hoàn thiện và phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại các ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 24



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ THU Hoàn thiện và phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Mã số : 60 34 05

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: Ts.Nguyễn Thị Thư

1.1.2. Sự phát triển của các hình thái tiền tệ trong hoạt động thanh toán ……8
1.2. THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 10
1.2.1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm 10
1.2.2. Mối quan hệ giữa thanh toán tiền mặt và thanh toán KDTM 16
1.3.1. Dịch vụ thanh toán bằng Séc (Cheque - check) 19
1.3.2. Dịch vụ thanh toán bằng uỷ nhiệm chi (UNC) - hoặc lệnh chi 21
1.3.3. Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu (UNT) – hoặc nhờ thu 21
1.3.4. Dịch vụ thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) 22
1.3.5. Dịch vụ thanh toán bằng thẻ ngân hàng 23
1.3.6. Hối phiếu 25
1.4. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỊCH VỤ THANH TOÁN KDTM
CỦA NHTM
26
1.4.1. Các nhân tố khách quan 26
1.4.2. Những nhân tố chủ quan 28
1.5. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN KDTM VÀ
NHỮNG BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
31
1.5.1. Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ thanh toán KDTM tại một số nước 31

1.5.2. Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ thanh toán tại các NHTM lớn trên
thế giới 35

1.5.3. Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 37
Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
40
2.1. TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM VIỆT NAM 40
2.1.1. Mô hình và cơ cấu tổ chức của các NHTM VN 40
2.1.2. Các kênh thanh toán của NHTM VN 42

103
3.3.1. Kiến nghị đối với Chính phủ 103

3.3.2. Kiến nghị đối với NHNN 105
KẾT LUẬN 109 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ATM Máy giao dịch tự động
CNTT Công nghệ thông tin
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHNN VN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTM VN Ngân hàng thương mại Việt Nam
POS Thiết bị thanh toán tại điểm bán (point of sale)
TCTD Tổ chức tín dụng
TTĐTLNH Thanh toán điện tử liên ngân hàng
UNC Ủy nhiệm chi
UNT Ủy nhiệm thu
DANH MỤC BẢNG BIỂU


Hình 1.1. Cơ cấu doanh thu của một số NHTM lớn trên thế giới
35
Hình 1.2. Hoạt động của NH - HSBC 37
Hình 2.1. Cấu trúc và tổ chức bộ máy của NHTM 41
Hình 2.2. Tỷ trong giao dịch thanh toán qua các kênh năm 2007 43
Hình 2.3. Tỷ trọng số món giao dịch thanh toán qua các kênh thanh toán 44
Hình 2.4. Sơ đồ minh họa tình hình mở và sử dụng tài khoản 55
Hình 2.5. Sơ đồ minh họa tỷ trọng số món thanh toán qua các phương tiện
thanh toán
64

- 1-

MỞ ĐẦU

1. Sự cấp thiết của đề tài
Chức năng thanh toán của tiền tệ đang phát triển với nhiều hình thức đa

cứu tiêu biểu:
Liên quan đến việc thúc đẩy hoạt động thanh toán KDTM trong nền kinh
tế, ngày 29/12/2006 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 291/2006/QĐ-
TTg phê duyệt “Đề án thanh toán KDTM giai đoạn 2006-2010 và định hướng
đến năm 2020”. Trong đề án này, Chính phủ đã giao cho các B
ộ, Ban ngành có
liên quan triển khai thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm đạt mục tiêu giảm tỷ
lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán của Việt Nam đến năm 2020 đạt
mức 10%.
Liên quan đến việc phát triển dịch vụ thanh toán KDTM tại các NHTM
có: “Bàn về phát triển dịch vụ thanh toán KDTM của các NHTM VN hiện
nay” đăng trên Tạp chí ngân hàng số 4 tháng 4/2006 của tác giả Đào Mạnh
Hùng; “Hạn chế tiền mặt b
ằng cách phát triển các công cụ thanh toán KDTM”
đăng trên Website NHNN:
ngày 25/4/2007; “Bàn về hệ
thống thanh toán ngân hàng Việt Nam” đăng trên Tạp chí ngân hàng số 3+4
tháng 2/2007 và của tác giả Tạ Quang Tiến; “Cần có nhận thức đúng về tác
dụng của thẻ ATM để hạn chế thanh toán tiền mặt ở nước ta của tác giả Kim
Anh đăng trên Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ số 20 ngày 15/10/2007,… và
một số hội thảo liên quan đến việc kết nối thẻ thanh toán của các NHTM.
Nhìn chung, các nghiên cứu trước
đây hoặc là đề cập đến hoạt động thanh
toán KDTM nói chung của nền kinh tế hoặc là chỉ đề cập việc phát triển dịch
vụ thanh toán KDTM thông qua việc phát triển một số phương tiện thanh toán
hiện đại cụ thể tại một số NHTM cụ thể nên các giải pháp đưa ra còn thiếu tính
đồng nhất, khó áp dụng chung cho tất cả các NHTM VN. Mặt khác, sự phát
triển nhanh chóng của khoa học công nghệ tác động trự
c tiếp từng ngày đến
dịch vụ thanh toán KDTM nên đề tài trên cơ sở tiếp thu những nghiên cứu

VN và tập trung đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ thanh
toán KDTM.
- Đề xuấ
t một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy dịch vụ thanh toán
KDTM tại các NHTM VN.

- 4-
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn được bố cục làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ thanh toán KDTM
Chương 2
: Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán KDTM của các
NHTM VN
Chương 3
: Giải pháp hoàn thiện và phát triển dịch vụ thanh toán
KDTM của các NHTM VN
Tuy nhiên, dưới góc độ kinh tế học, tiền không chỉ là tiền mặt, vì tiền còn bao
gồm cả các khoản tiền gửi thanh toán, tiền tiết kiệm, thẻ tín dụng, Séc,…; tiền
cũng không phải là của cải vì của cải bao gồm không chỉ có tiền mà còn cả
nh
ững vật để sở hữu (tài sản) như: trái khoán, cổ phiếu, đồ đạc, nhà cửa, thiết
bị,…; tiền cũng không phải là thu nhập vì thu nhập là khoản tiền kiếm được

- 6-
trong một khoảng thời gian nhất định trong khi tiền lại là một khoản tiền xác
định tại một thời điểm nhất định.
Như vậy, tiền là bất cứ phương tiện nào được thừa nhận để thanh toán
chung cho việc mua bán, trao đổi hàng hoá - dịch vụ hoặc thanh toán nợ nần
và tiền khác với của cải, khác với thu nhập.
b) Chức năng của tiền
Bả
n chất của tiền được hiểu một cách đầy đủ thông qua các chức năng của
nó. Tiền tệ, cho dù thể hiện dưới hình thức nào (hàng hóa, vàng, tiền giấy, )
cũng đều thực hiện 3 chức năng cơ bản sau: phương tiện trao đổi; đơn vị đánh
giá và phương tiện dự trữ giá trị.
- Phương tiện trao đổi
Đây là chức năng cơ bản để phân biệ
t tiền với những tài sản khác như cổ
phiếu, trái khoán hoặc nhà cửa. Thực hiện chức năng phương tiện trao đổi, tiền
là phương tiện mà thông qua đó, các hàng hóa và dịch vụ được trao đổi cho
nhau. Tiền (dưới dạng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, thẻ tín dụng, Séc, ) được
dùng để thanh toán, đổi lấy hàng hoá hoặc dịch vụ.
Khi chưa có tiền làm phương tiện, việc trao đổi chỉ có thể
diễn ra khi có
sự trung khớp giữa các ý muốn khác nhau và điều này đòi hỏi chi phí về thông
tin và giao dịch tương đối lớn. Việc dùng tiền làm phương tiện trao đổi giúp

trao đổi bằng tiền
333
10 45 10
100 4.950 100
1.000 499.500 1.000
10.000 49.995.000 10.000
Như vậy, việc dùng tiền làm một đơn vị đánh giá đã giảm được số giá cần
xem xét, do đó giảm được chi phí, thời gian để giao dịch và lợi ích này lại
càng tăng lên khi nền kinh tế trở nên phức tạp (có nhiều hàng hóa cần trao
đổi). Vì vậy, chức năng tính toán giá trị cũng góp phần vào việc tăng cường
tính hiệu quả của xã hội.
- Phương tiện dự trữ giá trị
Tiền là phương tiện dự trữ vì nó có thể dùng để mua sắm trong tương lai.
Chức năng này của tiền tệ rất hữu ích vì mọi người thường không được sử
dụng hết thu nhập của mình ngay lập tức mà sẽ giữ lại cho đến khi có nhu cầu
chi tiêu. Trong thực tế, tiền không phải là phương tiện duy nhất thực hiện chức
năng phương tiện tích luỹ vì một tài sản nh
ư: tiền mặt, cổ phiếu, nhà đất, trái

- 8-
phiếu, … đều có thể được sử dụng làm phương tiện tích luỹ giá trị và việc sử
dụng một số tài sản trong số các tài sản này để tích luỹ có lợi hơn sử dụng tiền,
mức sinh lời cao hơn, có giá trị sử dụng thực tế. Tuy nhiên, hầu hết, mọi người
đều tích lũy tiền với một tỷ lệ nhất định bởi sự an toàn và "
tính lỏng" của tiền.
Tiền là tài sản có tính lỏng nhất bởi vì nó là phương tiện trao đổi, không giống
như các tài sản khác, tiền không cần chuyển thành thứ khác với mục đích mua
hàng; những tài sản khác phải mất chi phí giao dịch khi cần chuyển sang tiền.
Tuy nhiên, do tiền là đơn vị tính toán giá trị của những tài sản, hàng hóa khác
nên giá trị của tiền phụ thuộc vào mức giá của các hàng hóa đó. Nếu mức giá

bảo đảm - tiền pháp định, nghĩa là mọi người buộc phải chấp nhận nó theo quy
định của Nhà nước, không có khả năng chuyển đổi thành kim loại quý. Tiền
giấy có ưu thế là nó nhẹ hơn tiền thực rất nhiều, chi phí bảo quản và vận
chuyể
n thấp, chi phí in ấn và đảm bảo an toàn rẻ, thuận tiện khi sử dụng. Tuy
nhiên, nhưng nó chỉ có thể được chấp nhận làm trung gian trao đổi chỉ nếu
lòng tin vào người có thẩm quyền phát hành nó đủ lớn và việc làm giả đồng
tiền đó rất khó khăn. Đồng thời, việc điều tiết lượng tiền giấy lưu thông cho
phù hợp với nhu cầu trao đổi và dữ trữ là rất phức t
ạp. Tiền giấy và tiền xu có
nhược điểm là dễ dàng bị đánh cắp và đặc biệt khá tốn kém khi vận chuyển số
lượng lớn. Để giải quyết vấn đề này, những tiến bộ khác của hệ thống thanh
toán đã diễn ra với sự phát triển của hoạt động ngân hàng hiện đại: sự ra đời
của Séc. Séc là một loại hối phiếu nhậ
n nợ chi trả ngay khi xuất trình, cho
phép thực hiện giao dịch mà không cần mang theo một khoản tiền mặt lớn. Sự
ra đời của Séc là một tiến bộ mới đã cải thiện hiệu quả của hệ thống thanh
toán. Người ta nhận thấy các khoản thanh toán đến và đi có thể bù trừ cho
nhau; nếu không có Séc, các luồng luân chuyển tiền này sẽ rất lớn. Ngược lại,
với Séc, các khoản thanh toán có thể bù trừ
lẫn cho nhau và cũng không cần
luân chuyển tiền mặt. Việc sử dụng Séc vì vậy đã làm giảm chi phí giao dịch
và cải thiện hiệu quả kinh tế. Một ưu điểm khác của Séc là nó có thể được viết
ra với bất kỳ số tiền nào cho tới hết số dư trên tài khoản, để thực hiện giao dịch
dễ dàng hơn nhiều với số tiền lớn. Séc còn có ưu th
ế so với tiền mặt trong việc
chống lại khả năng mất trộm, và rất thuận tiện trong việc thực hiện vận
chuyển, chi trả.
Tuy nhiên, hệ thống thanh toán Séc cũng gặp những vấn đề nhất định: thứ
nhất, phải mất một thời gian để mang Séc từ nơi này đến nơi khác, đặc biệt khi

thống thanh toán hiệu quả và ít tốn kém, trong đó việc sử dụng các phương
tiện thanh toán có ứng dụng tin học, điện tử trở nên phổ biến. Điều này cho
phép tiết giảm tối đa việc sử dụng tiền mặt trong lưu thông và ngày hoàn thiện
hơn các phương tiện thanh toán qua ngân hàng.
1.2 THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT
1.2.1 Khái niệm, vai trò và đặc điểm
a) Khái niệm

- 11-
Trong nền kinh tế hàng hoá, sự hình thành và phát triển các chu chuyển
tiền tệ là một tất yếu khách quan. Sự tồn tại của tiền tệ và lưu thông tiền tệ là
nhân tố đặc biệt quan trọng để quá trình sản xuất và thay đổi hàng hoá được tiến
hành đồng thời có tác động lớn đến hiệu quả của các quá trình này. Cùng với sự
phát triển của xã hội là sự xuất hiện và phát triển của các hình thái ti
ền tệ và cũng
đồng nghĩa với sự xuất hiện và phát triển ngành ngân hàng và dịch vụ ngân hàng
trong đó là hàng đầu là dịch vụ thanh toán tiền tệ.
Dịch vụ thanh toán của NHTM được thực hiện dưới 2 hình thức: dịch vụ
thanh toán bằng tiền mặt và dịch vụ thanh toán KDTM.
Dịch vụ thanh toán bằng tiền mặt được thực hiện bằng công vụ tiền giấy
và tiền kim loại, chủ y
ếu phục vụ cho các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước,
các xí nghiệp, tổ chức kinh tế với nhân dân lao động được thực hiện bằng hai
hình thức dịch vụ: dịch vụ thanh toán bằng tiền mặt tự phát trong khu vực dân
cư ngoài phạm vi ngân hàng và dịch vụ tiền mặt qua ngân hàng. Ngược lại,
dịch vụ thanh toán KDTM một loại hình gần như tuyệt đối do ngân hàng thực
hiện dựa trên công cụ thanh toán là ti
ền ghi sổ, chỉ tồn tại trên tài khoản của
ngân hàng.
Đối tượng làm công cụ tổ chức dịch vụ tiền mặt và thanh toán KDTM

u, thư tín dụng,
Dịch vụ thanh toán KDTM được thực hiện và được tiến hành bằng cách
ngân hàng trích chuyển tiền từ tài khoản khách hàng này sang tài khoản khách
hàng khác hoặc từ kết quả bù trừ lẫn nhau. Dịch vụ thanh toán KDTM được
thực hiện theo uỷ nhiệm của khách hàng bằng hợp đồng thoả thuận với ngân
hàng – uỷ nhiệm dịch vụ thanh toán dài hạn, định kỳ hoặc từng lần bằng pháp
luật và gi
ấy tờ chuyên dùng có tính chuyên nghiệp và phổ cập. Dịch vụ thanh
toán KDTM có những đặc diểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, dịch vụ thanh toán KDTM độc lập so với sự vận động của vật
tư hàng hoá cả về thời gian và không gian, thông thường sự vận động của tiền
trong thanh toán và sự vận động của vật tư hàng hoá là không có sự ăn khớp
với nhau. Đây là đặc đi
ểm lớn nhất, nổi bật nhất trong thanh toán KDTM cần
phải được nhận thức một cách đúng đắn.
Ở đây, khác với thanh toán bằng tiền mặt do khách hàng tự thực hiện,
dịch vụ thanh toán phi tiền mặt qua ngân hàng không phải được tiến hành một
cách trực tiếp theo kiểu “giao hàng, nhận tiền”, mà là việc giao hàng được tiến
hành ở nơi này, trong thời gian này, nhưng việc thanh toán có thể được thực
hiệ
n ở nơi khác, trong thời gian khác. Đặc điểm cơ bản này cho phép dịch vụ

- 13-
thanh toán KDTM có thể thực hiện với khối lượng giá trị không hạn chế,
thường là với giá trị lớn mà dịch vụ tiền mặt do khách hàng tự phục vụ không
thể làm được. Tài khoản ngân hàng là cơ sở để thực hiện dịch vụ thanh toán
KDTM.
- Thứ hai, dịch vụ thanh toán KDTM vật môi giới (tiền mặt) không xuất
hiện như trong thanh toán bằng tiền mặt (H-T-H) mà nó chỉ xuất hiệ
n dưới

thời vụ (chẳng hạn dịp kết thúc niên gián hoạt động của doanh nghiệp,…) và
vào thời điểm cao, chẳng hạn khách hàng ch
ỉ giao nộp uỷ nhiệm thanh toán
cho ngân hàng vào những giờ "cao điểm" và giờ thanh toán bù trừ (chỉ vài giờ
trong ngày).
c) Ưu, nhược điểm của thanh toán KDTM so với thanh toán bằng
tiền mặt
So với thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán KDTM có những ưu thế vượt
trội, cụ thể:
- Giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm chi phí in ấn, vận
chuyển, sử dụng tiền mặ
t;
Với phương tiện thanh toán KDTM, các khoản thanh toán có thể tiến
hành với khối lượng lớn, giá trị cao, đồng thời tránh được những chi phí kiểm
đếm, vận chuyển như đối với thanh toán tiền mặt.
- An toàn trong giao dịch thanh toán, tránh rủi ro trong việc lưu hành và
cất trữ tiền mặt; nạn làm giả tiền mặt đang ngày càng phổ biến về quy mô và
tinh vi về chất lượng đã và đang gây thiệt hại lớ
n về an ninh kinh tế - xã hội
cho các nước trên thế giới.
Việc cất trữ quá nhiều tiền mặt đôi khi có thể gây ra những tổn thất không
lường trước được. Hoả hoạn, thiên tai,… có thể làm cho tiền giấy bị huỷ hoại
hoàn toàn. Với các phương tiện thanh toán điện tử, người sử dụng không còn
phải quá lo lắng về những rủi ro trên. Điều quan trọng nhất mà họ phả
i quan
tâm đó là ghi nhớ những thông tin mật của mình và không được làm lộ thông
tin cho những người không đáng tin cậy.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong nền kinh tế;
Việc sử dụng các phương tiện thanh toán KDTM, hỗ trợ cho khả năng
huy động vốn chi phí thấp từ nguồn tiền gửi không kỳ hạn của các NHTM,

ề sử dụng tiền mặt. Với phương tiện thanh toán KDTM, các
khoản thanh toán có thể tiến hành với khối lượng và giá trị lớn. Bên cạnh đó,
đối với NHTM, các phương tiện thanh toán KDTM còn giúp các NHTM tăng
khả năng huy động vốn với chi phí thấp từ nguồn tiền gửi không kỳ hạn của

- 16-
các tổ chức và dân cư. Và trên thực tế, doanh thu từ phí dịch vụ thanh toán
cũng là một nguồn thu đáng kể, ổn định và ít rủi ro của các NHTM.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm trên, thanh toán KDTM cũng có
những nhược điểm nhất định so với thanh toán bằng tiền mặt:
- Thứ nhất, dịch vụ thanh toán KDTM phụ thuộc vào đơn vị trung gian là
các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (thườ
ng là các NHTM), do đó, nhiều
khi người có tiền không thể chủ động hoàn toàn trong hoạt động thanh toán
của mình. Người sử dụng dịch vụ thanh toán KDTM phụ thuộc vào thời gian,
địa điểm làm việc,… cũng như quy chế hoạt động thanh toán của NHTM.
Trong nhiều trường hợp, điều này trở nên rất bất tiện.
- Thứ hai, đối với các khoản thanh toán nhỏ, lẻ, với khoảng cách địa lý
gần,… thì thanh toán bằ
ng tiền mặt chiếm ưu thế về sự nhanh chóng, thuận
tiện hơn hẳn so với thanh toán KDTM. Nếu thanh toán bằng tiền mặt, người
mua và người bán có thể thanh toán với nhau nhanh chóng với chi phí giao
dịch thấp hơn so với thanh toán KDTM.
Thứ ba, để sử dụng dịch vụ thanh toán KDTM, khách hàng phải mở tài
khoản và để một số dư nhất định tại NHTM. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh
của NHTM không phải luôn luôn tuyệt đối an toàn.
Điều này chứng tỏ, thanh
toán KDTM đôi khi cũng thiếu an toàn hơn giữ tiền mặt. Ngoài ra, trong quá
trình thực hiện thanh toán KDTM, các NHTM cũng có thể gặp phải những sai
sót, sự cố,… làm ảnh hưởng đến tốc độ thanh toán, cùng với các hoạt động tội

toán bằng tiền mặt và thanh toán bằng tiền mặt là cần thiết và tất yếu để bù đắp
những khiếm khuyết của thanh toán KDTM.
Chính vì vậy, có thể khẳng định rằng, hoạt động thanh toán của một nền
kinh tế muốn vận hành thông suốt thì phải có cả thanh toán bằng tiền mặt và
thanh toán KDTM. NHTM với tư cách là một tổ chức cung ứng dị
ch vụ thanh
toán, đóng vai trò là trung gian cho các hoạt động thanh toán thì bắt buộc phải
tổ chức tốt cả 2 loại hình dịch vụ này, một mặt vì lợi ích của nền kinh tế và dân
cư, mặt khác đó là giải pháp chiến lược giúp NHTM mở rộng thị trường khai
thác vốn, cung cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác của NHTM.
Cuối cùng là phải khẳng định rằng, thanh toán KDTM là một phương
pháp sử dụng tiền tệ h
ợp lý và là công cụ quan trọng để thực hiện công tác
quản lý kinh tế của Nhà nước. Nhưng phải thấy rằng, việc làm đó có phát huy
dược tác dụng tốt hay không cũng phải trên cơ sở tổ chức tối lưu thông tiền
mặt trong nền kinh tế. Bởi vì như ta đã thấy phương tiện thanh toán của tiền tệ

- 18-
ra đời từ phương tiện lưu thông của nó nghĩa là nếu không có tiền (tiền mặt,
tiền gửi,…) thì không thể nói đến việc thanh toán nói chung và thanh toán
bằng chuyển khoản nói riêng được - phân tích như vậy để thấy rằng nhận thức
được mối quan hệ giữa hai hình thức chu chuyển tiền tệ trong việc tổ chức
công tác thanh toán có ý nghĩa rất to lớn.
1.3 CÁC LOẠI HÌNH DỊCH VỤ THANH TOÁN KDTM CHỦ YẾU CỦA NHTM
Hiện nay, dịch vụ thanh toán KDTM có các loại hình (phương tiện thanh
toán) chủ yếu sau:
- Séc
- Uỷ nhiệm chi - hoặc lệnh chi
- Uỷ nhiệm thu - hoặc nhờ thu
- Thư tín dụng

hành giao trực tiếp cho người bán để thanh toán tiền v
ật tư, hàng hoá, chi phí,
dịch vụ,…
* Dịch vụ thanh toán Séc có đặc điểm
- Khách hàng là người mua tự phát hành Séc và tự trao đổi trực tiếp để trả
tiền cho người bán, công đoạn này thực hiện ngoài ngân hàng không có sự
tham gia của ngân hàng.
- Ngân hàng chỉ làm các dịch vụ theo uỷ quyền của khách hàng về mở tài
khoản phát hành Séc cho khách hàng, bán Séc cho khách hàng; quản lý số dư
tài khoản và thanh toán Séc khi khách hàng (người bán hàng dịch vụ) nộp vào.
Nhờ có dịch vụ này khách hàng mua không ph
ải dùng tiền mặt mà dùng Séc
thay thế trực tiếp và người bán nộp Séc vào ngân hàng thay vì nộp tiền mặt
vào tài khoản ở ngân hàng để tăng tài sản gửi ngân hàng của mình.
- Séc là có tính thời hạn. Tính thời hạn của Séc được thể hiện ở chỗ: nó
chỉ có giá trị thanh toán trong thời hạn có hiệu lực. Thời hạn này được quy
định tuỳ thuộc vào mỗi nước và cho từng loại Séc riêng biệt.
Từ những đặc
điểm trên cho thấy, việc sử dụng Séc làm phương tiện
thanh toán có những ưu điểm: thông qua việc bù trừ các khoản thanh toán, Séc
góp phần giảm chi phí giao dịch và cải thiện hiệu quả kinh tế; người mua có

Trích đoạn Dịch vụ thanh toán bằng thẻ ngân hàng Các nhân tố khách quan Những nhân tố chủ quan Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ thanh toán KDTM tại một số nước Kinh nghiệm về phát triển dịch vụ thanh toán tại các NHTM lớn trên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status