nghiên cứu giải pháp xác thực và bảo mật tài liệu trong trao đổi văn bản trên môi trường mạng giữa các cơ quan nhà nước - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
TRỊNH XUÂN HOÀNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XÁC THỰC VF BẢO MẬT
TÀI LIỆU TRONG TRAO ĐỔI VĂN BẢN TRÊN MÔI
TRƢỜNG MẠNG GIỮA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - Năm 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN TRỊNH XUÂN HOÀNG

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XÁC THỰC VF BẢO MẬT
TÀI LIỆU TRONG TRAO ĐỔI VĂN BẢN TRÊN MÔI
TRƢỜNG MẠNG GIỮA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC

1.1.2. Khái niệm về đảm bảo an toàn thông tin 9
1.1.3. Khái niệm về đánh giá an toàn thông tin 10
1.2. Thực trạng về an toàn thông tin trong các cơ quan nhà nước 11
1.3. Nhu cầu về an toàn thông tin trong ứng dụng tại các cơ quan nhà nước 12
1.4. Một số kỹ thuật mật mã 13
1.4.1. Các hệ mật mã 13
1.4.2. Các thuật toán mật mã 15
1.4.3. Chữ ký số 18
1.4.4. Phân phối khóa công khai 20
1.4.5. Chứng chỉ khóa công khai 20
1.4.6. Hạ tầng khóa công khai 21
1.5. Kết luận chương 23
Chƣơng-2. MỘT SỐ CƠ SỞ MẬT MÃ PHỤC VỤ AN TOÀN THÔNG TIN 24
2.1. Lược đồ mã RSA-OAEP 24
2.1.1. Hàm mã hoá RSAES-OAEP 24

Trang 4
2.1.2. Hàm giải mã RSAES-OAEP 26
2.1.3. Yêu cầu tham số an toàn cho hệ mật RSA 28
2.2. Thuật toán mã khối AES 29
2.2.1. Giới thiệu thuật toán AES 30
2.2.2. Cấu trúc bên trong của AES. 31
2.2.3. Một số yêu cầu đảm bảo an toàn khi ứng dụng mã khối AES 36
2.3. Kết luận chương 39
Chƣơng-3. GIẢI PHÁP XÁC THỰC VÀ BẢO MẬT 40
3.1. Giới thiệu giải pháp 40
3.2. Sơ đồ kiến trúc giải pháp xác thực tài liệu trên môi trường mạng 40
3.3. Phân tích thiết kế giải pháp 43
3.3.1. Các chức năng cần thiết cho yêu cầu của phần mềm xác thực 43
3.3.2. Lựa chọn ngôn ngữ lập trình và công cụ thiết kế ứng dụng 44

Người đột nhập vào máy tính và phá hoại máy tính (tin tặc)
HTTP
Hypertext Transfer Protocol – Giao thức truyền siêu văn bản
HTTPS
Hypertext Transfer Protocol over Secure Socket Layer - Giao thức
truyền siêu văn bản thông qua an ninh thông tin
IPS
Intrusion Prevention System – hệ thống ngăn chặn và phát hiện xâm
nhập
MD5
Message Digest algorithm 5 - giải thuật của hàm băm
PKI
Public Key Infrastructure – Cơ sở hạ tầng khóa công khai
RSA
Rivest, Shamir and Adleman - Giải thuật mã hóa công khai
Server
Máy chủ, cung cấp các dịch vụ, ứng dụng
SHA
Secure Hash Algorithm – Giải thuật băm an toàn
SSL
Secure Socket Layer - Giao thức an ninh thông tin
TCP/IP
Transmission Control Protocol/Internet Protocol - một hệ thống các
giao thức hỗ trợ việc truyền thông tin trên mạng
WEB
Một loại siêu văn bản (tập tin dạng HTML hoặc XHTML) trình bày
thông tin trên mạng Internet, tại một địa chỉ nhất định

lao động, cải thiện chất lượng dịch vụ cho các dịch vụ hành chính công. Tuy
nhiên khi triển khai các hoạt động chính phủ điện tử trên nền mạng Internet
thì yếu tố an toàn cần phải được đặt lên hàng đầu, vì song song với những lợi
ích mang lại thì Internet cũng là nơi tiềm ẩn vô vàn nguy cơ mất an toàn
thông tin có thể dẫn đến hậu quả khôn lường. Chính vì những vấn đề thực tiễn
trên, luận văn: “Nghiên cứu giải pháp xác thực và bảo mật tài liệu trong
trao đổi văn bản trên môi trường mạng giữa các cơ quan nhà nước” nhằm
nâng cao việc xác thực và an toàn thông tin trong các hoạt động của các cơ
quan, tổ chức trong các ứng dụng trên môi trường mạng.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu giải pháp xác thực và bảo mật tài liệu trong trao
đổi văn bản trên môi trường mạng giữa các cơ quan nhà nước và ứng dụng
thành công tại tỉnh Thái Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng và nhu cầu về an toàn thông
tin trong các cơ quan nhà nước; các tiêu chuẩn, cơ sở mật mã, giải pháp công

Trang 8
nghệ; trên cơ sở đó nghiên cứu giải pháp xác thực và bảo mật trong trao đổi
tài liệu trên môi trường mạng.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận phân tích và tổng hợp: Đọc tài liệu, tổng hợp lý thuyết, phân
tích lý thuyết về Hệ mật mã đối xứng, hệ mật mã bất đối xứng (hệ mật mã
khóa công khai), chữ ký số.
- Tiếp cận theo định tính và định lượng: Nghiên cứu cơ sở khoa học của
mã hóa, chữ ký số của các tác giả trong và ngoài nước, các bài báo, thu thập
thông tin trên mạng, tìm hiểu các mô hình bảo mật, chứng chỉ số. Từ đó trình
bày theo ý tưởng của mình và đề xuất các giải pháp xác thực và bảo mật tài
liệu trong trao đổi văn bản trên môi trường mạng giữa các cơ quan nhà nước
trên địa bàn.

tải trên mạng (theo định nghĩa trong Nghị định 64-2007/NĐ-CP) [4].
Thuật ngữ an toàn CNTT thường sử dụng để chỉ việc ngăn chặn và làm
giảm nhẹ các mối nguy hại tương tự đối với các sản phẩm và hệ thống CNTT.
1.1.2. Khái niệm về đảm bảo an toàn thông tin
Mục tiêu hướng tới của người dùng là bảo vệ các tài sản nói trên. Tuy
nhiên, các sản phẩm và hệ thống thường luôn tồn tại những điểm yếu dẫn đến
những rủi ro có thể xảy ra, làm tổn hại đến giá trị tài sản thông tin. Các đối
tượng tấn công (tin tặc) có chủ tâm đánh cắp, lợi dụng hoặc phá hoại tài sản

Trang 10
của các chủ sở hữu, tìm cách khai thác các điểm yếu để tấn công, tạo ra các
nguy cơ và các rủi ro cho các hệ thống.
Với các biện pháp an toàn thông tin người dùng có được công cụ trong
tay để nhận thức được các điểm yếu, giảm thiểu các điểm yếu, ngăn chặn các
nguy cơ tấn công, làm giảm các yếu tố rủi ro. Như vậy, các biện pháp và kỹ
thuật đảm bảo an toàn thông tin chính là mang lại sự tin cậy cho các sản phẩm
và hệ thống.
Đảm bảo an toàn thông tin là đảm bảo an toàn kỹ thuật cho hoạt động
của các cơ sở hạ tầng thông tin, trong đó bao gồm đảm bảo an toàn cho cả
phần cứng và phần mềm hoạt động theo các tiêu chuẩn kỹ thuật do nhà nước
ban hành; ngăn ngừa khả năng lợi dụng mạng và các cơ sở hạ tầng thông tin
để thực hiện các hành vi trái phép gây hại cho cộng đồng, phạm pháp hay
khủng bố; đảm bảo các tính chất bí mật, toàn vẹn, chính xác, sẵn sàng phục
vụ của thông tin trong lưu trữ, xử lý và truyền tải trên mạng.
Như vậy khái niệm đảm bảo an toàn thông tin bao hàm đảm bảo an toàn
cho cả phần cứng và phần mềm. An toàn phần cứng là bảo đảm hoạt động cho
cơ sở hạ tầng thông tin. An toàn phần mềm gồm các hoạt động quản lý, kỹ
thuật nhằm bảo vệ hệ thống thông tin, đảm bảo cho các hệ thống thực hiện
đúng chức năng, phục vụ đúng đối tượng một cách sẵn sàng, chính xác, tin
cậy. An toàn công nghệ thông tin là đảm bảo an toàn kỹ thuật cho các sản

dịch vụ công trực tuyến (có hơn 800 dịch vụ mức độ 3 và 8 dịch vụ mức độ
4). Những ứng dụng nội bộ phục vụ chỉ đạo, điều hành đã và đang được khai
thác, mở rộng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, phục vụ người dân và
doanh nghiệp tốt hơn.
Bên cạnh việc đầu tư cho ứng dụng CNTT thì vấn đề an toàn và bảo mật
thông tin còn chưa thực sự được chú trong đầu tư. Theo phát biểu của Thứ
trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Minh Hồng tại Hội thảo về

Trang 12
công tác an toàn thông tin trong chính phủ điện tử ngày 25/5/2012 tại Hà Nội
đã nhận định: “Vấn đề an toàn thông tin (ATTT) hiện nay đang đặt ra nhiều
thách thức, số liệu thống kê 2011 cho thấy, chỉ có khoảng 35% cơ quan, tổ
chức đã xây dựng và áp dụng chính sách ATTT. Các Cổng/Trang thông tin
điện tử của các cơ quan Nhà nước còn tồn tại nhiều lỗ hổng, chưa áp dụng
những giải pháp đảm bảo ATTT phù hợp. Những vụ việc mất ATTT, vấn nạn
thư rác, tấn công xâm nhập gia tăng ở mức báo động về số lượng, đa dạng về
hình thức và ngày càng tinh vi hơn”.
Theo thống kê của Bkav, tính từ đầu năm 2012 đến nay, mỗi ngày có tới
6 website tại Việt Nam bị tấn công, tương ứng với hơn 2.000 website bị hack
mỗi năm. Đã có 175 website của các cơ quan, doanh nghiệp tại Việt Nam bị
hacker xâm nhập, trong đó có 24 trường hợp gây ra bởi hacker trong nước,
151 trường hợp do hacker nước ngoài. Hầu hết nguyên nhân của các vụ hack
này là do website tồn tại nhiều lỗ hổng.
1.3. Nhu cầu về an toàn thông tin trong ứng dụng tại các cơ quan nhà
nước
Những thông tin trên cho thấy việc lựa chọn giải pháp và đầu tư cho an
toàn thông tin là vấn đề cần được các cơ quan nhà nước chú trọng đầu tư, bên
cạnh đó là việc hoàn thiện hành lang chính sách và pháp lý trong lĩnh vực này
để việc ứng dụng CNTT thực sự có hiệu quả.
Tại Thái Bình, đến nay đã triển khai xây dựng Công thông tin điện tử, hệ

Lưu nhật ký và sử dụng công cụ kiểm toán
1.4.1. Các hệ mật mã
Hệ mật chính là hệ thống cung cấp các kỹ thuật mã hóa và giải mã dữ
liệu, được phân loại thành hệ mật khóa công khai và hệ mật khóa đối xứng.
Hệ mật khóa đối xứng sử dụng cùng một khóa khi mã hóa và giải mã,
được minh hoạ trong Hình 1.1. Độ an toàn của hệ mật này phụ thuộc chính
vào sự bí mật của khóa.

Hình 1.1. Hệ mật khóa đối xứng đảm bảo tính bí mật và xác thực

Trang 14
Hệ mật khóa công khai sử dụng một cặp khóa (khóa riêng và khóa công
khai), một khóa được sử dụng để mã hóa và khóa còn lại được sử dụng để giải
mã, được minh hoạ trong dưới đây:

Hình 1.2. Hệ mật khoá công khai
Mục đích chính của hệ mật khóa công khai là phân phối khóa và ký số.
Các ứng dụng của hệ mật này gồm có:
- Mã hóa/giải mã: Người gửi mã hóa thông báo với khóa công khai của
người nhận. Người nhận giải mã thông báo bằng khóa riêng của mình.
- Chữ ký số: Người gửi ký số thông báo với khóa riêng của mình. Người
nhận kiểm tra chữ ký số bằng khóa công khai của người gửi.

Trang 15
- Trao đổi khóa: Hai thành viên trao đổi khóa bí mật với nhau bằng cách
mã hóa khóa bí mật với khóa công khai của người nhận và ký số (tùy chọn)
khóa bí mật bằng cách sử dụng khóa riêng của người gửi.
1.4.2. Các thuật toán mật mã
Các thuật toán mật mã được sử dụng trong các hệ mật nêu trên đều dựa
trên 3 loại thuật toán sau:

- Chậm hơn từ 100 – 1000 lần so với các thuật toán mật mã dựa trên
khóa bí mật, thường được sử dụng để trao đổi khóa bí mật cho các thuật toán
mật mã dựa trên khóa bí mật để mã hóa dữ liệu.
- Vấn đề xác thực cặp khóa: các thành viên trao đổi dữ liệu cần biết rõ
người sở hữu cặp khóa chính là người mà anh ta tự nhận. Điều này được giải
quyết bằng chữ ký số và chứng chỉ khóa công khai.
- Cần phải có cơ chế công bố khóa công khai để người gửi biết được
khóa công khai của người nhận và ngược lại. Điều này được giải quyết bằng
các kỹ thuật phân phối khóa công khai và triển khai hạ tầng khóa công khai.
Trong phần tiếp theo, luận văn sẽ trình bày một số vấn đề về sử dụng mã
hóa khóa công khai để trao đổi khóa bí mật, chữ ký số, phân phối khóa công
khai, chứng chỉ khóa công khai và hạ tầng khóa công khai.
Sử dụng mã hóa khóa công khai để trao đổi khóa bí mật:
Để phân phối khóa bí mật, ta có thể sử dụng một trong hai lược đồ sau:
- Lược đồ phân phối khóa bí mật đơn giản của Merkle:
Khi A muốn truyền thông với B, thủ tục được tiến hành như sau:
1. A tạo ra một cặp khóa {KUa, KRa} và truyền thông báo cho B gồm
KUa và tên của A (IDA).

Trang 17
2. B tạo ra khóa bí mật Ks và gửi cho A sau khi mã hóa với khóa công
khai của A.
3. A tính toán DKRa[EKUa[Ks]] để khôi phục lại khóa bí mật. Chỉ A có
khóa riêng nên giải mã được khóa bí mật. Chỉ A và B biết khóa bí mật Ks.
A và B truyền thông an toàn với nhau bằng cách sử dụng mã hóa đối
xứng với khóa bí mật Ks. Sau khi kết thúc quá trình trao đổi, A và B cùng hủy
bỏ khóa bí mật. Tuy đơn giản nhưng đây là một giao thức hấp dẫn, không có
khóa nào tồn tại trước và sau khi liên lạc, rủi ro do lộ khóa là rất nhỏ, nhưng
có điểm yếu dễ bị tấn công chủ động. Nếu kiểm soát được kênh truyền thông,
đối tượng E có thể dàn xếp cuộc truyền thông mà không bị phát hiện, theo

5. B tính toán DKUa[EKRb[M]] để khôi phục khóa bí mật.
1.4.3. Chữ ký số
Chữ ký số là dữ liệu để xác định nguồn gốc và tính toàn vẹn của thông
báo. Người gửi sử dụng khóa riêng của mình để ký số thông báo hay tạo chữ
ký số cho thông báo được gửi đi. Người nhận sử dụng khóa công khai của
người gửi để kiểm tra nguồn gốc thông báo và xác định thông báo không bị
thay đổi trên đường truyền.
Chữ ký số tương tự như chữ ký viết tay và phải có một số tính chất sau:
- Có khả năng kiểm tra chữ ký số và thời gian ký số.
- Có khả năng xác thực các nội dung tại thời điểm ký số.
- Thành viên thứ 3 có thể kiểm tra chữ ký số để giải quyết các tranh
chấp.
Dựa vào các tính chất cơ bản này, chữ ký số có các yêu cầu sau:
- Phải là một mẫu bít phụ thuộc vào thông báo được ký số.
- Phải sử dụng một thông tin duy nhất của người gửi để ngăn chặn tình
trạng làm giả và chối bỏ.
- Được tạo ra dễ dàng.

Trang 19
- Khó có thể làm giả chữ ký số bằng cách tạo ra một thông báo mới cho
một chữ ký số hiện có, hoặc tạo ra một chữ ký số giả mạo cho một thông báo
cho trước.
- Trong thực tế, cần lưu giữ một bản sao của chữ ký số.
Lược đồ ký số và kiểm tra chữ ký số được minh họa trong dưới đây:

Hình 1.3. Lƣợc đồ ký số và kiểm tra chữ ký số
Chữ ký số được tạo ra bằng cách mã hóa giá trị tóm lược (được tạo ra từ
thông báo ban đầu bằng cách sử dụng thuật toán tóm lược) với khóa riêng của
người gửi. Quá trình kiểm tra chữ ký số gồm các bước: sử dụng thuật toán
tóm lược để tạo ra một tóm lược tính được từ thông báo nhận được, giải mã

Chứng chỉ khóa công khai là sự gắn kết khóa công khai của một thực thể
(con người, thiết bị phần cứng, dịch vụ) với một hoặc nhiều thuộc tính nhận
dạng thực thể, được một cơ quan chứng thực (Certification Authority - viết tắt
là CA) phát hành.
Khi sử dụng mã hóa khóa công khai để mã hóa một thông báo và chuyển
cho người nhận, người gửi cần khóa công khai của người nhận. Khi muốn
kiểm tra chữ ký số trên thông báo nhận được, người nhận cần khóa công khai

Trang 21
của người ký số. Khóa công khai không cần giữ bí mật nhưng người sử dụng
khóa công khai cần đảm bảo rằng, khóa công khai được sử dụng đúng là của
người nhận thông báo hoặc người ký số.
Chứng chỉ khóa công khai giúp cho việc phân phối khóa công khai trở
nên có hệ thống và có một đặc tính rất quan trọng là các chứng chỉ có thể
được phát hành trên các kênh truyền mà không cần đến các kỹ thuật bảo vệ.
Khuôn dạng chứng chỉ khóa công khai được sử dụng phổ biến rộng rãi là
X.509.
Mỗi chứng chỉ gồm có một khóa công khai, thông tin nhận dạng chủ thể
của chứng chỉ và được CA ký số bằng khóa riêng của CA. Khóa công khai
của CA được phân phối cho người sử dụng thông qua một kênh an toàn và tin
cậy, ví dụ phân phối thủ công. Chứng chỉ được phát hành trong một khoảng
thời gian định trước được ghi trên chứng chỉ và nằm trong phần thông tin
được CA ký số. Sau khi chứng chỉ hết hạn, sự ràng buộc giữa khóa công khai
và chủ thể của chứng chỉ không còn hợp lệ và chứng chỉ không còn được tin
cậy, người sử dụng khóa công khai không nên sử dụng khóa công khai có
trong chứng chỉ này trừ khi muốn chứng thực lại hoạt động trước đó, ví dụ
kiểm tra chữ ký số trên một tài liệu cũ.
Lợi ích cơ bản của một hệ thống chứng chỉ là người sử dụng có thể có
được số lượng lớn khóa công khai của các những người sử dụng khác một
cách tin cậy, xuất phát từ thông tin khóa công khai của một CA.


Trang 23
- Cơ quan chứng thực (CA) sinh cặp khóa, tạo, phát hành, phân phối và
hủy bỏ chứng chỉ khóa công khai, duy trì hệ thống sao lưu và phục hồi khóa,
chứng thực chéo.
- Cơ quan đăng ký (RA) nhận thông tin đăng ký chứng chỉ khóa công
khai (trực tiếp, từ xa, tự động) hoặc thông tin hủy bỏ các chứng chỉ.
- Hệ thống quản lý và phân phối chứng chỉ cung cấp hệ thống thư mục
lưu giữ chứng chỉ khóa công khai và danh sách chứng chỉ bị hủy bỏ
(Certificate Revocation List - viết tắt là CRL).
- Các ứng dụng PKI như đảm bảo an toàn thông tin cá nhân, xử lý chứng
chỉ khóa công khai, đảm bảo truy nhập cơ sở dữ liệu và truyền thông an toàn.
1.5. Kết luận chương
Trong chương này, luận văn nghiên cứu tìm hiểu một số cơ sở nền tảng
để giải quyết vấn đề an toàn thông tin, bao gồm:
Phân tích, tìm hiểu một số khái niệm về an toàn thông tin theo Nghị định
số: 64-2007/NĐ-CP của Chính phủ để có định hướng nghiên cứu phù hợp;
Tìm hiểu về thực trạng về an toàn thông tin trong các cơ quan nhà nước
qua đó đánh giá được nhu cầu về an toàn thông tin;
Tìm hiểu một số kỹ thuật mật mã trong an toàn thông tin đã được nghiên
cứu, đánh giá, chứng minh tính an toàn, tin cậy và hiệu quả trong thực tế làm
cơ sở để giải quyết vấn đề an toàn thông tin trong thực tế.

Trang 24
Chƣơng-2. MỘT SỐ CƠ SỞ MẬT MÃ PHỤC VỤ AN TOÀN
THÔNG TIN
Trong chương 2, luận văn tổng hợp, phân tích một số tiêu chuẩn về an
toàn thông tin, chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số: Đối với mã hoá phi
đối xứng và chữ ký số, áp dụng lược đồ RSA-OAEP theo chuẩn PKCS#1v2.1 [8];
đối với mã hóa đối xứng áp dụng thuật toán mã khối AES [7].


Trang 25
Các bƣớc thực hiện:
Bước1) Kiểm tra độ dài:
a. Nếu độ dài của L lớn hơn giới hạn đầu vào cho hàm băm (2
61
- 1 byte
đối với SHA-1), thì cho ra “nhãn quá dài” và dừng.
b. Nếu mLen > k -2hLen-2 thì cho ra “thông báo quá dài” và dừng.
Bước 2) Chuẩn bị dữ liệu EME-OAEP :
a. Nếu L không được cung cấp thì L là chuỗi rỗng. Đặt lHash=Hash(L),
chuỗi byte có độ dài hLen. Lưu ý, nếu L là chuỗi rỗng, giá trị lHash có biểu
diễn hex sau cho các lựa chọn khác nhau của Hash:
SHA-1: (0x)da39a3ee 5e6b4b0d 3255bfef 95601890 afd80709
SHA-256: (0x)e3b0c442 98fc1c14 9afbf4c8 996fb924 27ae41e4
649b934c a495991b 7852b855
SHA-384: (0x)38b060a7 51ac9638 4cd9327e b1b1e36a 21fdb711
14be0743 4c0cc7bf 63f6e1da 274edebf e76f65fb d51ad2f1 4898b95b
SHA-512: (0x)cf83e135 7eefb8bd f1542850 d66d8007 d620e405
0b5715dc 83f4a921 d36ce9ce 47d0d13c 5d85f2b0 ff8318d2 877eec2f
63b931bd 47417a81 a538327a f927da3e
b. Sinh chuỗi byte PS chứa k-mLen-2hLen byte 0. Độ dài của PS có thể
là 0.
c. Nối lHash, PS, một byte duy nhất với giá trị hexa 0x01 và thông báo
M để tạo nên khối dữ liệu DB có độ dài k- hLen -1: DB = lHash || PS || 0x01 ||
M.
d. Sinh một chuỗi byte ngẫu nhiên seed có độ dài hLen.
e. Đặt dbMask = MGF(seed, k- hLen -1).
f. Đặt maskedDB = DB  dbMask.
g. Đặt seedMask = MGF(maskedDB, hLen).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status