, hay đó là một công trình cụ thể thực hiện
các hoạt động đầu tư.
- Xét về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách
chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo kế hoạch để đạt được những
kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.
- Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ hoạch định việc sử dụng
vốn, vật tư, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội.
DỰ ÁN
SẢN PHẢM DUY NHÂT
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
3
- Xét trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tư là kế hoạch chi tiết để thực hiện
chương trình đầu tư xây dựng nhằm phát triển kinh tế xã hội làm căn cứ cho việc ra
quyết định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư.
- Xét trên góc độ phân công lao động xã hội: dự án đầu tư thể hiện sự phân
công, bố trí lực lượng lao động xã hội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa các chủ
thể kinh tế khác nhau với xã hội trên cơ sở khai thác các yếu tố tự nhiên.
- Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động cụ thể, có mối
liên hệ biện chứng, nhân quả với nhau để đạt được mục đích nhất định trong tương
lai.
Dự án đầu tư là công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tư, do đó bên trong nó
chứa các yếu tố cơ bản của hoạt động đầu tư.
Trước hết, dự án đầu tư phải thể hiện rõ mục tiêu đầu tư là gì, có thể là mục tiêu
sau:
Dựa vào công thức trên có thể thấy đặc điểm, một dự án xây dựng bao gồm
các vấn đề sau:
1. Kế hoạch
Tính kế hoạch được thể hiện rõ qua các mục đích được xác định, các mục đích
này phải được cụ thể hóa thành các mục tiêu và dự án chỉ hoàn thành khi các mục
tiêu cụ thể đã đạt được.
2. Tiền
Đó chính là sự bỏ vốn để xây dựng công trình. Nếu coi phần “Kế hoạch của
dự án” là phần tinh thần, thì “Tiền” được coi là phần vật chất có tính quyết định sự
thành công của dự án.
3. Thời gian
Thời gian rất cần thiết để thực hiện dự án, nhưng thời gian còn đồng nghĩa với
cơ hội của dự án. Đây cũng là một đặc điểm rất quan trọng cần được quan tâm.
4. Đất
D
Ự ÁN
XÂY DỰNG
CÔNG TRÌNH
XÂY DỰNG
= KẾ HOẠCH + TIỀN + THỜI GIAN + ĐẤT
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
5
Đất cũng là một yếu tố vật chất hết sức quan trọng. Đây là một tài nguyên đặc
- Các công trình xây dựng là mục đích của cuộc sống con người, khi nó là các
công trình xây dựng dân dụng như: nhà ở, khách sạn,…;
- Các công trình xây dựng là phương tiện của cuộc sống khi nó là các công
trình xây dựng cơ sở để tạo ra các sản phẩm khác như: xây dựng công nghiệp, giao
thông, thủy lợi…
Một cách chung nhất có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một
nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng , nguồn lực riêng
và theo một kế hoạch tiến độ xác định.
1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của dự án
Dự án có các đặc trưng sau:
1. Dự án có mục đích, mục tiêu rõ ràng: Mỗi dự án là một hoặc một tập hợp
nhiệm vụ cần được thực hiện để đạt tới một kết quả xác định nhằm thỏa mãn một
nhu cầu nào đó. Dự án, đến lượt mình, cũng là một hệ thống phức tạp nên có thể
chia thành nhiều bộ phận khác nhau để quản lí và thực hiện nhưng cuối cùng vẫn
phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về thời gian, chi phí và chất lượng.
Bất cứ dự án nào cuối cùng đều phải thực hiện một mục tiêu nhất định, kết
quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà khách hàng mong muốn.
Khi mục tiêu dự án đã được xác định thì khó có thể thay đổi hay sửa chữa. Tuy
nhiên, nếu có sự biến đổi của hoàn cảnh dự án (hoàn cảnh bên trong và hoàn cảnh
bên ngoài) thì mục tiêu dự án cũng có thể thay đổi hoặc điều chỉnh theo. Khi mục
tiêu dự án có sự biến đổi về tính chất thì nó không còn là dự án ban đầu nữa mà trở
thành một dự án mới.
2. Dự án có chu kỳ riêng và thời gian tồn tại hữu hạn: Nghĩa là dự án cũng phải
trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc.
Dự án được xem là chuỗi các hoạt động nhất thời. Tổ chức của dự án mang
tính chất tạm thời, sau khi đạt được mục tiêu đề ra, tổ chức này sẽ giải tán hay thay
đổi cơ cấu tổ chức cho phù hợp với mục tiêu mới.
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
mức độ tham gia của các bộ phận là không giống nhau. Vì mục tiêu của dự án, các
nhà quản lý dự án cần duy trì mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác.
4. Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc, độc đáo
Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, sản phẩm của dự án
không phải là sản phẩm hàng loạt mà có tính khác biệt ở một khía cạnh nào đó. Kể
cả một quá trình sản xuất liên tục cũng có thể được thực hiện theo dự án, ví dụ
như dự án phục vụ một đơn hàng đặc biệt, dự án nâng cao chất lượng sản phẩm,…
Sản phẩm của những dự án này dù được sản xuất hàng loạt nhưng vẫn có điểm
khác biết (về đơn đặt hàng, về chất lượng sản phẩm…). Có thể nói sản phẩm hoặc
dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, lao động đòi hỏi kỹ năng chuyên môn với
những nhiễm vụ không lặp lại.
5. Dự án bị hạn chế bởi các nguồn lực
Mỗi dự án đều cần dùng một nguồn lực nhất định để thực hiện. Nó bao gồm
nhân lực (giám đốc dự án, thành viên dự án), vật lực (thiết bị, nguyên liệu) và tài
lực. Ví dụ, chúng ta muốn xây dựng một công trình nhà ở thì nguồn lực của nó bao
gồm công ty xây dựng được uỷ quyền, các cửa hàng cung ứng nguyên liệu, thiết bị,
máy móc phục vụ cho xây dựng công trình. Tuy cùng là một công trình xây dựng
nhưng do công ty xây dựng khác nhau, cửa hàng cung ứng nguyên liệu, thiết bị,
máy móc khác nhau, nguồn nhân, tài, vật lực khác nhau nên các công trình kiến
trúc cũng có kiểu dáng, phong cách, chất lượng không giống nhau. Ngoài ra, trong
quá trình thực hiện, công ty xây dựng được uỷ quyền còn phải chịu sự ràng buộc
về giá thành, phải tính toán sao cho với cái giá thấp nhất có thể tạo ra một công
trình kiến trúc có chất lượng cao nhất, phù hợp nhất với yêu cầu của khách hàng.
6. Dự án luôn có tính bất định và rủi ro
Mỗi dự án đều có tính không xác định của nó, tức là trong khi thực hiện dự
án cụ thể do sự tác động của hoàn cảnh bên trong và bên ngoài nên việc thực hiện
đó tất nhiên có sự thay đổi so với kế hoạch ban đầu. Dự án có thể hoàn thành trước
thời gian hoặc có thể bị kéo dài thời hạn thi công. Cũng có thể do sự biến đổi về
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
muốn trong vòng một năm, tổ dự án đó có thể cho ra đời loại sản phẩm đó. Trong
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
10
trường hợp này, tập đoàn doanh nghiệp vừa là người ủy quyền vừa là người được
ủy quyền của dự án.
1.1.3. Phân loại dự án
Dự án có thể phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Bảng 1.1 phân loại các
dự án thông thường theo một tiêu chí cơ bản.
Bảng 1.1. Phân loại dự án
STT
Tiêu chí phân loại Các loại dự án
1 Theo cấp độ dự án Dự án thông thường; chương trình; hệ thống
2 Theo quy mô dự án Nhóm A; nhóm B; nhóm C
3 Theo lĩnh vực Xã hội; kinh tế; tổ chức hỗn hợp
4 Theo loại hình
Giáo dục đào tạo; nghiên cứu và phát triển; đối mới;
đầu tư; tổng hợp
5 Theo thời hạn
Ngắn hạn (1-2 năm); trung hạn (3-5 năm); dài hạn
trên (5 năm)
6 Theo khu vực
Quốc tế; quốc gia; vùng; miền; liên ngành; địa
phương
7 Theo chủ đầu tư Nhà nước; doanh nghiệp; cá thể riêng lẻ
8 Theo đối tượng đầu tư
Dự án đầu tư tài chính; dự án đầu tư vào đối tượng
vật chất cụ thể
c. Dự án xây dựng (Construction Project)
d. Dự án hệ thống thông tin (Information System Project)
e. Dự án đào tạo và quản lý (Management and Trainning Project)
f. Dự án bảo dưỡng lớn (Major Maintenance Project)
g. Dự án viện trợ phát triển phúc lợi công cộng (Public/Welfare/
Development Project).
1.2. QUẢN LÝ DỰ ÁN (Project Management)
1.2.1. Khái niệm, nội dung của quản lý dự án
a. Khái niệm về quản lý dự án
Chương tr
ình 1
Chương trình 2
Chương trình i
………………
Chương trình n
(Program )
D
ự án 1
Dự án 2
Dự án i
………….
Dự án n
(Project)
Nhi
toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án
Bất kỳ một dự án nào cũng trải qua một số giai đoạn phát triển nhất định. Để
đưa dự án qua các giai đoạn đó, đương nhiên ta phải bằng cách này hoặc cách
khác, quản lý được nó (dự án). Quản lý dự án thực chất là quá trình lập kế hoạch,
điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm
bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và
đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ bằng
phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép.
Quản lý dự án là một quá trình hoạch định (Planning), tổ chức
(Organizing), lãnh đạo (Leading/Directing) và kiểm tra (Controlling)
các công
việc và nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu đã định.
Quản lý dự án là việc áp dụng những kiến thức, kỹ năng, phương tiện và kỹ
thuật trong quá trình hoạt động của dự án để đáp ứng được (hoặc vượt quá thì càng
tốt) những nhu cầu và mong đợi của người hùn vốn cho dự án. Trong thực tế quản
lý dự án luôn gặp vấn đề gay cấn vì những lý do về quy mô của dự án, thời gian
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
13
hoàn thành, chi phí và chất lượng, những điều này làm cho người hùn vốn khi thì
vui mừng, khi thì thấp thỏm lo âu và thậm trí thất vọng.
Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án thể hiện ở chỗ các công việc phải được
hoàn thành theo yêu cầu, đảm bảo chất lượng, trong phạm vi chi phí được duyệt,
đúng thời gian và giữ cho phạm vi dự án không bị thay đồi.
Ba yếu tố: thời gian, chi phí và chất lượng (kết quả hoàn thành) là những mục
tiêu cơ bản và giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau (hình 1.2). Tuy mối
quan hệ giữa 3 mục tiêu có thể khác nhau giữa các dự án, giữa các thời kì của một
dự án, nhưng nói chung để đạt kết quả tốt đối với mục tiêu này thường phải “ hy
sinh” một hoặc hai mục tiêu kia. Do vậy, trong quá trình quản lý dự án các quản lý
thị trường bất động sản; các hình thức đầu thầu và thị trường các dự án
đầu tư,…
Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề quản lý nền kinh tế ngày càng trở lên phức tạp
với sự tăng lên không ngừng của các số lượng của các chủ thể quản lý, sự đa dạng
của các đối tượng quản lý… mà trước hết là các loại dự án đầu tư. Với khả năng
kinh tế, tài chính và nguồn lực của nước ta vốn có hạn, chính sách đầu tư là phải
tập trung vào các dự án thực hiện trong thời hạn ngắn, khả năng mang lại hiệu
quả kinh tế cao nhất. Để giải quyết bài toàn phức tạp này thì hệ thống phương pháp
luận quản lý dự án là một công cụ đã được kiểm chứng trong việc thực hiện các dự
án đảm bảo chất lượng yêu cầu, trong thời hạn cho phép ngân sách có hạn đã ấn
định (hình 1.2).
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
15
T
r
o
n
g
k
h
u
«
n
k
h
æ
í
i
c
h
ñ
®
Ç
u
t
−
Chi phÝ
Thêi gian
C¸c nguån lùc
ChÊt l−îng
Hình 1.2. Biểu tượng của hệ thống phương pháp luận quản lý
c. Triển vọng phát triển nghiên cứu hệ thống phương pháp luận quản lý dự án
Kinh nghiệm của Đức, Nhật, Hàn Quốc, Mỹ và nhiều quốc gia phát triển
khác cho thấy rằng các phương pháp quản lý dự án là phương thuốc hiệu nghiệm
thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, là phương pháp tốt nhất giải quyết các vấn đề kinh
tế- xã hội lớn đang đặt ra trong từng thời kỳ. Đây chính là công cụ quản lý tối ưu
trong các hệ thống đất nước đang phát triển, khi điều kiện môi trường luôn luôn
thay đổi, thiếu vắng sự ổn định kinh tế - chính trị cần thiết cho các nhà đầu tư, với
sự yếu kém của hệ thống lập pháp, thị trường tài chính chưa phát triển, lạm phát
chưa được kiểm soát, hệ thống thuế không ổn định…
Không những thế, ở các nước có nền kinh tế thị trường đã phát triển, hệ
thống phương pháp luận quản lý dự án không chỉ là công cụ quản lý dự hình thành,
Chu trình quản lý dự án xoay quanh 3 nội dung chủ yếu là (1) lập kế hoạch,
(2) phối hợp thực hiện mà chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí thực hiện và
(3)giám sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Lập kế hoạch: Là việc xây dựng mục tiêu, xác định những công việc được
hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và quá trình phát triển kế hoạch
hành động theo một trình tự lôgic mà có thế biểu diễn dưới dạng sơ đồ hề thống.
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
17
Điều phối thực hiện dự án: Đây là quá trình phần phối nguồn lực bao gồm
tiền vốn, lao động, máy móc thiết bị và đặc biệt là điều phối và quản lý tiến độ thời
gian. Nội dung này chi tiết hóa thời hạn thực hiện cho từng công việc và toàn bộ
dự án.
Hình 1.3. Chu trình quản lý dự án
Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình
hoàn thành, giải quyết những vấn đề liên quan và thực hiện báo cáo hiện trạng.
Các nội dung của quản lý dự án hình thành một chu trình năng động từ việc
lập kế hoạch đến điều phối thực hiện và giám sát, sau đó cung cấp các thông tin
phản hồi cho việc tái lập thiết kế hoạch dự án. Chu trình quản lý dự án được thể
hiện ở hình 1.3
Chi tiết hơn, nội dung quản lý dự án có nhiều, nhưng cơ bản là những nội
dung chính sau:
1. Quản lý phạm vi dự án
Tiến hành khống chế quá trình quản lý đối với nội dung công việc của dự án
nhằm thực hiện mục tiêu dự án. Nó bao gồm việc phân chia phạm vi, quy hoạch
phạm vi, điều chỉnh phạm vi dự án…
2. Quản lý thời gian dự án
4. Quản lý chất lượng dự án
Quản lý chất lượng dự án là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện dự
án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra. Nó
bao gồm việc quy hoạch chất lượng, khống chế chất lượng và đảm bảo chất
lượng…
5. Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực là phương pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm
đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo của mỗi người trong dự án
và tận dụng nó một cách có hiệu quả nhất. Nó bao gồm các việc như quy hoạch tổ
chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và xây dựng các ban dự án.
6. Quản lý việc trao đổi thông tin dự án
Quản lý việc trao đổi thông tin dự án là biện pháp quản lý mang tính hệ
thống nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập, trao đổi một cách hợp lý các tin tức
cần thiết cho việc thực hiện dự án cũng như truyền đạt thông tin, báo cáo tiến độ
dự án.
7. Quản lý rủi ro trong dự án
Khi thực hiện dự án sẽ gặp phải những nhân tố rủi ro mà chúng ta không
lường trước được. Quản lý rủi ro là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm tận
dụng tối đa những nhân tố có lợi không xác định và giảm thiểu tối đa những nhân
tố bất lợi không xác định cho dự án. Nó bao gồm việc nhân biết, phân biệt rủi ro,
cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng đối sách và khống chế rủi ro.
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
19
8. Quản lý việc mua bán của dự án
Quản lý việc thu mua của dự án là biện pháp quản lý mang tính hệ thống
nhằm sử dụng những hàng hóa, vật liệu thu mua được từ bên ngoài tổ chức thực
hiện dự án. Nó bao gồm việc lên kế hoạch thu mua, lựa chọn việc thu mua và trưng
thu các nguồn vật liệu.
cho dự án;
- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các
thành viên tham gia dự án;
- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và
điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán
được. Tạo điều kiện cho sự đàm phán trực tiếp giữa các bên liên quan để
giải quyết những bất đồng;
- Tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn.
Tuy nhiên quản lý theo DA cũng có mặt hạn chế của nó. Những hạn chế đó là:
- Các dự án cùng chia nhau một nguồn lực của tổ chức;
- Quyền lực và trách nhiệm của quản lý dự án trong một số trường hợp
không được thể hiện đầy đủ;
- Phải giải quyết vấn đề “hậu dự án”
g. Ý nghĩa của quản lý dự án
Quản lý dự án là việc giám sát, chỉ đạo, điều phối, tổ chức, lên kế hoạch đối
với 4 giai đoạn của chu kỳ dự án trong khi thực hiện dự án (giai đoạn bắt đầu, giai
đoạn quy hoạch, giai đoạn thực hiện và giai đoạn kết thúc). Mục đích của nó là từ
góc độ quản lý và tổ chức, áp dụng biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu
dự án như mục tiêu về giá thành, mục tiêu thời gian, mục tiêu chất lượng. Vì thế,
làm tốt công tác quản lý là một việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
1. Thông qua quản lý dự án có thể tránh được những sai sót trong công
trình lớn, phức tạp
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và không ngừng nâng cao đời
sống nhân dân, nhu cầu xây dựng các dự án công trình quy mô lớn, phức tạp cũng
ngày càng nhiều. Ví dụ, công trình xây dựng các doanh nghiệp lớn, các công trình
thủy lợi, các trạm điện và các công trình phục vụ ngành hàng không. Cho dù nhà
đầu tư hay người tiếp quản dự án đều khó gánh vác được những tổn thất to lớn do
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
22
tiêu tốn gần 20 tấn gang, đỉnh tháp có đài quan sát, trên tháp có phòng ăn chứa
hàng nghìn người, ngoài ra còn có không gian để xây hàng trăm phòng khách, có
trung tâm thương mại thế giới và các khu vui chơi giải trí khác. Có được một công
trình đồ sộ với kỹ thuật hiện đại nhất thế giới như vậy là do Mỹ đã vận dụng thành
công kỹ thuật và lý luận quản lý dự án hiện đại vào quá trình thực hiện dự án.
h. Đặc điểm của quản lý dự án
Quản lý dự án có một số đặc điểm chủ yếu sau:
1.Tổ chức dự án là một tổ chức tạm thời, được hình thành để phục vụ dự án
trong một thời gian hữu hạn. Trong thời gian tồn tại đó, nhà quản lý dự án thường
hoạt động độc lập với phòng ban chức năng. Sau khi kết thúc dự án cần tiến hành
phần công lại lao động, bố trí lại máy móc thiết bị.
1.2.2. Các tiêu chuẩn đánh giá việc quản lý dự án
Hình 1.4. Những tiêu chuẩn ràng buộc kết quả thực hiện dự án
Chi phí
Mục đích cuối cùng của mỗi dự án đều là để thực hiện một mục tiêu nhất
định, mục tiêu này phải đáp ứng được nhu cầu của người ủy quyền. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện dự án cụ thể, do sự ảnh hưởng của một số nhân tố nên
mục tiêu cuối cùng là sản phẩm hoặc dịch vụ không phù hợp với yêu cầu của
khách hàng, không làm hài lòng khách hàng. Việc thực hiện thành công mục tiêu
dự án thường được xem xét dựa trên 4 nhân tố sau: tiến độ dự án và chi phí dự án,
phạm vi dự án, sự đánh giá của khách hàng.
1. Hoàn thành trong thời gian quy định (Tiến độ của dự án)
Tiến độ dự án hiểu một cách đơn giản là sự sắp xếp thời gian thực hiện mỗi
dự án. Mỗi dự án đều có thời gian bắt đầu và kết thúc. Thông thường, căn cứ vào
tình trạng thực tế của khách hàng và người được uỷ quyền để định ra thời gian
hoàn thành phạm vi công việc. Đối với nhiều dự án thì nhân tố thời gian là chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá sự thành công hay không của mục tiêu dự án. Ví dụ, một
công ty uỷ quyền cho một xưởng in thiết kế, in ấn một loạt thiệp chúc mừng giáng
sinh nhưng sau lễ giáng sinh, xưởng in mới giao sản phẩm cho công ty. Khi đó,
thiệp chúc mừng sẽ mất đi ý nghĩa và tất nhiên công ty đặt thiệp tất nhiên có quyền
không nhận sản phẩm nữa.
2. Đạt được thành quả mong muốn (Phạm vi dự án)
Quản lý dự án Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Bá Uân
Trường Đại học Thủy lợi Bộ môn Quản lý xây dựng
24
Phạm vi dự án còn được gọi là phạm vi công việc. Nó là công việc buộc phải
hoàn thành nhằm thoả mãn người uỷ quyền. Muốn vậy ta phải đảm bảo chắc chắn
thực hiện thành công mục tiêu dự án, tức là sản phẩm cuối cùng phải đúng với yêu
cầu và tiêu chuẩn lúc đầu mà dự án đề ra. Ví dụ, một cơ quan điều tra tiếp nhận dự
án điều tra một sản phẩm mới trên thị trường của doanh nghiệp nào đó, lúc đó
phạm vi dự án có thể liên quan đến việc nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng
đối với sản phẩm mới này, xác định vị trí cũng như sự chiếm lĩnh của sản phẩm
mới trên thị trường… Người uỷ quyền luôn mong muốn bên được uỷ quyền có thể