ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
V
V
Ũ
ŨT
T
H
H
Ị
ỊM
M
I
I
N
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH N
N
G
G
Ư
Ư
Ờ
Ờ
I
IH
H
Ư
Ư
Ớ
Ớ
N
N
G
G
T
S
S
.
.Đ
Đ
Ỗ
ỖK
K
I
I
M
MS
S
Ơ
Ơ
N
N
1.1.1.
Giá trị doanh nghiệp
5
1.1.2.
Các căn cứ để xác định giá trị doanh nghiệp
7
1.2.2.1.
Giá trị thị trường
7
1.2.2.2.
Giá trị phi thị trường
8
1.2.
Định giá doanh nghiệp trong nền KTTT
10
1.2.1.
Khái niệm về định giá doanh nghiệp & công tác định giá DN
10
1.2.2.
Sự cần thiết phải định giá doanh nghiệp
11
1.2.3.
Mục tiêu của định giá doanh nghiệp
14
1.3
Phƣơng pháp định giá doanh nghiệp
16
1.3.1.
Phương pháp giá trị tài sản thuần
17
Yêu cầu định giá doanh nghiệp
43
1.4.1.
Đảm bảo tính chính xác
43
1.4.2.
Đảm bảo tính nhanh chóng đúng thời điểm
43
1.4.3.
Đảm bảo tính khách quan, trung thực
44
1.4.4.
Phương pháp xác định giá trị DN phải phù hợp
44
CHƢƠNG 2
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ CÔNG TY CP NHỰA VIỆT NAM
45
2.1.
Giới thiệu chung Công ty CP Nhựa Việt Nam
45
2.1.1.
Quá trình hình thành và phát triển
45
2.1.2.
Ngành nghề kinh doanh
46
2.1.3.
Sản phẩm chủ yếu
47
2.1.4.
Định giá Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam
64
2.2.3.1.
Theo phương pháp dòng tiền tự do của DN (FCFF)
64 2.2.3.2.
Theo phương pháp giá trị kinh tế gia tăng (EVA)
76
2.2.3.3.
Theo phương pháp so sánh
88
2.2.3.4.
Theo phương pháp P/E
92
2.2.3.5.
Theo phương pháp chiết khấu luồng cổ tức DDM
94
2.3.
Đánh giá kết quả định giá Công ty CP Nhựa Việt Nam
94
2.3.1.
Đánh giá kết quả định giá Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam
94
2.3.2.
Đánh điểm tín nhiệm doanh nghiệp, từ đó điều chỉnh giá trị DN
98
Kết luận
2
CPH
Cổ phần hóa
3
DCF
Phương pháp chiết khấu dòng tiền
4
DDM
Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức
5
DN
Doanh nghiệp
6
DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước
7
DNNNQD
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
8
EVA
Phương pháp giá trị kinh tế gia tăng
9
FCFE
Phương pháp chiết khấu dòng tiền vốn chủ sở hữu
10
FCFF
Phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do của doanh nghiệp
11
KTTT
Kinh tế thị trường
22
VNĐ
Việt Nam đồng DANH MỤC BẢNG BIỂU STT
Số
hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
1
1.1
Các phương pháp định giá DN trên thế giới
16
2
2.1
Tình hình lao động
50
3
2.2
Kết quả hoạt động SXKD 2006 - 2010
51
4
2.3
Một số chỉ tiêu tài chính của Công ty
58
2.11
EVA của Công ty CP Nhựa Việt Nam năm 2010
79
13
2.12
Phân tích ảnh hưởng của các khoản mục
85
14
2.13
Điều chỉnh vốn đầu tư và lợi nhuận
86
15
2.14
Bảng tính EVA của Công ty sau khi điều chỉnh số liệu kế toán
87
STT
Số
hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
16
2.15
Một số chỉ tiêu tài chính của các DN ngành nhựa đã niêm yết
trên TTCK
89
17
Sơ đồ 2.1
Sơ đồ bộ máy quản lý
49
2
Sơ đồ 2.2
Sơ đồ quy trình xác định giá trị doanh nghiệp
53
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ STT
Số hiệu
biểu đồ
Tên bảng
Trang
1
Biểu đồ 2.3
Tiêu thụ sản phẩm nhựa bình quân theo đầu
người tại Việt Nam
56
2
Biểu đồ 2.4
P/E và EV/EBITDA các ngành
92
3
Biểu đồ 2.5
P/E ngành Nhựa Việt Nam so với khu vực
điểm nhất định là một việc rất phức tạp. Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam
là một doanh nghiệp có cổ phần Nhà nước chi phối và đang tiến hành xác
định giá trị doanh nghiệp lần thứ hai.
Nghiên cứu, tìm hiểu và xác định giá trị doanh nghiệp ngoài phương
pháp mà Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam đã áp dụng trong việc xác định
giá trị doanh nghiệp lần thứ nhất là rất cần thiết.
Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Định giá giá trị Công ty Cổ phần 2
Nhựa Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ.
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
Đã có một số tài liệu, đề tài ở Việt Nam hiện nay có một số công
trình, bài viết đề cập đến vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp như:
- PGS. PTS. Nguyễn Đình Kiệm, PTS. Nguyễn Đăng Nam (1999),
Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính.
- Nguyễn Hải Sản (1999), Định giá và xếp hạng tín nhiệm doanh
nghiệp, Nhà xuất bản trẻ.
- Nguyễn Minh Hoàng (2005), Nguyên lý chung định giá tài sản và
giá trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản Tài chính.
- PGS. TS. Trần Thị Thái Hà (2005), Đầu tư tài chính, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội.
- TS. Phan Đức Dũng (2009), Phân tích báo cáo tài chính và định
giá trị doanh nghiệp, Nhà xuất bản thống kê.
Và một số Luận văn thạc sĩ, tiến sĩ:
- Trần Ngọc Thơ (1996), Những phương pháp định giá các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ Khoa
học Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nghiêm Sỹ Thương (2000), Xác định mô hình định giá doanh
nghiệp Nhà nước trong quá trình cổ phần hóa tại Việt Nam, Luận án Tiến
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu một số phương
pháp xác định giá trị doanh nghiệp như phương pháp chiết khấu dòng tiền
(DCF) (cụ thể là phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do của doanh nghiệp
(FCFF) và phương pháp chiết khấu luồng cổ tức (DDM)), phương pháp giá
trị kinh tế gia tăng (EVA), phương pháp so sánh và phương pháp thu nhập
trên cổ phiếu (P/E) áp dụng vào Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam.
4
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản
như phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cụ thể; kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn. Ngoài ra tác giả còn dùng phương pháp phân tích thống kê;
toán tài chính; tổng hợp; so sánh; dự đoán xu hướng và phân tích số liệu…
nhằm làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu đã đặt ra.
- Khảo sát thực tế Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam giai đoạn 2006 -
2010: nghiên cứu văn bản pháp lý và hồ sơ liên quan đến định giá, phỏng
vấn trực tiếp, tóm tắt thông tin thu thập được, phân tích, đánh giá và nhận
định.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Hệ thống hoá những lý luận cơ bản của việc xác định giá trị doanh
nghiệp, công tác định giá doanh nghiệp.
- Định giá giá trị Công ty Cổ phần Nhựa Việt Nam qua một số
phương pháp khác nhau, đánh giá sơ bộ ưu điểm và hạn chế của các
phương pháp đó. Từ đó đưa ra kết quả xác định giá trị Công ty Cổ phần
Nhựa Việt Nam
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục, luận văn được trình bày theo 2 chương:
tức là mối quan hệ với các cơ quan, các thể nhân và pháp nhân kinh tế 6
khác. Sự tồn tại của doanh nghiệp không chỉ được quyết định bởi các mối
quan hệ bên trong doanh nghiệp mà còn bởi mối quan hệ với các yếu tố bên
ngoài, như: môi trường kinh doanh, nguồn lực, nhà cung cấp ….
Sự phát triển của doanh nghiệp ở mức độ nào là tuỳ thuộc vào mức
đô bền chặt của các mối quan hệ đó với môi trường xung quanh. Doanh
nghiệp có đạt được mục tiêu lợi nhuận của mình hay không sẽ phụ thuộc có
tính quyết định ở các mối quan hệ đó. Chính vì vậy, công tác định giá
doanh nghiệp đòi hỏi phải xem xét tất cả các mối quan hệ nói trên không
chỉ đơn thuần bao gồm nội dung đánh giá về những tài sản trong doanh
nghiệp, mà điều quan trọng hơn là phải đánh giá nó về mặt tổ chức, nguồn
nhân lực, danh tiếng, những triển vọng …
- Thứ tư: Các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp không nhằm vào
việc sở hữu các tài sản cố định, tài sản lưu động hay sở hữu một bộ máy
kinh doanh năng động mà nhằm vào mục tiêu chủ yếu là tìm kiếm lợi
nhuận. Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả hoạt động - lợi ích doanh nghiệp
đối với các nhà đầu tư là ở các khoản thu nhập từ hoạt động SXKD. Vì
vậy, tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, giá trị doanh nghiệp
được xác định căn cứ vào các khoản thu nhập trong quá trình SXKD.
Nói tóm lại, giá trị doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền về các
khoản thu nhập mà doanh nghiệp mang lại cho các nhà đầu tư trong quá
trình SXKD. Để định giá doanh nghiệp, xét về mặt nguyên lý, chỉ có thể
tồn tại hai cách tiếp cận, đó là:
(1) Trực tiếp đánh giá giá trị của các tài sản trong doanh nghiệp và đánh giá
giá trị của yếu tố tổ chức.
(2) Bằng một phương pháp nào đó để lượng hoá các khoản thu nhập mà
doanh nghiệp có thể mang lại cho nhà đầu tư một cách đáng tin cậy. Do đó,
năng thanh toán và có nhu cầu mua tài sản được xác định giá trị thị trường. 8
+ “Và một bên là người bán sẵn sàng bán ” là người bán đang có
quyền sở hữu tài sản (trừ đất), có quyền sử dụng đất có nhu cầu muốn bán
tài sản với mức giá tốt nhất có thể được trên thị trường.
+ “Điều kiện thương mại bình thường” là việc mua bán được tiến
hành khi các yếu tố cung, cầu, giá cả, sức mua không xảy ra những đột biến
do chịu tác động của thiên tai, địch họa; nền kinh tế không bị suy thoái
hoặc phát triển quá nóng…; thông tin về cung, cầu, giá cả tài sản được thể
hiện công khai trên thị trường.
Giá trị thị trường thể hiện mức giá hình thành trên thị trường công
khai và cạnh tranh. Thị trường này có thể là thị trường trong nước hoặc thị
trường quốc tế, có thể bao gồm nhiều người mua, người bán hoặc bao gồm
một số lượng hạn chế người mua, người bán.
Giá trị thị trường thể hiện mức giá ước tính mà trên cơ sở đó, bên
bán và bên mua thoả thuận tại một thời điểm sau khi cả hai bên đã khảo sát,
cân nhắc đầy đủ các cơ hội và lựa chọn tốt nhất cho mình từ các thông tin
trên thị trường trước khi đưa ra quyết định mua hoặc quyết định bán một
cách hoàn toàn tự nguyện, không nhiệt tình mua hoặc nhiệt tình bán quá
mức.
1.1.2.2. Giá trị phi thị trường
Giá trị phi thị trường là số tiền ước tính của một tài sản dựa trên việc
đánh giá yếu tố chủ quan của giá trị nhiều hơn là dựa vào khả năng có thể
mua bán tài sản trên thị trường.
Cơ sở của việc đưa ra khái niệm giá trị phi thị trường cũng xuất phát
trực tiếp từ khái niệm giá trị tài sản: là biểu hiện bằng tiền về những lợi ích
mà tài sản mang lại cho chủ thể nào đó tại một thời điểm nhất định.
Sau đây một số khái niệm giá trị phi thị trường thường dùng:
10
quan đến những tài sản riêng biệt với những nhà đầu tư riêng biệt. Không nên
nhầm lẫn giữa giá trị đầu tư và giá trị thị trường. Giá trị đầu tư của một tài sản
có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thị trường của tài sản đó. Tuy nhiên giá trị
thị trường có thể phản ánh một số đánh giá cá nhân về giá trị đầu tư. Giá trị đầu
tư có liên quan đến giá trị đặc biệt.
- Giá trị đang sử dụng (Value in use): là giá trị các tài sản khi nói
đang được một người cụ thể sử dụng cho một mục đích nhất định. Vì vậy,
tài sản đó không liên quan đến thị trường. Loại giá trị này đóng góp vào
một doanh nghiệp với tư cách là một bộ phận của tài sản doanh nghiệp,
không tính đến giá trị sử dụng tối ưu và tốt nhất của tài sản cũng như số
tiền mà tài sản đó mang lại khi nó được mang ra bán. Xét trên giác độ kế
toán, giá trị đang sử dụng là giá trị hiện tại của luồng tiền mặt ước tính có
thể mang lại trong tương lai kể từ khi bắt đầu sử dụng tài sản đến khi thanh
lý tài sản.
- Giá trị doanh nghiệp đang hoạt động (going concern): là giá trị toàn
bộ của một doanh nghiệp. Khái niệm này liên quan đến định giá tài sản một
doanh nghiệp đang hoạt động mà mỗi bộ phận tài sản cấu thành nên doanh
nghiệp đó không thể tách rời và cũng không thể thẩm định trên cơ sở giá trị
thị trường.
1.2. ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KTTT
1.2.1. Khái niệm về định giá doanh nghiệp và công tác định giá doanh
nghiệp
Định giá doanh nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình đổi
mới doanh nghiệp, cấu trúc lại nền kinh tế và cũng thường được áp dụng
khi các doanh nghiệp tổ chức sắp xếp, cơ cấu lại dây chuyền sản xuất hoặc
các bộ phận sản xuất kinh doanh. Quá trình định giá nhằm mục tiêu tính
toán, xác định giá trị của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Thông
12
định giá trị đối với loại hàng hoá này là một đòi hỏi khách quan. Trong việc
điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước cũng như trong hoạt động quản trị
kinh doanh của các doanh nghiệp luôn cần thiết các thông tin về giá trị
doanh nghiệp. Giá trị doanh nghiệp là bao nhiêu, cao hay thấp luôn là mối
quan tâm của các pháp nhân và thể nhân kinh tế có lợi ích liên quan, gắn bó
trực tiếp đến các doanh nghiệp được đánh giá, cụ thể:
- Thứ nhất: Đối với các giao dịch hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp
nhất hoặc chia nhỏ doanh nghiệp. Đây là loại giao dịch diễn ra có tính chất
thường xuyên và phổ biển trong cơ chế thị trường. Nó phản ánh các nhu
cầu về đầu tư trực tiếp vào SXKD, phản ánh nhu cầu đi tìm nguồn tài trợ
cho sự tăng trưởng và phát triển bằng các yếu tố từ bên ngoài, làm gia tăng
một cách nhanh chóng tiềm lực tài chính, nhằm tăng cường giao dịch đó,
đòi hỏi phải có sự đánh giá các yếu tố tác động tới doanh nghiệp; trong đó,
giá trị doanh nghiệp là một yếu tố có tính chất quyết định, là căn cứ trực
tiếp để quyết định mức giá trong các giao dịch.
- Thứ hai: Giá trị doanh nghiệp thực chất là sự phản ánh năng lực
tổng hợp của một doanh nghiệp, phản ánh khả năng tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Vì vậy, căn cứ vào đó, các nhà quản trị kinh doanh có thể
thấy được khả năng cạnh tranh không chỉ của doanh nghiệp mình mà còn
cả khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp khác trong ngành và trong
nền kinh tế. Vì vậy, giá trị doanh nghiệp là một căn cứ thích hợp, là cơ sở
để đưa ra các quyết định về kinh doanh, về tài chính …. một cách đúng
đắn. Ngoài ra, khi phát hành chứng khoán nhằm thu hút vốn trên thị trường
cũng cần định giá doanh nghiệp làm cơ sở để tính toán được số lượng cần
thiết cho mỗi đợt phát hành chứng khoán.
- Thứ ba: Dưới giác độ của các nhà đầu tư, của người cung cấp thì
thông tin về giá trị doanh nghiệp cho thấy một sự đánh giá tổng quát về uy
14
trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc định giá doanh nghiệp là một vấn đề
không đơn giản, xét cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn của Việt Nam
cũng như trên thế giới.
1.2.3. Mục tiêu của định giá doanh nghiệp
Việc định giá doanh nghiệp là rất cần thiết do có nhiều đối tượng
quan tâm đến giá trị của doanh nghiệp nhằm những mục đích khác nhau tại
các thời điểm nhất định. Việc xác định giá trị của doanh nghiệp có thể phục
vụ một số mục đích như:
- Định giá doanh nghiệp để bảo hiểm
Các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động trong
các lĩnh vực có nhiều yếu tố rủi ro, cần phải mua bảo hiểm cho quá trình
hoạt động sản xuất cũng như mua bảo hiểm cho các loại tài sản cấu thành
nên doanh nghiệp. Để các công ty bảo hiểm có thể thực hiện tham gia bảo
hiểm tại doanh nghiệp, thì giá trị của doanh nghiệp phải được xác định bởi
cả hai phía - công ty bảo hiểm và doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, hai bên tiến
hành đàm phán để kí hợp đồng bảo hiểm - cơ sở cho việc bảo hiểm tài sản
sau này khi xảy ra các vấn đề cần được bảo hiểm.
- Định giá doanh nghiệp để vay vốn
Doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn
cần vốn cho sự tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, nguồn vốn của doanh
nghiệp là hữu hạn, do vậy, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp phải huy
động vốn từ bên ngoài. Đi vay từ các tổ chức tín dụng là một trong những
nguồn huy động quan trọng nhất của doanh nghiệp. Để có thể vay vốn từ
Ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác, ngoài hình thức tín chấp
bằng uy tín của người bảo lãnh hay bằng chính uy tín của doanh nghiệp, thì
doanh nghiệp phải có tài sản thế chấp và tài sản đó có thể là chính giá trị
của doanh nghiệp. Vì thế, cả bên cho vay và bên đi vay phải cùng xác định
16
doanh liên kết, thậm chí khi doanh nghiệp bị phá sản
Như chúng ta đã biết, mọi sự vật hiện tượng đều không ngừng biến
đổi, giá trị của doanh nghiệp cũng như vậy, giá trị của doanh nghiệp không
phải là vĩnh cửu. Do vậy, kết quả của một lần định giá doanh nghiệp chỉ có
giá trị tại một thời điểm nhất định. Để có thể đáp ứng nhu cầu của các đối
tượng khác nhau, việc định giá doanh nghiệp lại được tiến hành lại khi cần
thiết và ngày càng thường xuyên hơn. Vì thế, sự cần thiết của công tác định
giá doanh nghiệp là không thể phủ nhận.
1.3. PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều phương pháp định giá doanh
nghiệp và được chia làm 6 nhóm phương pháp xác định giá trị doanh
nghiệp.
Bảng 1.1 Các phƣơng pháp định giá doanh nghiệp trên thế giới
(Nguồn: Company valuation methods, the common errors in valuations – Pablo
Fernández, IESE Bussiness School – Universidad de Navarra)
Trong thực tế, tuy có nhiều phương pháp định giá khác nhau nhưng
các chuyên gia tài chính đều có cùng một nhận định, sự khác nhau giữa các
phương pháp định giá chỉ mang tính tương đối. Trong phạm vi bài viết này,
tác giả xin đưa ra một số phương pháp được sử dụng phổ biến nhất đó là: 17
1.3.1. Phƣơng pháp xác định giá trị nội tại (giá trị tài sản thuần)
Phương pháp này cho rằng giá trị của một doanh nghiệp bằng tổng
các giá trị của từng loại tài sản riêng biệt trừ đi các khoản nợ của doanh
nghiệp đó.
: Giá thị trường của tài sản i tại thời điểm định giá.
N : Tổng số các loại tài sản.