- 1 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI - VIỆN NGHIÊN CỨU THỦY LỰC DELFT BÀI GIẢNG
SINH THÁI BIỂN VÀ VEN BỜ Soạn thảo : PGS. TS. Lê Đình Thành
Trợ giúp : TS. Jeroen Wijsman, TS. Mindert de Vries
- 2 -
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU 5
PHẦN I 6
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SINH THÁI 6
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ SINH THÁI HỌC 7
1.1 GIỚI THIỆU 7
1.2.1 Định nghĩa 9
1.2.2 Các thuật ngữ 9
35
2.3.3 Các sinh vật phân huỷ 35
2.3.4 Các động vật ăn cỏ và ăn thịt 36
2.3.5 Các động vật ăn tạp
36
2.3.6 Chuỗi thức ăn/Lưới thức ăn 36
2.4 QUẦN XÃ 41
2.4.1 Định nghĩa về quần xã 41
2.4.2 Đa dạng loài và sự ổn định 42
2.4.3 Hệ sinh thái và quần xã 43
2.4.4 Diễn thế của quần xã 44
2.5 CÂU HỎI VÀ THẢO LUẬN 46
PHẦN 2 SINH THÁI BIỂN VÀ VEN BỜ 47
Chương 3 MÔI TRƯỜNG BIỂN 48
3.1 GIỚI THIỆU CHUNG 48
3.1.1 Biển và đại dương (ocean) 48
- 3 -
3.2 CÁC ĐẶC TRƯNG VÔ SINH CỦA NƯỚC BIỂN 60
3.2.1 Bức xạ mặt trời (Solar radirion ) 60
3.2.2 Nhiệt độ (Temperature) 65
3.2.3 Độ mặn (Salinity) 70
3.2.4 Khối lượng riêng nước biển (Density) 72
3.3 CÂU HỎI THẢO LUẬN 74
Chương 4 THỰC VẬT PHÙ DU VÀ NĂNG SUẤT SƠ CẤP 75
4.1 SỰ PHÂN LOẠI 75
4.1.1 Thực vật phù du (phytoplankton) là gì? 75
4.1.2 Các ví dụ về thực vật phù du và các đặc trưng của chúng 75
4.1.3 Thực vật phù du khác: 79
4.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP MẪU 80
6.1.6 Chim biển (seabirds)
123
6.1.7 Cá (fish)
125
6.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP MẪU 127
6.3 CÂU HỎI VÀ THẢO LUẬN 128
Chương 7 SINH VẬT ĐÁY 129
7.1 PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI 129
7.1.1 Thực vật đáy (Benthic plants) 129
7.1.2 Động vật đáy (Benthic Animals) 131
7.2 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP MẪU 138
a)- Các phép đo năng suất cơ bản của thực vật đáy 140
b)- Lấy mẫu và phép đo sản xuất của động vật đáy
140
7.3 CÂU HỎI VÀ THẢO LUẬN
141
Chương 8 DÒNG NĂNG LƯỢNG VÀ CHU TRÌNH KHOÁNG CHẤT 142
- 4 -
8.1 MẠNG LƯỚI THỨC ĂN 142
8.1.1 Mạng thức ăn vi khuẩn 142
8.2 CÁC CHU TRÌNH KHOÁNG CHẤT (C, N, P) 148
8.2.1 Chu trình Cac bon (Carbon cycle) 148
8.2.2 Chu trình Nitơ (Nitrogen cycle) 150
8.2.3 Chu trình Phốt pho (Phosphorus cycle) 153
8.2.4 Phú dưỡng (Eutrophication) 155
8.3 CÂU HỎI VÀ THẢO LUẬN 157
CHƯƠNG 9 CÁC QUẦN XÃ SINH VẬT ĐÁY 158
9.1 MÔI TRƯỜNG VÙNG TRIỀU 158
9.1.1 Thủy triều và vùng triều (Tides and intertidal zone) 158
10.2. TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI ĐẾN VÙNG CỬA SÔNG VÀ VEN BIỂN
191
10.3. ẢNH HƯỞNG CỦA C
ÁC HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI ĐẾN SINH THÁI BIỂN196
10.3.1 Ô nhiễm b
iển (Marine Pollution) 196
Các chất độc hại 197
10.3.2 Sự khai thác quá mức 201
10.4 BẢO TỒN BIỂN VÀ HỆ SINH THÁI BIỂN 202
10.4.1. Đối với vùng bờ biển 202
10.4.2. Bảo vệ sinh thái biển 203
10.5 CÁC HỆ SINH THÁI VÀ MÔI TRƯỜNG VEN BIỂN ĐIỂN HÌNH Ở VN 204
10.5.1 Biển Việt Nam 204
10.5.2 Tài nguyên biển Việt Nam
205
10.5.3 Những hệ sinh thái và khu vực
môi trường ven biển điển hình 206
10.5.4 Những vấn đề thực tế về môi trường và sinh thái ven biển Việt Nam 207
10.6 CÂU HỎI THẢO LUẬN 209
- 5 -
LỜI GIỚI THIỆU
Tài liệu bài giảng sinh thái biển và ven bờ được soạn thảo này là một phần của dự
án "Nâng cao năng lực đào tạo ngành Kỹ thuật bờ biển tại Trường Đại học Thuỷ lợi".
Sinh thái biển và ven bờ là một trong những môn học mới trong chương trình đào tạo
của ngành này và nó sẽ được giới thiệu cho sinh viên ngành Quản lý vùng bờ biển của
Khoa Kỹ thuật bờ biển thuộc Trường Đại học Thuỷ lợi.
Mục tiêu của m
ôn học này là cung cấp cho sinh viên ngành Quản lý vùng bờ - 7 -
Chương 1:TỔNG QUAN VỀ SINH THÁI
HỌC
1.1 GIỚI THIỆU
Sinh thái học xuất phát từ hai từ tiếng Hy Lạp “oikos” có nghĩa là nhà, nơi mà
chúng ta sống và từ “logos” nghĩa là sự hiểu biết.
Nói chung, chúng ta có thể định nghĩa sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu
sự ảnh hưởng của các sinh vật với nhau và với môi trường. Trong định nghĩa này môi
trường bao gồm tất cả các thành phần tự nhiên như nước, đất, khí hậu, các sinh vật
sống khác và các ảnh hưởng của chúng với nha
u.
Thông thường, sinh thái học có thể chia thành sinh thái học trên cạn và sinh thái
học biển, trong đó:
+ Sinh thái học trên cạn nghiên cứu sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sinh vật và
môi trường trên cạn của chúng.
+ Sinh thái học biển nghiên cứu sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sinh vật và môi
trường tự nhiên của biển và ven biển. Hình 1.1: Sơ đồ mô tả mối quan hệ qua lại giữa một số yếu tố của môi trường đến một
sinh vật. Trong sơ đồ này, sinh vật trung tâm là động vật ăn thịt, nhưng để tổng quát
hoá, từ “con mồi” được hiểu là thức ăn cho động vật ăn thịt còn đối với thực vật, “con
mồi” có nghĩa là ánh sáng và chất dinh dưỡng. Sơ đồ trên được đơn giản hoá các mối
quan hệ hai chiều nhưng trong thực tế, các mối quan hệ sinh thái giữa sinh vật và môi
trường là quan hệ đa chiều.
với môi trường của chúng.
Cũng có thể coi sinh quyển là t
oàn bộ hệ sinh thái trên trái đất như vỏ trái đất, n-
ước và không khí mà trong đó sinh vật tồn tại, là tổng của các vật thể sống trên trái
đất.
Sinh vật học giải quyết các vấn đề của những thực thể sống ở các mức tổng hợp
khác nhau, từ nghiên cứu những phân tử sinh vật cho đến nghiên cứu sinh quyển phức
tạp. Còn sinh thái học giải quyết cơ bản mối thống nhất ở mức cao hơn như nghiê
n
cứu quần xã, quần thể và hệ sinh thái. - 9 -
Sinh quyển
*Hệ sinh thái
*Quần xã
*Quần thể
Hệ thống sinh vật Mức độ tổng hợp tăng
Các cơ quan
Các mô
Các tế bào
Các hạt cơ quan dưới tế bào
Phân tử
1.2.1 Định nghĩa
Loài là một nhóm
gồm một hay nhiều quần thể sinh vật sinh sống mà khác biệt
về bản chất với tất cả sinh vật khác. Các cá thể của cùng một loài có khả năng sinh
sản ra một thế hệ mới khoẻ mạnh.
hoặc: Loài là một nhóm các cá thể giống nhau, có xu hướng giao phối và sinh sản ra
- 10 -
4. Thực vật (Plantae): Thực vật không có khả năng chuyển động tự do.
Chúng là những sinh vật nhân chuẩn đa tế bào mà sản sinh ra năng lượng bởi
quá trình quang hợp và có các tế bào xenlulo. Thực vật là nguồn sản sinh oxy,
thức ăn và quần áo/vật liệu xây dựng cũng như các loại gia vị, thuốc nhuộm và
dược phẩm.
5. Động vật ( Animals) là sinh vật nhân chuẩn dị dưỡng đa tế bào c
ó khả
năng chuyển động trong suốt thời gian sống của chúng, chúng có những tế bào
thiếu vách ngăn. Động vật cho chúng ta thức ăn, quần áo, chất béo, dầu thơm,
có tính gần gũi thân thiện và sức lao động.
Loài là một đơn vị phân loại. Tất cả các cá thể của một loài đều có cùng
một tên khoa học chung. Nói chung tên này bao gồm hai từ Latin. Thuật ngữ
đầu tiên chỉ họ và từ thứ hai chỉ tên loài. Ví dụ, Mytilus
edulis (con trai xanh):
Mytilus là họ của loài này.
- 11 -
a- Thực vật
Tập hợp ngành
(Thực vật)
≈ 275.000 loài
Lớp
Angiopermae
(Thực vật có hoa)
≈ 235.000 loài
Ngành
Tracheophyta
(Thực vật có mạch)
≈ 235.000 loài
Bộ
Rosales
Hoa hồng và các cây tương tự
≈ 18.000 loài
Họ
Rosaceae
≈ 3.500 loài
Chi
Rosa
≈ 500 loài
Loài
Rosa gallica
Hoa hồng rêu
- 12 -
b- Động vật
(More specific: Có nhiều nét riêng biệt; Less specific: ít nét riêng biệt )
Hình 1.3 Phân loại một loài động vật. Hãy chú ý đến những điểm giống nhau giữa tập
hợp ngành động vật và tập hợp ngành động vật ở trên. Hình ảnh này được lấy từ cuốn
Tập hợp ngành
(Thực vật)
≈ 275.000 loài
Lớp
Angiopermae
(Thực vật có hoa)
≈ 235.000 loài
Ngành
Tracheophyta
(Thực vật có mạch)
≈ 235.000 loài
Bộ
Rosales
Hoa hồng và các cây tương tự
≈ 18.000 loài
Họ
Rosaceae
≈ 3.500 loài
Chi
Rosa
≈ 500 loài
Loài
Hình 1-4: Sự tiến hoá của động vật có xương sống.
1.3 CÁC NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG
1.3.1 Môi trường là gì
?
Nói chung, môi trường được định nghĩa bởi sự kết hợp giữa các điều kiện hiện
tại bao quanh ảnh hưởng đến cuộc sống và chức năng của một cá thể hoặc cộng đồng.
Môi trường bao gồm môi trường vật lý (môi trường vô sinh) và môi trường hữu sinh.
Môi trường vật lý biểu thị các điều kiện tự nhiên như địa chất, thổ nhưỡng, địa
hình, khí hậu, thời tiết và thảm họa, rủi ro
. Những điều kiện này ảnh hưởng tới môi
trường hữu sinh và ảnh hưởng qua lại với nhau. Ví dụ như khí hậu ảnh hưởng tới loại
đất.
Môi trường hữu sinh là các thành phần sống của môi trường (các sinh vật khác
nhau trong hệ sinh thái bao gồm các cá thể của cùng một loài hoặc khác loài).
Bản chất của môi trường và các diều kiện của nó rất cần thiết cho sự sống. Thậm
chí một hạt cát trên bề mặt của mặt trăng cũng c
ó môi trường riêng. Nó xác định bức
xạ nhận được, nhiệt độ, độ ẩm hoặc gió đẩy hạt cát bay đi.
Hành tinh Trái đất chịu bức xạ mặt trời tới bề mặt trái đất phụ thuộc vào khoảng
cách và chuyển động của nó xung quanh mặt trời. Đặc trưng đặc biệt của Trái đất là do
nhiệt độ thay đổi trên bề mặt, nước có thể thay đổi từ thể rắn, lỏng sang thể khí. Nước
ở thể lỏng trên bền mặt Trái đất nhờ trọng lực mà chảy từ nơi đất cao đến nơi đất
Cá myxin
Cá rô
Phổi
Hàm
Lông vũ
Khỉ Chuột
Chim
Hình 1.5 : Hệ cơ quan chính của thực vật
Qua đó, các hoạt động sinh học trên Trái đất bị hạn chế bởi hiệu xuất của quá
trình quang hợp và bức xạ tới. Nhưng cường độ của bức xạ cũng quyết định trạng thái
của nước, có nghĩa là khi nào và ở đâu quá trình quang hợp xảy ra, sự phân bố bức xạ
mặt trời quyết định nước có sẵn ở dạng thể lỏng. Tất cả những điều đề cập trên là
những điều kiện môi trường cần thiết cho sự sống trên trái đất.
1.3.2 Địa chất và đất đai
Địa chất ở vùng bất kỳ được tạo nên bởi các kiểu dạng đá khác nhau, đây là một
quá trình rất lâu dài và phức tạp, được thực hiện bởi sự chuyển động của toàn lục địa
được gọi là kiến tạo địa tầng cùng với hoạt động như núi lửa.
Địa chất của một vùng có ảnh hưởng đến địa hình của đất. Các thành phần vô cơ
của đất có nguồn gốc từ đá bị phong hoá. Các kiểu đá có sẵn trong một vùng có thể tạo
ra đất bằng quá trình phong hoá. Đá bị vỡ ra
thành nhiều mảnh nhỏ do quá trình phong
hoá hoá học. Thông qua quá trình này, cacbon dioxyt hoà tan vào nước mưa tạo ra một
axit nhẹ. Loại axit này phản ứng với bề mặt đá. Những quặng khác nhau như hydro
cacbon sắt và Magie, là sản phẩm phong hoá các loại đá. Thông thường sản phẩm
phong hoá của đá rất gần vị trí tạo thành chúng, nhưng nhiều trường hợp sản phẩm
Rễ
Cuống
Lá
Thân
R
ễ
Grasslands (prairie)
Grey-brown podzol (brown
earth)
Grey-brown mull Deciduous forest
Pozol Grey banded mor Boreal conifer forest
Peats Organic peat Bog
Tundra soil or pozol (if well
drained)
Organic on mineral base
(with permafrost)
Tundra
Kiểu đất, khí hậu và thực vật có mối liên hệ với nhau. Có vài hệ thống phân loại
được sử dụng rộng khắp thế giới. Ở qui mô toàn cầu, khí hậu dường như yếu tố quyết
định cấu trúc đất. Đặc điểm quan trọng nhất của khí hậu là sự thay đổi lượng mưa và
nhiệt độ.
Việt Nam có khoảng 333.000 km
2
diện tích tự nhiên, trong đó có khoảng 70%
diện tích đồi núi, diện tích bằng phẳng ở Việt Nam phân bố chủ yếu ở đồng bằng Sông
Hồng ở vùng miền bắc và đồng bằng Sông Cửu Long ở miền nam. (Diện tích đất tự
nhiên của Việt Nam có khoảng 33 triệu ha, trong đó có 22 triệu ha đất phát triển tại
chỗ và 11 triệu ha đất bồi tụ). Tỷ lệ đất được sử dụng như sau:
- Đất nông nghiệp:
7 triệu ha (chiếm 21%)
- Đất lâm nghiệp: 11,8 triệu ha (chiếm 35,7%)
- Đất chuyên dụng: 1,4 triệu ha (chiếm 4,2 %)
- 17 -
- Đất trống, đồi trọc: 13 triệu ha (chiếm 39,1 %)
Bên cạnh kiểu dạng địa chất và đất đã nêu ở trên, địa hình còn đóng vai trò
y đều ảnh hưởng đến nguồn nước:
Trong thời gian lạnh vì nước bị đóng băng và không có khả năng sử dụng; còn trong
- 18 -
thời gian nóng gây hạn hoặc bốc thoát hơi quá mức. Nhân tố khác có thể ảnh hưởng
đến cây trồng là thời kỳ sinh trưởng, cây dường như không có khả năng sinh trưởng ở
nhiệt độ dưới 0
0
C và sinh trưởng chậm chạp ở nhiệt độ trên điểm đông lạnh. Độ ẩm và
mưa cũng là những biến số quan trọng cuả khí hậu đối với sinh vật.
1.3.4 Chất dinh dưỡng
Cây trồng cần cung cấp năng lượng để sinh trưởng và tái sinh, chúng cũng cần thu
nhận những nguyên tố cấu thành nên chúng. Sự khác nhau cơ bản giữa sự chuyển hoá
năng lượng và chuyển hoá dinh dưỡng là mô hình chuyển hoá dinh dưỡng về cơ bản là
vòng tròn hoặc là có chu kỳ còn sự chuyển hoá năng lượng về cơ bản là không định
hướng. Các nguyên tố cấu thành phần tử mà sinh vật được tạo thành không thể thay
đổi trong điều kiện tự nhiên trên trái đất cho nên chúng vẫn giữ nguyê
n tính chất khi
các phần tử chuyển từ mức dinh dưỡng này sang mức dinh dưỡng khác. Chúng có thể
quay vòng và lặp đi lặp lại. Các chu trình cacbon, nitơ và photpho rất quan trọng trong
chu trình dinh dưỡng.
Chu trình cacbon không phải lúc nào cũng nằm trong chu trình dinh dưỡng bởi
vì nó không cần thiết phải có các sinh vật phân hủy. Đó là do sinh vật quang hợp tự
dưỡng thu nhận cacbon từ khí quyển dưới dạng cacbon điôxit, trong khi đó các sinh
vật thải cacbon trong quá trình hô hấp.
Mặc dù Nitơ rất quan trọng đối với cơ thể sống nhưng vẫn không t
hể định lượng
chi tiết về chu kì Nitơ. Cần chú ý rằng sự di chuyển của N trong chu kì năm bị thiếu
hụt do N nằm lại trong bầu khí quyển và trong đá. Trong khí quyển chứa khoảng
dưỡng vi lượng, cần rất ít và đôi khi độc hại ở khối lượng lớn. Chúng bao gồm: sắt,
mangan, đồng, chì, bo và clo. Phân bón hoàn hảo có thể cung cấp cả ba loại dinh
dưỡng sơ cấp, thứ cấp và vi lượng. Nhãn hiệu của phâ
n bón sẽ liệt kê các số, chẳng
hạn 5-10-5 thể hiện tỷ lệ % trọng lượng của dinh dưỡng đa lượng sơ cấp.
- 19 -
Vai trò của đất
Đất bị phong hoá, đá và mảnh vụn khoáng chất bị phân huỷ hoà lẫn vào không
khí và nước. Đất màu mỡ chứa các loại dinh dưỡng ở dạng dễ sử dụng mà cây trồng
cần phải có để sinh trưởng. Rễ cây hoạt động như những công nhân mỏ di chuyển
trong đất và mang những khoáng chất cần thiết vào bộ rễ. Cây trồng tiêu thụ các
khoáng chất này vào:
- Các thành phần cấu tạo thành cacbon hydrit và prôtit
- Các phần tử chất hữu cơ sử dụng trong quá trình trao đổi chất, chẳng hạn như
m
agie trong chất diệp lục.
- Các hoạt hoá Enzim như kali, mà hoạt hoá có thể so enzim.
- Duy trì cân bằng thẩm thấu.
Mycorrhizae, vi khuẩn và khoáng chất
Mycorrhizae hình thànhkhi nấm (nấm đảm hoặc zygomyefe) bám xung quanh
hoặc vào trong rễ cây và tạo thành mối quan hệ cộng sinh. Fungal hyphac hút khoáng
chất từ đất và thông qua chúng lên rễ cây trồng còn nấm thu nhận hydrat cacbon từ cây
trồng.
Cây trồng cần nitơ cho nhiều phần tử sinh học qu
an trọng bao gồm hạt nhân và
protein. Mặc dù khoảng 70% bầu khí quyển chứa dinitrogen (N
2
), cây trồng vẫn không
thể sử dụng trực tiếp được. Tuy nhiên, một vài vi khuẩn đặc biệt (có trong một vài loại
Sinh thái học cá thể nghiê
n cứu về sinh thái, tập trung vào các loài riêng biệt.
Hiên nay ước tính có khoảng 3 đến 4 triệu các loài tồn tại trên mặt đất. Chỉ có rất ít
trong số chúng đã được nghiên cứu đầy đủ để chúng ta hiểu kỹ về sinh thái học cá thể
của chúng.
Sinh thái học cá thể của cây dương xỉ diều hâu là một loài điển hình vì nó là một
trong những thực vật thành công nhất trên thế giới. Nó mọc trên hầu hết các lục địa
ngoại trừ Antarctica. Dương xỉ diều hâu là một loài thích hợp cho nghiên cứu sinh thái
học cá thể. Hầu hết cây dương xỉ diều hâu có chất sinh ung t
hư, nó có thể là nguyên
nhân gây ung thư ở động vật khi ăn phải chúng. Chúng thường xuyên bị hạn chế bởi
độ ẩm, vùng râm mát và không lan rộng ra xa.
1.4.2 Quan hệ giữa các điều kiện môi truờng
và sự phân bố các loài
Các điều kiện môi trường (như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, đất, nước và địa
hình) rất quan trọng đối với các loài và đến sự phân bố của chúng. Mỗi một loài có
phản ứng đặc thù tới các điều kiện môi trường vô sinh với giá trị tối ưu và sức chịu
đựng riêng. Nói chung một loài sẽ sống trong vùng mà những điều kiện môi trường là
tối ưu (hoặc dưới điểm cực thuận) đối với nó. Đ
ộ mặn
học và phải mất nhiều công sức để xác định tổ sinh thái của một sinh vật ở mức độ chi
tiết. Mỗi một loài có tổ sinh t
hái duy nhất của riêng mình. Nó là một trong số ít các
luật sinh thái. Giả sử có hai loài chiếm giữ ở cùng một tổ sinh thái song chúng không
thể chiếm giữ chính xác tại cùng một tổ và cùng chung sống (cùng tồn tại).
Nói chung, các tổ sinh thái là những động vật có khả năng thay đổi, ví dụ như
có thể thay đổi khẩu phần ăn của chúng nếu khẩu phần ăn ưa thích của chúng không có
sẵn. Các loài có chung một tổ sinh thái có thể tồn tại chung cạnh nhau.
1.4.4 Môi trường sống
Rất khó đưa ra một khái niệm chính xác về thuật ngữ nơi sống, từ "nơi sống"
được sử dụng rộng rãi trong sinh thái để mô tả vùng mà sinh vật sống. Ví dụ như khỉ
đột vùng đất thấp gorilla có nơi sống của nó là ở rừng thứ cấp nhiệt đới. Một số loài có
thể có một vài nơi sống. Thuật ngữ "vi cảnh" (microhabitat) dùng chỉ một vùng hạn
chế nơi mà những sinh vật nhỏ sống. Bất kỳ một môi trường nào cũng đều bao gồm
hàng nghìn vi cảnh.
- 22 -
Theo sách Đỏ Việt Nam, tổng số các loài ở nước ta là 10.835 loài, trong đó ở
vùng bờ biển là 7.752 loài. Số liệu hệ thống tự nhiên - Nơi sống và các loài của Việt
Nam từ năm 1994 ở trong bảng 1-3.
Bảng 1-3 Nơi sống và các loài của Việt Nam từ năm 1994
ĐV không
xương
sống
Cá Bò sát Chim ĐV có
vú
Tổng
Đang nguy cấp 10 6 8 14 30 68
Dễ bị tổn thương 24 24 19 6 23 96
phân bố rộng hơn tới nguồn gen hơn những cá thể kém thích nghi.
Phong toả thích nghi: Là sự phát triển ra nhiều loài khác nhau từ một gốc tổ
tiên. Điều này xảy ra khi có một môi trường sống mới thuận lợi cho sự phát triển của
một quần thể. Kiểu tiến hoá phâ
n nhánh ra nhiều loài từ một tổ tiên chung là kết quả
sự thích nghi mới hoặc sự tuyệt chủng hàng loạt.
1.6 CÂU HỎI VÀ THẢO LUẬN
1. Anh/chị hiểu thế nào là “sinh thá
i học”? Những nhân tố môi trường quan trọng
nhất và mối quan hệ giữa chúng?
- 23 -
2. Vai trò của đất và khí hậu đối với các loài?
3. Chất dinh dưỡng và vai trò của chất dinh dưỡng đối với cây trồng.
4. Phân tích mối quan hệ giữa các điều kiện môi trường và phân bố các loài.
5. Thế nào là sự thích nghi của các loài đối với điều kiện môi trường?, lấy ví dụ
thực tế để minh hoạ.
- 24 -
Chương 2: QUẦN THỂ VÀ QUẦN XÃ
2.1 ĐỘNG LỰC HỌC QUẦN THỂ
2.1.1 Sinh sản, nhập cư, diệt vong, di cư
Quần thể là một nhóm các cá thể của cùng một loài sống trong cùng một vùng,
tại một cùng một thời điểm v
à chia sẻ chung một nguồn gen, hay một nhóm các sinh
vật có khả năng giao phối trong một khu vực địa lý.
người phải mất 1800 năm để đạt tổng dân số là 1 tỷ, nhưng chỉ mất 130 năm đạt tới 2
tỷ, và hơn 45 năm để đạt tới 4 tỷ.
Bất chấp các tiến bộ công nghệ, các yếu tố ảnh hưởng tới gia tăng dân số cuối
cùng sẽ giới hạn sự bùng nổ dâ
n số của loài người. Các yếu tố này gồm giới hạn của
các nguồn tài nguyên vật lí và sinh học vì dân số thế giới đã vượt 6 tỷ vào năm 1999.
Năm 1987 dân số được ước tính là 5 tỷ.
- 25 -
(bệnh dịch hạch)
Thời
đá cũ
Bắt đầu canh
tác nông
nghiệp, trồng
cây và nuôi
động vật trong
nhà
Thời
đá mới
Thời
đồ đồng
Thời
đồ sắt
Trung
đại
Hiện
đại
Trước Công nguyên
Sau Công nguyên