BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH
TIỂU LUẬN
RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG
HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG
NGÀNH : NGOẠI THƯƠNG
MÔN : QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
KHÓA : 10 –VB2
LỚP : NT 03
1.1.1.1
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2008
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH
TIỂU LUẬN
RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG
HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG
MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU.....................................................................................................................2
Phần 2: TỔNG QUAN VỀ TBT.............................................................................................3
2.1. Khái niệm về TBT...............................................................................................................3
2.2. Phân loại các rào cản kỹ thuật.............................................................................................3
2.3. Hệ thống TBT......................................................................................................................3
2.4. Hiệp định về TBT................................................................................................................5
2.5. Các hình thức rào cản..........................................................................................................7
2.6. Những rào cản kỹ thuật ở các nước nhập khẩu..................................................................8
2
ngay.
4
Phần 2:
TỔNG QUAN VỀ TBT
2.1. KHÁI NIỆM VỀ TBT
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Technical Barriers to Trade – TBT) là một loại
hàng rào phi thuế quan, được xem là một trong những nhóm biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn
chặn hàng xuất khẩu. Hàng rào này liên quan tới việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tiêu
chuẩn chất lượng hàng hóa, các biện pháp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất hàng hóa phải an
toàn, vệ sinh, bảo vệ môi trường, các vấn đề liên quan tới ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản hàng
hóa... Chúng là các rào cản hợp lý và hợp pháp, cần được duy trì. Rào cản thương mại quốc tế
rất đa dạng, phức tạp và được quy định bởi cả hệ thống pháp luật quốc tế, cũng như luật pháp
của từng quốc gia, được sử dụng không giống nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ. Tuy nhiên,
còn có những hàng rào kỹ thuật được dựng lên để hạn chế thương mại của nước khác hoặc
mang tính phân biệt đối xử giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, giữa hàng hóa trong nước hoặc
nhập khẩu.
Hàng rào kỹ thuật (hay rào cản kỹ thuật) là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo
vệ người tiêu dùng trong nước, lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất trong nước song có thể gây trở
ngại cho thương mại quốc tế do việc đưa ra những quy định quá mức cần thiết hoặc không phù
hợp với các định chế của Hiệp định TBT.
2.2. PHÂN LOẠI CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT
2.2.1. Rào cản phi thuế quan
Là rào cản không dùng thuế quan mà sử dụng các biện pháp hành chính để phân biệt đối
xử chống lạ7i sự thâm nhập của hàng hoá nước ngoài, bảo vệ hàng hoá trong nước. Các nước
công nghiệp phát triển thường đưa ra lý do là nhằm bảo vệ sự an toàn và lợi ích của người tiêu
dùng, bảo vệ môi trường trong nước đã áp dụng các biện pháp phi thuế quan để giảm thiểu
lượng hàng hoá nhập khẩu.
Nhật Bản quy định cấm nhập khẩu đậu lạc có chứa Apflatoxin, Pháp không cho nhập
khẩu thịt bò mà trong quá trình chăn nuôi có sử dụng chất tăng trọng. Tháng 2/2002 EU loại
Trung Quốc ra khỏi danh sách các nước được phép xuất khẩu thuỷ sản vào khu vực do nước
Đây là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp chế biến hàng thuỷ sản nếu muốn
thâm nhập vào thị trường Mỹ, EU, NB, Australia, Canada..., Bộ Thuỷ sản Việt Nam quy định
các doanh nghiệp chế biến hàng thuỷ sản phải áp dụng HACCP kể từ năm 2000.
2.3.5. Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội SA 8000
Đây là tiêu chuẩn quốc tế dựa trên công ước quốc tế về lao động của Tổ chức Lao động
Quốc tế (ILO) của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và nhân quyền. Các nước Mỹ, EU, Nhật
Bản, Canada... quy định cấm nhập khẩu hàng hoá mà trong quá trình sản xuất có sử dụng lao
động trẻ em, lao động cưỡng bức, phân biệt đối xử, bắt người lao động làm việ quá thời hạn
cho phép của Luật lao động.
Ngoài ra còn 1 số hệ thống khác như QS 9000: áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất
ôtô; Q-Base: áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Như một tất yếu khách quan, khi các hàng rào thuế quan được các nước giảm sử dụng
theo xu hướng tự do hoá thương mại, các hàng rào phi thuế quan trong thương mại quốc tế
ngày càng được gia tăng áp dụng để bảo hộ sản xuất trong nước.
6
2.4. HIỆP ĐỊNH TBT
Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại (gọi tắt là Hiệp định TBT) là một trong
18 hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được xây dựng và thực thi. Theo Hiệp
định TBT, hàng rào kỹ thuật được thể hiện dưới các hình thức như Tiêu chuẩn và Văn bản quy
phạm pháp luật về kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật; quy trình đánh giá sự phù hợp. Đây là hàng rào
quy định về hệ thống quản trị chất lượng, môi trường, đạo đức kinh doanh, điểm kiểm soát tới
hạn..., đối với các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị trường.
2.4.1. Mục tiêu của Hiệp định
- Thúc đẩy các mục tiêu của hiệp định chung về hàng rào thuế quan
- Khẳng định vai trò quan trọng trong các tiêu chuẩn và các hệ thống quốc tế về đánh
giá sự phù hợp trong quá trình nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh thương mại
- Bảo đảm các tiêu chuẩn, văn bản pháp quy kỹ thuật và các quy trình đánh giá sự phù
hợp, không gây trở ngại cho thương mại quốc tế.
- Không ngăn cản các nước áp dụng áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm chất
lượng hàng xuất khẩu, bảo vệ sức khỏe, an toàn cuộc sống con người, động thực vật, bảo vệ
Điều 15 : Điều khoản cuối cùng
- Bảo lưu
- Soát xét
Phụ lục 1 (của Hiệp định TBT) : Thuật ngữ và định nghĩa của Hiệp định này
1. Pháp quy kỹ thuật
2. Tiêu chuẩn
3. Các quy trình đánh giá sự phù hợp
4. Tổ chức hoặc hệ thống quốc tế
5. Tổ chức hoặc hệ thống khu vực
6. Cơ quan Chính phủ trung ương
7. Cơ quan Chính phủ ở địa phương
8. Tổ chức phi chính phủ
Phụ lục 2 (của Hiệp định TBT) : Các nhóm chuyên gia kỹ thuật
Phụ lục 3 (của Hiệp định TBT) : Quy chế thủ tục đối với việc soạn thảo chấp nhận và
áp dụng các tiêu chuẩn
- Các quy định chung
- Các quy định bổ sung
2.5. CÁC HÌNH THỨC RÀO CẢN
Các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế rất đa dạng và được áp dụng rất khác
nhau ở các nước tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước. Các rào cản này có thể được
chia làm các loại hình sau:
2.5.1. Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, an toàn vệ sinh dịch tễ
8
Cơ quan chức năng đặt ra các yêu cầu liên quan chủ yếu đến kích thước, hình dáng,
thiết kế, độ dài và các chức năng của sản phẩm. Theo đó, các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuối
cùng, các phương pháp sản xuất và chế biến, các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và
chấp nhận, những quy định và các phương pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và các phương
pháp đánh giá rủi ro liên quan, các yêu cầu về an toàn thực phẩm, … được áp dụng. Mục đích
của các tiêu chuẩn và quy định này là nhằm bảo vệ an toàn, vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ, đời sống
động, thực vật, bảo vệ môi trường, …
dụng.
- Phí khí thải: áp dụng đối với các chất gây ô nhiễm thoát vào không khí, nước và đất,
hoặc gây tiếng ồn.
- Phí hành chính: áp dụng kết hợp với các quy định để trang trải các chi phí dịch vụ của
chính phủ để bảo vệ môi trường.
- Phí môi trường có thể được thu từ nhà sản xuất hoặc người tiêu dùng hoặc cả nhà sản
xuất và người tiêu dùng.
2.5.6. Nhãn sinh thái
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết
là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường. Các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái
được xây dựng trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, từ giai đoạn tiền sản xuất, sản
xuất, phân phối, tiêu thụ, thải loại sau sử dụng, qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với môi
trường của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó.
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái, thường được gọi là “sản phẩm xanh”, có khả năng
cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm cùng chủng loại nhưng không dán nhãn sinh thái do người
tiêu dùng thường thích và an tâm khi sử dụng các “sản phẩm xanh” hơn. Ví dụ, trên thị trường
Mỹ, các loại thuỷ sản có dán nhãn sinh thái thường có giá bán cao hơn, ít nhất 20%, có khi gấp
2-3 lần thuỷ sản thông thường cùng loại.
2.6. NHỮNG RÀO CẢN KỸ THUẬT Ở CÁC NƯỚC NHẬP KHẨU
2.6.1. Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật và an toàn vệ sinh
Đây sẽ là một trong những rào cản được phát huy tác dụng nhiều nhất trong giai đoạn
sắp tới, đặc biệt là đối với hàng thuỷ sản từ các nước đang phát triển. Đáp ứng những đòi hỏi
khắt khe, đôi khi quá đáng của các nước phát triển mà trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ
đã đi trước hàng thập kỷ đối với các nước đang phát triển là cả một vấn đề hết sức nan giải, đòi
hỏi một sự đầu tư lâu dài. 90% thương vụ gặp khó khăn khi đưa thuỷ sản vào các nước nhập
khẩu có liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật (theo PGS. TS. Võ Thanh Thu)
a. Quy định của Mỹ
Theo Bộ Luật Liên bang Mỹ 21 CFR, chỉ có các doanh nghiệp nước ngoài nào đã thực
hiện chương trình HACCP có hiệu quả mới được xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ. Đây là
một hệ thống quản lý chất lượng mang tính phòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và
hàng cụ thể, liệu đã có sự vi phạm được cơ quan hải quan báo cáo, thông tin về lĩnh vực vệ sinh
của hàng hoá hay thông tin do nước xuất khẩu cấp có đầy đủ không. Các nội dung sẽ được
kiểm tra gồm có:
- Nhãn hàng
- Kiểm tra cảm quan: màu sắc, độ tươi sáng, mùi, vị, …
- Kiểm tra tạp chất
- Kiểm tra nấm mốc
11
- Kiểm tra container, bao bì, …
Nếu như trong quá trình kiểm tra, lô hàng được xem là đạt yêu cầu, giấy chứng nhận sẽ
được chuyển đến cơ quan quản lý nhập khẩu và sau đó được thông quan. Nếu như lô hàng bị
kết luận là không đạt yêu cầu thì sẽ bị giữ lại để gửi trả về nước hoặc tiêu huỷ.
c. Quy định của EU
Theo các chuyên gia thuỷ sản, EU có hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn vệ sinh
thực phẩm vào loại nghiêm ngặt nhất thế giới. Hàng thuỷ sản của các nước đang phát triển đưa
vào EU phải tuân thủ theo các quy định sau đây:
- Quy định về vệ sinh: các nước muốn đưa hàng thuỷ sản vào EU phải nằm trong danh
sách các nước được xuất khẩu vào EU. Từng lô hàng phải kèm theo giấy chứng nhận đáp ứng
các yêu cầu của EU do cơ quan chức năng của nước xuất khẩu cấp.
- Quy định về chất lượng và an toàn thực phẩm: theo các quy chế 91/492/EEC và
91/493/EEC, các sản phẩm phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể về vệ sinh gồm độ tươi, độ sạch,
mức nhiễm vi sinh tối đa (bao gồm các vi sinh vật gây bệnh và các vi sinh vật chỉ thị), dự lượng
hoá chất (kim loại nặng, kháng sinh và thuốc trừ sâu), chất độc, độc tố sinh học biển và ký sinh
trùng.
- Quy định về giám sát: Quyết định 94/356/EEC yêu cầu nhà sản xuất có hàng thuỷ sản
xuất khẩu sang EU phải tổ chức giám sát hoạt động sản xuất và chế biến của mình phù hợp với
HACCP. Tiêu chuẩn HACCP là điều kiện quan trọng của doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản vào
EU.
Nếu hàng nhập khẩu thuỷ sản bị một nước thành viên EU phát hiện có vấn đề về chất
lượng lập tức sẽ bị đưa lên Hệ thống cảnh báo nhanh về thực phẩm (RASFF) cho tất cả các
mới được dùng chữ catfish để ghi nhãn mác, còn các loại cá da trơn khác không được ghi chữ
catfish trên nhãn mác, bao bì. Các doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn vào thị trường Mỹ sẽ phải
chịu thiệt hại đáng kể do sản phẩm sẽ phải thay đổi thương hiệu và bao bì. Các doanh nghiệp
phải in lại toàn bộ bao bì, phải tổ chức quảng cáo, tiếp thị lại, … rất tốn kém.
2.6.4. Các yêu cầu về đóng gói bao bì
Hiện nay, thị trường các nước phát triển quy định tương đối chặt và tương đồng với
nhau về bao bì sản phẩm. Có thể khái quát một số điểm đáng lưu ý như sau:
- Chất liệu bao bì đóng gói giới hạn trong một số chất cho phép, có thể tái sinh và tái sử
dụng. Nếu doanh nghiệp xuất khẩu không đáp ứng được thì doanh nghiệp nhập khẩu phải đóng
gói lại, hao phí đóng gói lại khiến doanh nghiệp nhập khẩu không muốn mua hàng từ người
xuất khẩu cũ nữa.
Bao bì nhựa phải đảm bảo không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, việc tiếp xúc
giữa sản phẩm và chất nhựa của bao bì không gây ra bất cứ phản ứng và nguy hại nào. EU đã
ban hành một danh sách các loại bao bì nhựa được phép sử dụng, trong đó hơn một nửa loại vật
liệu làm bao bì các nước đang phát triển không sản xuất được.
- Các sản phẩm đóng hộp phải đáp ứng các yêu cầu về kim loại.
- Khay bìa phải đảm bảo khi bị nung nóng không bị cong, ngả màu.
13
2.6.5. Nhãn sinh thái
Gần đây Mỹ, EU và Nhật Bản đã cho thanh tra lại việc cho dán nhãn sinh thái đối với
các sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu và đưa thêm một số tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh, bảo
vệ môi trường, … vào những yêu cầu để sản phẩm có thể dán nhãn sinh thái. Sắp tới, việc sử
dụng công cụ nhãn sinh thái kết hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường sẽ rất phổ biến,
nhất là trong các nước phát triển do xu hướng yêu thích sản phẩm có dán nhãn sinh thái tăng lên
rất nhanh.
2.7. MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ NHẬP KHẨU Ở HOA KỲ
Luật An ninh Y tế và Sẵn sàng Đối phó với Khủng bố Sinh học năm 2002 (Public
Health Security and Bioterrorism Preparedness and Response Act of 2002), gọi tắt là Luật
Chống Khủng bố Sinh học (the Bioterrorism Act), do Tổng thống Hoa Kỳ G.W. Bush ký ngày
12/6/2002 đã chỉ định Bộ trưởng Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân dân tiến hành các biện pháp cần
Live food animals Động vật sống dùng làm thực phẩm
14