nghiên cứu xác định terpin hydrat và paracetamol trong một số dược phẩm bằng phương pháp trắc quang - Pdf 24


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
*** NGUYỄN VĂN ĐỒNG
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TERPIN HYDRAT VÀ
PARACETAMOL TRONG MỘT SỐ DƢỢC PHẨM
BẰNG PHƢƠNG PHÁP TRẮC QUANG

Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã số: 60.44.29
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS HOÀNG THỌ TÍN
Hà Nội - 2011
1.2. Khảo sát thứ tự cho thuốc thử và nồng độ thuốc thử 21

1.3. Khảo sát độ bền của phức theo thời gian 22
1.4. Khảo sát ảnh hƣởng của một số ion 23
1.5. Khảo sát sự tuân theo định luật Lambert – Beer 24
1.6. Lập đƣờng chuẩn xác định PA 25
1.7. Độ lặp lại 28
1.8. Xác định PA trong mẫu thuốc 29
1.8.1. Xác định PA trong mẫu thuốc Pacemin 30
1.8.2. Xác định PA trong mẫu thuốc Panadol Extra 33
1.8.3. Xác định PA trong mẫu thuốc Tiffy FU 35
1.8.4. Xác định PA trong mẫu thuốc Efferalgan 38
1.8.5. Xác định PA trong mẫu thuốc Siro Tiffy 40
2. Sử dụng phƣơng pháp HPLC để xác định PA 43
2.1. Khảo sát sự xuất hiện peak của PA 43
2.2. Khảo sát ảnh hƣởng đệm 44
2.3. Khảo sát ảnh hƣởng tốc độ dòng 44
2.4. Khảo sát ảnh hƣởng thể tích tiêm 45
2.5. Khảo sát ảnh hƣởng tỷ lệ pha động 46
2.6. Khảo sát ảnh hƣởng pH pha động 47
2.7. Lập đƣờng chuẩn xác định PA 49
2.8. Độ lặp lại 53
2.9. Xác định PA trong mẫu thuốc 56
2.9.1. Xác định PA trong mẫu thuốc Pacemin 56
2.9.2. Xác định PA trong mẫu thuốc Panadol Extra 56
2.9.3. Xác định PA trong mẫu thuốc Tiffy FU 63
2.9.4. Xác định PA trong mẫu thuốc Efferalgan 66
2.9.5. Xác định PA trong mẫu thuốc Siro Tiffy 69
2.10. Kiểm chứng kết quả bằng hai phƣơng pháp 72
3. Xác định TEP bằng phƣơng pháp trắc quang 73


DANH MỤC BẢNG

Stt
Tên bảng
Trang
1
Bảng 1: khảo sát ảnh hưởng nồng độ thuốc thử tới độ hấp thụ quang của PA
22
2
Bảng 2: khảo sát sự ảnh hưởng của các ion tới độ hấp thụ quang của PA
23
3
Bảng 3: Khảo sát sự tuân theo định luật Lambert – Beer
24
4
Bảng 4: Kết quả xác định đường chuẩn PA
25
5
Bảng 5: Các giá trị thống kê được xử lý bằng phần mềm Excel
27
6
Bảng 6: Kết quả khảo sát độ lặp lại ở 3 nồng độ của PA
28

16
Bảng 16: hiệu suất thu hồi của quá trình xác định PA trong mẫu thuốc
Efferalgan
40
17
Bảng 17: kết quả mật độ quang xác định PA trong mẫu Siro Tiffy
41
18
Bảng 18: hiệu suất thu hồi của quá trình xác định PA trong mẫu thuốc
Siro Tiffy
43
19
Bảng 19: kết quả khảo sát ảnh hưởng tốc độ dòng
45
20
Bảng 20: kết quả khảo sát ảnh hưởng thể tích tiêm
45
21
Bảng 21: kết quả khảo sát tỷ lệ pha động
46
22
Bảng 22: kết quả ảnh hưởng pH pha động
47
23
Bảng 23: kết quả lập đường chuẩn xác định PA
49
24
Bảng 24: Các giá trị thống kê được xử lý bằng phần mềm Excel
52
25

Bảng 34: kết quả diện tích peak xác định PA trong mẫu Efferalgan
66
35
Bảng 35: hiệu suất thu hồi của quá trình xác định PA trong mẫu thuốc
Efferalgan (HPLC)
69
36
Bảng 36: kết quả diện tích peak xác định PA trong Siro Tiffy
69
37
Bảng 37: hiệu suất thu hồi của quá trình xác định PA trong mẫu thuốc
Siro Tiffy (HPLC)
72
38
Bảng 38: thống kê kết quả xác định PA bằng hai phương pháp UV – VIS và
HPLC
72
39
Bảng 39: khảo sát sự phụ thuộc mật độ quang của TEP vào nồng độ thuốc
thử
74
40
Bảng 40: Ảnh hưởng của thời gian đun nóng đến sự hình thành phức
75
41
Bảng 41: khảo sát sự ảnh hưởng của các ion tới độ hấp thụ quang của TEP
76
42
Bảng 42: Khảo sát sự tuân theo định luật Lambert – Beer của TEP
77


DANH MỤC HÌNH

Stt
Tên hình
Trang
1
Hình 1: đồ thị khảo sát bước sóng hấp thụ cực đại của PA
21
2
Hình 2: đồ thị sự phụ thuộc mật độ quang của PA vào nồng độ thuốc thử
22
3
Hình 3: đồ thị khảo sát đồ bền của phức PA
23
4
Hình 4: đồ thị khảo sát sự ảnh hưởng của các ion tới mật độ quang của PA
24
5
Hình 5: đồ thị khảo sát tuân theo định luật Lambert – beer
25
6
Hình 6: đồ thị đường chuẩn xác định PA
26
7
Hình 7: đồ thị đường thêm chuẩn xác định PA trong Pacemin
31
8
Hình 8: đồ thị ngoại suy xác định nồng độ PA trong Pacemin
31

19
Hình 19: đồ thị đường thêm chuẩn xác định PA trong mẫu Pacemin
57
20
Hình 20: đồ thị ngoại suy xác định nồng độ PA trong Pacemin
58
21
Hình 21: đồ thị đường thêm chuẩn xác định PA trong Panadol Extra
61
22
Hình 22: đồ thị ngoại suy xác định nồng độ PA trong Panadol Extra
61
23
Hình 23: đồ thị đường thêm chuẩn xác định PA trong Tiffy FU
64
24
Hình 24: đồ thị ngoại suy xác định nồng độ PA trong Tiffy FU
64
25
Hình 25: đồ thị đường thêm chuẩn xác định PA trong Efferalgan
67
26
Hình 26: đồ thị ngoại suy xác định nồng độ PA trong Efferalgan
68
27
Hình 27: đồ thị đường thêm chuẩn xác định PA trong Siro Tiffy
70
28
Hình 28: đồ thị ngoại suy xác định nồng độ PA trong Siro Tiffy
71

Hình 38: đồ thị đường thêm chuẩn xác định TEP trong KTB
86
39
Hình 39: đồ thị ngoại suy xác định nồng độ TEP trong KTB
87
40
Hình 40: đồ thị đường thêm chuẩn xác định TEP trong ACD
89
41
Hình 41: đồ thị ngoại suy xác định nồng độ TEP trong ACD
90 - 1 -
MỞ ĐẦU
Từ xƣa, ngƣời ta đã sử dụng cây liễu làm thuốc hạ sốt, mà sau này đã chiết xuất
đƣợc aspirin. Thế kỷ 19, cây canh ki na và chất chiết xuất từ nó là quinin đƣợc sử dụng để
làm hạ sốt trong bệnh sốt rét [16].
Khi cây canh kina dần khan hiếm vào những năm 1880, ngƣời ta bắt đầu đi tìm các thuốc
thay thế. Khi đó 2 thuốc hạ sốt đã đƣợc tìm ra là acetanilide năm 1886 và phenacetin năm
1887. Năm 1878 Harmon Northrop Morse đầu tiên đã tổng hợp đƣợc paracetamol từ
nguyên liệu ban đầu p-nitrophenol cùng với thiếc trong giấm đóng băng [18]. Tuy nhiên,
paracetamol đã không đƣợc dùng làm thuốc điều trị trong suốt 15 năm sau đó. Năm 1893,
paracetamol đã đƣợc tìm thấy trong nƣớc tiểu của ngƣời uống phenacetin, và đã đƣợc cô
đặc thành một chất kết tinh màu trắng có vị đắng. Năm 1899, paracetamol đƣợc khám phá
là một chất chuyển hóa của acetanilide. Khám phá này đã bị lãng quên vào thời gian đó.
Năm 1946, Viện nghiên cứu về giảm đau và thuốc giảm đau (the Institute for the Study of
Analgesic and Sedative Drugs) đã tài trợ cho Sở y tế New York để nghiên cứu các vấn đề
xung quanh các thuốc điều trị đau. Bernard Brodie và Julius Axelrod đƣợc chỉ định
nghiên cứu tại sao các thuốc non-aspirin lại liên quan đến tình trạng gây met-hemoglobin,

9
NO
2

Khối lƣợng phân tử: 151,17
Dạng tinh khiết bột kết tinh màu trắng
Tỷ trọng: 1,263 g/mol
Bán rã: 1 – 4 giờ
Nhiệt độ nóng chảy: 168 – 172
0
C
Độ tan: Tan trong nƣớc nóng, khó tan trong nƣớc lạnh, dễ tan trong kiềm, ethanol
1.2. Tính chất dƣợc học của Paracetamol [6]:
+ Nhóm dƣợc lý: Thuốc giảm đau, hạ sốt
+ Tên biệt dƣợc: Paracetamol, acetaminophen
+ Dạng thuốc và hàm lƣợng:
Uống: nang 500mg
Nang (chứa bột để pha dung dịch): 80mg
Gói để pha dung dịch: 80mg, 120mg, 150mg/5ml
Dung dịch: 26 mg/ml, 32 mg/ml, 48mg/ml, 100mg/ml
Dịch treo: 32mg/ml, 100mg/ml
Viên nén có thể nhai: 80mg, 100mg, 160mg.
Viên nén giải phóng kéo dài, bao phim: 650mg.
Viên nén, bao phim: 160mg, 325mg, 500mg.
Thuốc đạn: 80mg, 120mg, 125mg, 150mg, 300mg, 325mg, 650mg.
+ Thành phần: paracetamol
1.2.1. Dƣợc lý và cơ chế tác dụng:
Paracetamol (acetaminophen hay N - acetyl – p – aminophenol) là chất chuyển hóa
có hoạt tính của phenacetin, là thuốc giảm đau - hạ sốt hữu hiệu có thể thay thế
- 3 -

nhỏ những chất chuyển hóa hydroxyl – hóa và khử acetyl. Trẻ nhỏ ít khả năng
glucuro liên hợp với thuốc hơn so với ngƣời lớn.
- 4 -
Paracetamol bị N – hydroxyl hóa bởi cytochrom P
450
để tạo nên N – acetyl –
benzoquinonimin một chất trung gian có tính phản ứng cao. Chất chuyển hóa này
bình thƣờng phản ứng với các nhóm sulfhydryl trong glutathion và nhƣ vậy bị khử
hoạt tính. Tuy nhiên, nếu uống liều cao paracetamol, chất chuyển hóa này đƣợc tạo
thành với lƣợng đủ để làm cạn kiệt glutathion của gan trong tình trạng đó, phản ứng
của nó với nhóm sulfhydryl của protein gan tăng lên, có thể dẫn đến họai tử gan.
1.3. Vai trò và ứng dụng của Paracetamol [6]
1.3.1. Chỉ định:
Paracetamol đƣợc dùng rộng rãi trong điều trị các chứng đau và sốt từ nhẹ đến vừa.
+ Đau: Paracetamol đƣợc dùng làm giảm đau tạm thời trong điều trị trứng đau nhẹ
và vừa. Thuốc có hiệu quả nhất là làm giảm đau cƣờng độ thấp có nguồn gốc
không phải là nội tạng.
Paracetamol không có tác dụng trị thấp khớp. Paracetamol là thuốc thay thế
salicylat (đƣợc ƣa thích ở ngƣời bệnh chống chỉ định hoặc không dung nạp
salicylat) để giảm đau nhẹ hoặc hạ sốt.
+ Sốt: Paracetamol thƣờng đƣợc dùng để giảm thân nhiệt ở ngƣời bệnh sốt, khi sốt
có thể có hại hoặc khi hạ sốt ngƣời bệnh sẽ dễ chịu hơn. Tuy vậy, liệu pháp hạ sốt
nói chung không đặc hiệu, không ảnh hƣởng đến tiến trình của bệnh cơ bản và có
thể che lấp tình trạng bệnh của ngƣời bệnh
1.3.2. Chống chỉ định:
- Ngƣời bệnh nhiều lần thiếu máu, bệnh tim, phổi, thận hoặc gan
- Ngƣời quá mẫn với paracetamol
- Ngƣời thiếu hụt glucose – 6- phosphat dehydrogenase
1.3.3. Thời kỳ mang thai:
Chƣa xác định đƣợc tính an toàn của paracetamol dùng khi tha nghén liên quan đến

- Để giảm đau hoặc hạ sốt, trẻ em có thể uống hoặc đƣa vào trực tràng cứ 4 -6 giờ
một lần khi cần thiết, liều xấp xỉ nhƣ sau: trẻ em 11 tuổi, 480mg; trẻ em 9-11 tuổi
400mg; trẻ em 6-8 tuổi 320mg; trẻ em 4-5 tuổi 240mg và trẻ em 2-3 tuổi 160mg.
Trẻ em dƣới 2 tuổi có thể uống liều sau đây, cứ 4 - 6giờ một lần khi cần: trẻ em 1 -
2 tuổi 120mg; trẻ em 4 -11 tháng tuổi 80mg, trẻ em tới 3 tháng tuổi 40mg. Liều
trực tràng cho trẻ em dƣới 2 tuổi dùng tùy theo mỗi bệnh nhi.
- Liều uống thƣờng dùng của paracetamol dƣới dạng viên nén giải phóng kéo dài
650mg, để giảm đau ở ngƣời lớn và trẻ em 12 tuổi trở lên là 1,3g cứ 8 giờ một lần
khi cần thiết, không quá 3,9g mỗi ngày. Viên nén paracetamol giải phóng kéo dài,
không đƣợc nghiền nát, nhai hoặc hòa tan trong chất lỏng. - 6 -
1.4. Tƣơng tác Paracetamol với các thuốc khác [6]
Thuốc ít độc tính và hầu nhƣ không có tác dụng phụ, đƣợc bán tự do tại Việt
Nam, tuy nhiên khi sử dụng cần chú ý một số trƣờng hợp sau đây, đặc biệt khi dùng
các chế phẩm kết hợp với các dƣợc chất khác:
+ Các chế phẩm kết hợp với chlorpheniramin gây buồn ngủ, không dùng cho những
ngƣời mà yêu cầu cần độ tập trung cao trong công việc hoặc sinh hoạt.
+ Các chế phẩm kết hợp với phenyl propanolamin, là chất gây co mạch, không
dùng cho ngƣời tăng huyết áp.
+ Các chế phẩm kết hợp với codein hoặc dextro - propoxyphen không dùng cho trẻ
em, phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú và ngƣời suy hô hấp.
+ Một số chế phẩm kết hợp với sulfit có thể gây phản ứng dị ứng, gồm cả phản vệ
và những cơn hen đe doạ tính mạng hoặc ít nghiêm trọng hơn cả là ở một số ngƣời
quá mẫn.
- Ngƣời bị phenylceton - niệu (nghĩa là thiếu hụt gan xác định tình trạng của
phenylalamin đƣa vào cơ thể phải đƣợc cảnh báo là một số chế phẩm paracetamol
chứa aspartam, sẽ chuyển hoá trong dạ dày ruột thành phenylalamin sau khi uống.
- Uống dài ngày liều cao paracetamol làm tăng nhẹ tác dụng chống đông của

- Chuẩn đoán sớm rất quan trọng trong điều trị quá liều paracetamol. Có những
phƣơng pháp xác định nhanh nồng độ thuốc trong huyết tƣơng. Tuy vậy, không
đƣợc trì hoãn điều trị trong khi chờ kết quả xét nghiệm nếu bệnh sử gợi ý là quá
liều nặng. Khi nhiễm độc nặng điều quan trọng là phải điều trị hỗ trợ tích cực.
- Cần rửa dạ dày trong mọi trƣờng hợp, tốt nhất trong vòng 4 giờ sau khi uống.
- Liệu pháp giải độc chính là dùng hợp chất sulfhydryl, có lẽ tác động một phần do
bổ sung dự trữ glurathion ở gan. N – acetylcystein có tác dụng khi uống hoặc tiêm
tĩnh mạch. Phải cho thuốc ngay lập tức nếu chƣa đến 36 giờ kể từ khi uống
paracetamol. Điều trị với N – acetylcystein có hiệu quả hơn khi cho thuốc trong
thời gian dƣới 10 giờ sau khi uống paracetamol.
- Tác dụng không mong muốn của N – acetylcystein gồm ban da (gồm cả mày đay,
không yêu cầu phải ngừng thuốc), buồn nôn, nôn, ỉa chảy và phản ứng kiểu phản
vệ. Nếu không có N – acetylcystein có thể dùng methionin, ngoài ra có thể dùng
than hoạt tính hoặc thuốc tẩy muối, chúng có khả năng làm giảm hấp thụ
paracetamol.
- 8 -
1.5. CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH PARACETAMOL
1.5.1. Phƣơng pháp trắc quang (UV – VIS):
Trong những năm gần đây các phƣơng pháp phân tích hiện đại [14, 20, 36, 37] đã
đƣợc ứng dụng để xác định paracetamol. Mặc dù phƣơng pháp trắc quang không
còn mới mẻ trên thế giới trong việc xác định các mẫu dƣợc phẩm. Tuy nhiên nó
vẫn đƣợc ứng dụng rộng rãi vì khả năng hấp thụ màu của các hoạt chất trong dƣợc
phẩm là rất lớn, phƣơng pháp nhanh, đơn giản và cho kết quả khá chính xác, phù
hợp với yêu cầu thực tiễn trong sản xuất cũng nhƣ nghiên cứu. Có nhiều tác giả đã
nghiên cứu xác định PA bằng nhiều phƣơng pháp khác nhau đƣợc báo cáo trên các
công trình nghiên cứu.
Theo tác giả [15] đã nghiên cứu phƣơng pháp xác định đồng thời paracetamol và

chuẩn tƣơng đối của 5 mẫu nằm trong khoảng 2,2 – 6,4%, độ tin cậy 95%. Hiệu
suất thu hồi từ 97,8 – 103,4 (%). Phƣơng pháp định lƣợng xác định PA dựa vào sự
thủy phân tạo ra p - aminophenol và kết hợp với một chất khử phù hợp để tạo ra
nhóm azo mang màu. Cơ chế đƣợc nghiên cứu thông qua phản ứng Griess.
- 9 -
NHCOCH
3
HO
H,H
2
O
NH
2
HO
paracetamol p
aminophenol
NH
2
HO
p
aminophenol
reflux
NaNO
2
/HCl
N=N.Cl
HO
diazonium salt
N=N.Cl
HO

vào nồng độ axit sulfuric, phản ứng chỉ xảy ra khi nồng độ axit phải lớn hơn 2M.
Tốc độ phản ứng tăng nhanh hơn hay giảm đi chính là sự tăng hay giảm nồng độ
axit sulfuric. Ở nồng độ axit cao Ce(SO
4
)
2
rất dễ bị oxi hóa trong trƣờng hợp này sẽ
acetyl hóa PA tạo ra p–aminophenol. Sản phẩm này bị oxi hóa bởi Ce (IV) tạo
- 10 -
thành p – benzoquinon. Một số tác giả đã sử dụng Fe(III) nhƣ là một tác nhân oxi
hoá trong dung dịch axit sulfuric 8M. Nồng độ tuân theo định luật Lambert – Beer
nằm trong khoảng 30 - 160 g.ml
-1
, R
2
= 0,9967, slope = 811,21 lmol
-1
cm
-1

Quá trình xác định đƣợc biểu hiện qua sơ đồ sau:
NHCOCH
3
OH
H
NH
2
OH
4
Ce(IV)

xác định PA khi có mặt axit ascorbic và codein. Sử dụng môi trƣờng đệm phosphat
pH 7. Ứng với 7 mẫu liên tiếp ta có dải thế từ 0,00  + 0,75(V). Thời gian khuấy là
120s, các đƣờng cong hiệu chuẩn thu đƣợc qua hai dãy nồng độ 2.10
-7
– 6.10
-6
M và
- 11 -
4.10
-5
– 1.10
-4
M của PA, với hệ số tƣơng quan tuyến tính lần lƣợt là 0,9959 và
0,9947, slope (độ dốc) lần lƣợt là 22,01 A/M và 0,7257A/M. Lý do cho sự
thay đổi độ dốc là do sự tạo một lớp PA lên bề mặt điện cực biến tính. Kết quả thu
đƣợc dựa trên đƣờng nội suy của dải đƣợc xác định ở [22]. Giới hạn phát hiện là
5.10
-8
M, độ lệch chuẩn tƣơng đối là 0,98% với độ tin cậy 95%.
2). Phƣơng pháp Vol – ampe vòng:
Theo các tác giả [19] sử dụng kỹ thuật vol – ampe vòng để xác định hàm lƣợng PA
có trong viên nén paracetamol sử dụng điện thế 0,0005 (V) và tốc độ quét 0,10
(V/s) đã đƣợc lựa chọn để khảo sát các bƣớc tiếp theo vì ở giá trị này cho các
đƣờng vol – ampe vòng mịn và cho peak dòng tối đa. Đuổi O
2
bằng khí nitơ trong
khoảng 0 - 420 giây. Oxy hoà tan trong dung dịch không ảnh hƣởng đến các peak
điểm anot trong khoảng điện thế - 0,30 ÷ 1,50 (V). Một dòng khí nitơ sục trong thời
gian 180 giây đã đƣợc sử dụng với mục đích khuấy. Số lƣợng các điện tử tham gia
vào quá trình oxy hóa của acetaminophen, peak điện thế anot, Ep, đƣờng vol –

định PA 30 g.ml
-1
, độ lệch chuẩn tƣơng đối là 0,80% (dựa trên 15 kết quả) và
hiệu suất thu hồi với việc thêm chuẩn là 99,10% (dựa trên 5 kết quả). Giới hạn
phát hiện là 3,0 g ml
-1
.
- 12 -
1.5.3. Phƣơng pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
Phƣơng pháp HPLC có ƣu điểm rõ rệt là xác định đƣợc nồng độ chất ở nồng độ rất
nhỏ. Phƣơng pháp này ngày nay ứng dụng rất rộng rãi trong việc xác định các hoạt
chất trong dƣợc phẩm nói chungvà paracetamol là một trong số đó, ngoài ra còn
phân tích các dịch lỏng trong cơ thể, dung môi tồn dƣ, huyết thanh, thậm chí cả
huyết tƣơng Thông thƣờng sử dụng các chất hấp phụ khác nhau nhƣ ODS
(Octadecylsilan), C
8
, CN, phenyl , và dung môi rửa giải thƣờng là acetonitril,
methanol, nƣớc, dung dịch đệm phosphat, acetat Có rất nhiều các bài báo đã
công bố mới nhất về việc xác định PA nhƣ tác giả [13] xây dựng phƣơng pháp xác
định đồng thời paracetamol và aspirin và các tạp chất nguy hiểm trong dƣợc phẩm
bằng HPLC thu đƣợc khoảng tuyến tính trong dải từ 0,5 – 4,0(g.ml
-1
) và 0,75 –
6,0(g.ml
-1
) tƣơng ứng với paracetamol và aspirin. Độ lệch chuẩn tƣơng đối nhỏ
hơn 2%. Hay các tác giả [7] phát triển một phƣơng pháp tách và định lƣợng

1,226gml
-1
, LOD = 0,409gml
-1
), nồng độ từ 12,5 - 200g ml
-1
(Y= 53717,01.X +
197602.2, RSD% = 0.150, LOQ = 0.502gml
-1
, LOD = 0.151gml
-1
, R
2
= 0,9999)
và nồng độ từ 37.5gml
-1
– 600gml
-1
(Y= 19043,82.X + 111528.5, RSD% = 0.058
LOQ = 0.776gml
-1
, LOD = 0.233gml
-1
, R
2
=0,9993) tƣơng ứng với PA, caffeine
- 13 -
và dipyrone. Độ lặp của phƣơng pháp ở giới hạn định lƣợng (tiến hành 9 lần) thu
đƣợc kết quả độ lệch chuẩn tƣơng đối 2,02%, 2,51%, 5,54% tƣơng ứng với
PA, caffeine, dipyrone. Sau khi tiến hành phân tích mẫu bằng phƣơng pháp thêm

gml
-1
. Hiệu suất thu hồi từ 99 – 101%, hệ số phƣơng sai của PA là 0,6% và của
nimesulide là 0,8%. Giá trị LOD và LOQ tƣơng ứng nimesulide là 0.05(gml
-1
),
0,15 (gml
-1
) và PA là 0.025(gml
-1
), 0.09(gml
-1
).
Các tác giả [34] nghiên cứu phƣơng pháp xác định PA bằng HPLC với việc sử
dụng pha tĩnh là cột ODS, pha động là đệm phosphat pH 2,7 : acetonitril (90:10),
tốc độ dòng 1,0 ml/phút, detector UV – VIS 244 nm. Với điều kiện nhƣ trên các tác
giả tiến hành xây dựng đƣờng chuẩn với nồng độ trong khoảng từ 10 - 130(gml
-1
)
Sau đó sử dụng phƣơng pháp thêm chuẩn để xác định hàm lƣợng của mẫu (5 mẫu
trong phƣơng pháp xác định theo UV – VIS), độ đúng của phƣơng pháp (hiệu suất
thu hồi và độ lặp lại) và độ lệch chuẩn tƣơng đối cao.
PHẦN 2. NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH TERPIN HYDRAT
2.1. Đặc điểm tính chất của terpin hydrat (TEP)
2.1.1. Công thức:
Tên gọi theo IUPAC: Cyclohexa methanol 4 – hydroxyl – ,, 4 – trimethyl
monohydrat hay p – menthan 1,8 – diol monohydrat
Tên gọi khác: terpinol (cis-terpin hydrate), terpinum,terpina, terpirmm hydratum
- 14 -
Công thức cấu tạo:

- Tính chất : Có mùi nhẹ, đặc trƣng; vị hơi đắng; ở dạng bột, xốp trong không khí khô.
- Độ tan: 1 gam tan trong 34 ml nƣớc sôi, 13 ml cồn, 3 ml cồn sôi, 135 ml
cloroform, 140 ml ete, ~1 ml axit axetic (dạng băng) sôi. Ở 20
0
C, 1 g tan trong
13ml metanol, 13 ml etyl axetat, 250 ml nƣớc, 77 ml benzen, 290 ml CCl
4
, 250 ml
CS
2
. Không tan trong ete dầu.
- Nhiệt độ sôi : khoảng 258
0
C.
+ Trans-terpin hydrat: - Tinh thể dạng lăng trụ đơn tà.
- Nhiệt độ nóng chảy : 158-159
0
C.
- Độ tan: Ở 20
0
C 1 gam tan trong 11 ml metanol, 20 ml
etyl axetat, 100 ml nƣớc, 250 ml benzen, 250 ml CCl
4
, 500 ml CS
2
.
2.2. Ứng dụng [4]
- Terpin hydrat đƣợc sử dụng trong điều trị các chứng viêm phế quản cấp và mãn tính.
- Dùng hỗn hợp với codein, viên terpin codein làm thuốc ho long đờm, chữa viêm
loét, các niêm mạc thuộc đƣờng hô hấp.

từng ngƣời bệnh cụ thể về tuổi, cân nặng, giai đoạn bệnh, các bệnh kết hợp toàn
thân khác vì vậy rất cần có sự chỉ định và theo dõi của bác sĩ.
- Không đƣợc uống rƣợu khi dùng thuốc.
- Tránh kết hợp với các thuốc chống ho khác và các thuốc có tác dụng làm khô
dịch tiết loại atropin.
- Lƣu ý khi phối hợp với các thuốc ức chế thần kinh trung ƣơng khác (gây tăng ức
chế thần kinh trung ƣơng), các dẫn xuất khác của morphin (gây ức chế hô hấp).
2.3.2. Thận trọng:
- Bệnh nhân suy giảm chức năng gan thận hoặc có tiền sử nghiện thuốc.
- Thận trọng trong các trƣờng hợp tăng áp lực nội sọ.
- Tránh dùng chung với thuốc có chứa atropin, cồn và các thuốc ho khác. Thuốc
gây buồn ngủ, lƣu ý khi vận hành máy móc, tàu xe.
- 16 -
- Khi dùng liều trên 1 gram/ngày tính theo terpin, thuốc có tác dụng làm giảm tiết
chất nhày.
- Trong chế phẩm có chứa codein có thể cho phản ứng dƣơng tính khi làm test
kiểm tra chống doping.
- Thuốc trị ho chứa hoạt chất là thuốc kháng histamin cần lƣu ý về tác dụng gây
buồn ngủ. Ngƣời lớn khi dùng thuốc cần tránh làm việc đòi hỏi sự tỉnh táo nhƣ lái
xe, vận hành máy móc. Với trẻ em, không nên lạm dụng cho trẻ uống nhƣ thuốc
ngủ để không quấy, khóc đêm và dùng dài ngày, từ tháng này sang tháng khác
(dùng dài ngày rất có hại cho sức khỏe của trẻ).
- Loại thuốc này cũng không nên dùng trong trƣờng hợp ho có đàm vì thuốc làm
khô quánh đàm, khó tống đàm sẽ cản trở đƣờng thở.
- Với thuốc làm loãng đàm, thuốc làm lỏng chất nhày sẽ có hại cho niêm mạc dạ
dày. Vì vậy, thuốc loại này cần tránh dùng cho ngƣời bị loét dạ dày - tá tràng.
2.3.3. Liều lƣợng và cách dùng:
- Ngƣời lớn: 85 – 170mg Terpin hydrat /lần, ngày 3 - 4 lần.
- Trẻ em từ 5 - 15 tuổi: 100 – 200mg Terpin hydrat/lần, ngày 1 - 2 lần, hoặc tham
khảo ý kiến bác sĩ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status