Hà Nội, 2008
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN
Ở VIỆT NAM
Quy đònh của pháp luật,
hiệu lực thực tế và vấn đề
QUẢN TRỊ CÔNG TY
CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM:
Quy đònh của pháp luật,
hiệu lực thực tế và vấn đề
2
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
Lời mở đầu 5
I. Một số nét về thực trạng phát triển khung quản trò doanh nghiệp ở nước ta 6
1. Doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong nước 7
2. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 10
2.1. Đối với 100% vốn nước ngoài trách nhiệm hữu hạn 11
2.2. Công ty liên doanh trách nhiệm hữu hạn. 11
3. Quản trò doanh nghiệp nhà nước 15
II. Quản trò công ty cổ phần: những quy đònh pháp luật có liên quan 20
1. Cổ đông và Đại hội đồng Cổ đông. 21
2. Hội đồng quản trò. 27
3. Giám đốc (Tổng giám đốc) điều hành. 32
4. Tiền lương của giám đốc, thù lao của các thành viên
HĐQT và các lợi ích khác của họ. 33
5. Nghóa vụ của các thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc)
và những người quản lý khác. 34
6. Công khai hoá và kiểm soát các giao dòch với các bên có liên quan. 35
7. Công khai hoá thông tin. 37
8. Ban kiểm soát. 40
III. Quản trò công ty cổ phần: thực tiễn và vấn đề 46
1. Quyền của cổ đông và Đại hội đồng Cổ đông. 48
GTGT Giá trò gia tăng
VND Đồng Việt Nam
SITC Trung tâm đào tạo quản lý cao cấp SITC Việt Nam
HĐQT Hội đồng quản trò
BKS Ban Kiểm soát
ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
OECD Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế
LDNNN Luật doanh nghiệp nhà nước
UBCK Ủy ban chứng khoán
SGDCK Sở giao dòch chứng khoán
TTGDCK Trung tâm giao dòch chứng khoán
TVHĐQT Thành viên Hội đồng quản trò
5
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
Lời mở đầu
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã có bước tiến khá dài trong hoàn thiện
khung quản trò công ty nói chung và quản trò công ty cổ phần nói riêng.
Quá trình triển khai thi hành Luật Doanh nghiệp cho đến nay thường nhấn
mạnh nhiều vào phía các cơ quan nhà nước hơn là việc quản trò trong nội
bộ doanh nghiệp.
Nội dung của báo cáo này sẽ giới thiệu và phân tích thực trạng quản trò
công ty, mà chủ yếu là quản trò công ty cổ phần ở Việt Nam, với ba phần
chính sau đây. Phần 1 sẽ giới thiệu sơ lược quá trình phát triển khung
pháp lý về quản trò công ty ở Việt Nam. Phần 2 sẽ tập hợp, giới thiệu và
phân tích các quy đònh pháp luật có liên quan tạo thành khung quản trò
công ty cổ phần ở nước ta. Phần 2 này sẽ trình bày các nội dung cơ bản
của từng bộ phận cấu thành khung quản trò công ty cổ phần ở nước ta.
Đối với từng bộ phận cấu thành đó, nội dung chủ yếu được trình bày theo
cách: (i) trước hết, giới thiệu các quy đònh pháp luật có liên quan; (ii) Tiếp
đến, sẽ trình bày bản chất, mục đích, ý nghóa và tác dụng của các cấu
cũng bò “chia cắt”, phân biệt đối xử theo tính chất sở hữu. Vì vậy, khung quản
trò đối với doanh nghiệp cũng khác nhau theo thành phần kinh tế.
1. Doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân trong nước
Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (1990) đã đặt nền tảng pháp lý
đầu tiên cho việc hình thành hệ thống các doanh nghiệp sở hữu tư nhân trong
nước; đồng thời, đưa ra những mầm mống manh nha cho khung quản trò công
ty ở nước ta. Trong số 46 điều của Luật Công ty 1990, chỉ có 10 điều có quy
đònh liên quan đến quản trò công ty. Có thể nói, về quản trò công ty, Luật công
ty mới đònh hình được khung sơ lược của quản lý nội bộ. Cơ cấu quản lý nội bộ
công ty cổ phần gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trò và Ban kiểm
7
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
soát. Quyền của cổ đông, thành viên được quy đònh chưa đầy đủ và còn rất
sơ sài. Cổ đông chủ yếu mới có 2 quyền; đó là được chia lợi nhuận tương
ứng số cổ phần hoặc phần góp vốn và tham dự họp Đại hội đồng và biểu
quyết về các vấn đề thuộc thẩm quyền. Quyền của thành viên, cổ đông
tham gia vào việc quyết đònh hàng loạt các vấn đề cơ bản của công ty như
chia, tách, hợp nhất, sáp nhập,v.v... không được quy đònh. Chưa có sự phân
đònh cụ thể thẩm quyền và trách nhiệm của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng
quản trò, Giám đốc điều hành và Ban kiểm soát. Còn các nội dung khác của
khung quản trò công ty hoàn toàn chưa được quy đònh. Những nội dung cơ
bản như công khai hóa thông tin, minh bạch quản lý điều hành, hay cấm
giao dòch nội gián và kiểm soát giao dòch với các bên có liên quan hoàn toàn
chưa có trong ý niệm của cơ quan hoạch đònh, thực thi chính sách và cả
những người quản lý doanh nghiệp.
Chế độ quản trò công ty ở dạng manh nha, sơ sài như miêu tả trên đây
được áp dụng trong thời kỳ 1991-1999 đối với khoảng gần 1000 công ty
cổ phần và trách nhiệm hữu hạn có quy mô tương đối lớn. Trong giai
đoạn gần 10 năm nói trên không có một sáng kiến hay thay đổi nhằm
hoàn thiện và nâng cao khung quản trò doanh nghiệp ở nước ta. Thực tế
dụng đối với các công ty niêm yết trên các trung tâm giao dòch chứng khoán.
Khung quản trò hình thành trong Bản điều lệ mẫu nói trên đã vận dụng khá đầây
đủ các nguyên tắc tốt của OECD về quản trò công ty. Ngoài nội dung quản trò
công ty theo Luật Doanh nghiệp 1999, thì Bản Điều lệ mẫu còn áp dụng một số
yêu cầu như: phải có ít nhất 1/3 số thành viên Hội đồng quản trò không điều hành,
hàng năm bầu lại 1/3 số thành viên HĐQT và Ban kiểm soát, yêu cầu công bố
thù lao của Hội đồng quản trò và Ban kiểm soát, lập các tiểu ban hoặc cử thành
viên HĐQT chuyên trách về kiểm soát nội bộ, đề cử thành viên HĐQT, về trả
lương và lợi ích khác và về bổ nhiệm nhân sự ở công ty.
Tóm lại, từ năm 2000, khung quản trò công ty ở nước ta đã có bước phát
triển và biến đổi cơ bản theo hướng phù hợp với các thông lệ quản trò tốt đã
được thừa nhận. Tuy vậy, xét về khía cạnh pháp lý, khung quản trò đó cũng
còn bộc lộ không ít khiếm khuyết; cụ thể là:
Quyền của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ đông công ty
cổ phần vẫn chưa được quy đònh đầy đủ, và chưa được bảo đảm thực
hiện một cách hợp lý.
Yêu cầu về các đònh túc số (quorum) đối với Hội đồng thành viên và Đại
hội đồng cổ đông là tương đối thấp so với thông lệ quốc tế; có sơ hở
9
1.
Quyết đònh số 07/2002/QĐ-VPCP ngày 19 tháng 11 năm 2002 ban hành mẫu Điều lệ áp dụng cho các công ty
niêm yết.
2.
Xem thêm CIEM-UNDP-GTZ: 2005 “Thời điểm cho sự thay đổi: Đánh giá điểm mạnh và điểm yếu của Luật
Doanh nghiệp và những kiến nghò bổ sung, sửa đổi”.
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
trong việc quyết đònh đa số về các vấn đề quan trọng của công ty, cũng
như trong việc ra quyết đònh bằng hình thức lấy ý kiến bằng văn bản. Hệ
Như trên đã trình bày, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm Doanh
nghiệp liên doanh và Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, và đều tồn tại
10
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, chế độ quản trò liên
doanh trách nhiệm hữu hạn và 100% vốn nước ngoài trách nhiệm hữu hạn
là không giống nhau. Xem xét quá trình bổ sung, hoàn thiện pháp luật về
đầu tư nước ngoài tại nước ta cho thấy riêng về quản trò công ty, nội dung
của nó hầu như không thay đổi cho đến tận tháng 7 năm 2006.
2.1. Đối với 100% vốn nước ngoài trách nhiệm hữu hạn
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài
đầu tư 100% vốn tại Việt Nam. Như vậy, ở đây không có phân biệt về số lượng
thành viên; dù một hay nhiều thành viên mà tất cả họ đều là người nước ngoài
thì doanh nghiệp do họ thành lập cũng được gọi là doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài. Luật đầu tư nước ngoài về cơ bản không quy đònh về khung quản
trò đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trách nhiệm hữu hạn
3
. Như vậy,
về áp dụng quản trò công ty 100% vốn nước ngoài trách nhiệm hữu hạn, có thể
xảy ra một số trường hợp sau đây. Trường hợp công ty tại Việt Nam là một
công ty con, thì công ty đó có thể coi như một bộ phận của công ty mẹ ở nước
ngoài, và khung quản trò công ty được áp dụng đối với công ty mẹ cũng chi phối
công ty con tại nước ta. Trường hợp các thành viên là cá nhân, hoặc trường
hợp các tổ chức, cá nhân thành lập một công ty ở nước ngoài; và không hoạt
động ở nước đó, mà chỉ thông qua công ty đó để đầu tư vào Việt Nam dưới
hình thức 100% trách nhiệm hữu hạn, thì chế độ quản trò áp dụng cho công ty
100% vốn nước ngoài trong các trường hợp đó không tồn tại về mặt pháp lý.
Tức là không có khung pháp lý điều chỉnh quản trò công ty. Có thể nói, sự đổ
bể của SITC là một trường hợp điển hình của thiếu quản trò công ty đối với
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Cuối cùng, nếu các thành viên ở các
tương thích về nghóa vụ của thành viên. Trong khi Luật (điều 10) quy đònh thành
viên phải chòu rủi ro và thua lỗ theo tỷ lệ vốn góp, thì nghò đònh (Khoản 3 Điều
11 Nghò đònh số 24/2000/NĐ-CP) quy đònh “mỗi bên liên doanh chòu trách
nhiệm trong phạm vi phần vốn góp vào vốn pháp đònh của doanh nghiệp”.
Cơ cấu quản lý công ty bao gồm HĐQT và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc.
Mỗi thành viên đều có quyền cử người đại diện cho mình vào Hội đồng
quản trò tương ứng với tỷ lệ phần góp vốn, trừ một số trường hợp sau đây.
Trường hợp, chỉ có 2 thành viên, thì mỗi thành viên có quyền chỉ đònh ít nhất
2 người của mình vào HĐQT; hoặc trong trường hợp liên doanh có 3 bên trở
lên, thì mỗi bên được cử ít nhất một người; và nếu liên doanh giữa một bên
Việt Nam và nhiều bên nước ngoài hoặc một bên nước ngoài và nhiều bên
Việt Nam, thì một bên đó có cử ít nhất 2 thành viên vào HĐQT. Như vậy,
các trường hợp ngoại lệ nói trên trên thực tế có thể đã triệt tiêu nguyên tắc
“đại diện” trong HĐQT theo tỷ lệ vốn góp.
Hội đồng quản trò là cơ quan lãnh đạo doanh nghiệp. Luật không xác đònh
cụ thể thẩm quyền của Hội đồng quản trò. Tuy vậy, Luật đã chia các quyết
12
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
đònh của HĐQT thành 2 nhóm theo 2 cách biểu quyết. Một là, các vấn đề
được quyết đònh theo nguyên tắc nhất trí, bao gồm
4
:
Bổ nhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc và Phó tổng giám đốc thứ nhất;
Sửa đổi bổ sung điều lệ doanh nghiệp;
Các vấn đề khác do các bên thỏa thuận và được ghi vào Điều lệ
doanh nghiệp.
Đối với các vấn đề khác, HĐQT quyết đònh theo nguyên tắc đa số quá bán
quy đònh “Những vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp liên doanh gồm: bổ nhiệm,
miễn nhiệm Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc thứ nhất; sửa đổi bổ sung điều lệ doanh nghiệp do Hội đồng quản
trò quyết đònh theo nguyên tắc nhất trí giữa các thành viên Hội đồng quản trò có mặt tại cuộc họp”.
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
chất là thành viên của công ty. Tuy vậy, trong một số trường hợp, hình như
có sự nhầm lẫn và hiểu không thống nhất khi coi “một bên” có thể gồm
một số thành viên. Ví dụ, “bên Việt Nam”
5
có thể được hiểu gồm các thành
viên là cá nhân và tổ chức Việt Nam hợp thành. Cũøng tương tự như vậy
đối với “bên nước ngoài”. Cách hiểu như vậy có thể dẫn tới sự đối xử bất
bình đẳng và gây hại đến lợi ích của từng thành có liên quan. Cũøng tương
tự “Hội đồng quản trò” trong liên doanh trách nhiệm hữu hạn ở nước ta
khác về bản chất, đòa vò pháp lý và thẩm quyền so với HĐQT theo thông
lệ chung theo pháp luật về công ty trên thế giới.
Trong khung quản trò công ty liên doanh trách nhiệm hữu hạn, hoạch đònh
chiến lược kiểm soát và thực thi chiến lược phát triển kinh doanh, kiểm
soát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vẻ như không phải là
trọng tâm công việc của HĐQT. Trái lại, trọng tâm đặt vào việc quyết đònh
các vấn đề liên quan đến “phân chia” quyền lực và lợi ích của một số
người có liên quan.
Khung quản trò được áp dụng chưa có đủ yếu tố cơ bản cấu thành của
quản trò công ty theo thông lệ phổ biến được thừa nhận.
Quyền của thành viên, tuy đã có quy đònh, nhưng chưa đầy đủ, chưa rõ
ràng và còn bò hạn chế thực hiện. Các thành viên chưa được đối xử
công bằng và bình đẳng. Với cách thức chỉ đònh thành viên HĐQT như
quy đònh và cách biểu quyết theo nguyên tắc nhất trí về một số vấn đề,
thì thành viên thiểu số đã có số phiếu biểu quyết ngang bằng thành viên
ta. Kết quả là, không có khung quản trò theo Luật Việt Nam áp dụng đối
với công ty 100% vốn nước ngoài trách nhiệm hữu hạn. Đối với liên
doanh trách nhiệm hữu hạn, thì khung quản trò sơ sài, vừa thiếu vừa
không đầy đủ theo các chuẩn mức quản trò phổ biến được thừa nhận.
Những gì có được trong khung quản trò áp dụng phần lớn đều không
tương thích về quan niệm, nội dung và bản chất của chúng đã và đang
được áp dụng phổ biến ở cả trong nước và nước ngoài.
3. Quản trò doanh nghiệp nhà nước
Cho đến năm 1995, trọng tâm đổi mới quản trò doanh nghiệp nhà nước chủ
yếu tập trung vào việc nâng cao quyền tự chủ kinh doanh của doanh
nghiệp. Bản chất và nội dung của quá trình này chính là ủy quyền ra quyết
đònh từ các cơ quan hành chính cấp trên sang cho đội ngũ quản lý doanh
nghiệp. Sự thay đổi nói trên kết hợp với sự xuất hiện và phát triển của các
doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài đã làm cho các doanh nghiệp nhà nước đònh hướng thò trường nhiều
hơn trong hoạt động kinh doanh. Tuy vậy, quá trình đó ngày càng bộc lộ sự
bất cập của nó; và đó chính là vấn đề làm sao duy trì được cân bằng giữa
quyền kiểm soát của Nhà nước trong vai trò chủ sở hữu và quyền tự chủ
kinh doanh của doanh nghiệp. Các cơ quan nhà nước chòu trách nhiệm
“quản lý” các doanh nghiệp nhà nước phải giám sát những người quản lý
15
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
ngăn chặn những lỗ hổng hoặc lạm dụng chiếm đoạt tài sản của Nhà nước.
Tuy vậy, nếu can thiệp và kiểm soát quá mức sẽ hạn chế tính năng động
sáng tạo của đội ngũ quản lý, làm mất cơ hội và giảm hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Ngoài ra, một vấn đề khác cũng thường gặp là khó có thể
phân biệt được một cách rạch ròi giữa những can thiệp đúng thẩm quyền của
cơ quan nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và những can thiệp hành chính
của họ với vai trò là cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Vào giữa những
năm 90 của thế kỷ 20, sau hơn 10 năm cải cách nâng cao quyền tự chủ kinh
trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thò trường có sự
quản lý của Nhà nước theo đònh hướng xã hội chủ nghóa; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp
nhà nước; tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiêp; thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả và
thực hiện đúng các mục tiêu do Nhà nước giao cho doanh nghiệp”.
7
. Khoản 1 Điều 27 Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995).
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
Theo Luật Doanh nghiệp nhà nước 1995, Hội đồng quản trò được thiết lập
tại các tổng công ty và công ty nhà nước độc lập có quy mô lớn. Hàng loạt
các nội dung phổ biến thường thấy liên quan đến HĐQT, như đòa vò pháp lý,
nhiệm vụ và quyền hạn, cơ cấu, quy mô và nhiệm kỳ, chế độ làm việc, tiêu
chuẩn, thù lao và lợi ích khác,v. v... của thành viện HĐQT đã được quy đònh.
Về đòa vò pháp lý, HĐQT được quy đònh là cơ quan quản lý doanh nghiệp
(Điều 29, LDNNN 1995). Tuy vậy, xét về chức năng, nhiệm vụ thì HĐQT là
cơ quan tham mưu cho chủ sở hữu về chiến lược và kế hoạch phát triển dài
hạn của doanh nghiệp; đồng thời, phê chuẩn những đề nghò, kiến nghò của
Tổng giám đốc trong các vấn đề như phương án sử dụng và bảo toàn vốn,
quyết toàn tài chính hàng năm, phương án vay vốn, tổ chức, bộ máy của
doanh nghiệp; chỉ kiểm tra, giám sát Tổng giám đốc trong việc sử dụng, bảo
toàn và phát triển vốn nhà nước, chứ không phải trong toàn bộ hoạt động
quản lý, điều hành kinh doanh ở doanh nghiệp.
Tổng giám đốc do Thủ tướng hoặc Bộ trưởng, chủ tòch Ủy ban Nhân dân
tỉnh, thành phố bổ nhiệm; là người đại diện theo pháp luật của công ty.
Tổng giám đốc vừa chòu trách nhiệm với người bổ nhiệm, vừa chòu trách
nhiệm trước HĐQT trong quản lý điều hành công ty. Tổng giám đốc có
quyền và trách nhiệm khá nặng nề. Trong số quyền hạn của tổng giám đốc,
có các quyền như: cùng với Chủ tòch HĐQT ký nhận vốn, bảo toàn và phát
triển vốn được giao, xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển dài hạn, hàng
năm, xây dựng dự án đầu tư, đề án tổ chức quản lý, đònh mức kinh tế kỹ
thuật, đề nghò bổ nhiệm Phó tổng giám đốc, Giám đốc đơn vò thành viên; bổ
giám đốc có vai trò rất “chủ động”, có phần lấn lướt so với HĐQT. Chế độ
khuyến khích đối với cả HĐQT và Giám đốc chưa hợp lý; họ vẫn được coi
như những công chức hành chính nhà nước, hưởng các thang bậc lợi ích và
giá trò xã hội như những công chức nhà nước với ngạch bậc tương đương.
Khung quản trò doanh nghiệp nhà nước được hình thành và phát triển qua
Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003 không có thay đổi cơ bản so với ”người
tiền nhiệm” của nó. Xét về khung quản trò nói chung, Luật Doanh nghiệp
nhà nước có quy đònh bổ sung thêm một số yếu tố. Quyền của chủ sở hữu
đã được quy đònh cụ thể và đầy đủ hơn. Khác với trước đây, các quyền của
chủ sở hữu đã được “phân công”, “phân cấp” thực hiện một cách phân tán
giữa Chính phủ, các bộ và uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Tuy vậy, không có cơ
chế và thể chế phối hợp giữa các quan nói trên trong thực hiện quyền chủ
sở hữu nhà nước. Vì vậy, có thể nói, giám sát của chủ sở hữu đối với người
quản lý trở nên rất lỏng lẻo, không có hệ thống, không thường xuyên và
18
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
kém hiệu quả. Hàng loạt các vụ bê bối, tham nhũng lớn phát hiện trong thời
kỳ này là biểu hiện thực tế của thực trạng nói trên
8
.
Tóm lại, quá trình hình thành và phát triển khung quản trò công ty ở các
thành phần kinh tế khác nhau là không giống nhau. Về mặt pháp lý, có thể
nói, khung quản trò áp dụng đối với các công ty thuộc khu vực kinh tế tư
nhân trong nước đã có bước tiến nhảy vọt. Các nguyên tắc quản trò thông
dụng phổ biến đã được áp dụng. Trái lại, quản trò công ty áp dụng đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hầu như không được chú ý hoàn
thiện. Bước tiến duy nhất đối với quản trò doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài có lẽ là từng bước giảm đến mức tối thiểu các vấn đề phải thông qua
theo nguyên tắc nhất trí tại Hội đồng quản trò. Trong khi đó, quản trò công ty
nhà nước luôn được chú ý và nỗ lực cải cách. Tuy vậy, các nỗ lực cải cách
liên tục được hoàn thiện, khung quản trò công ty cổ phần theo quy đònh của pháp
luật ở nước ta đã được thống nhất, và về nguyên tắc, tương thích với những
chuẩn mực quản trò phổ biến được thừa nhận
9
. Cũng như ở các nước khác,
những yếu tố cấu thành quản trò công ty cổ phần ở nước ta được quy đònh cụ
thể tại các quy đònh có liên quan của Luật Doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp
số 60/2005/QH11) và Luật chứng khoán (Luật chứng khoán số 70/2006/QH11).
1. Cổ đông và Đại hội đồng cổ đông.
Cổ đông ở nước ta được đối xử công bằng và bình đẳng theo quy đònh của
pháp luật
10
. Nguyên tắc “ một cổ phần cùng loại tạo cho người sở hữu nó các
quyền ngang bằng nhau” đã thể hiện khá rõ nét trong các quy đònh có liên
quan về quyền của cổ đông. Quyền của cổ đông được quy đònh chủ yếu tại
Luật Doanh nghiệp. Có thể nói, quyền của cổ đông ở nước ta cũng được quy
đònh tương tự như ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Tất cả các cổ đông
phổ thông theo quy đònh của Luật doanh nghiệp đều có các quyền sau đây:
Được ưu tiên mua cổ phần mới được chào bán tương ứng với tỷ lệ số cổ
phần hiện có tại công ty; có quyền chuyển nhượng quyền ưu tiên mua cổ
phần cho người khác;
9.
Năm 2005, Ngân hàng thế giới đã thực hiện báo cáo đánh giá so sánh các quy đònh pháp lý về quản trò doanh
nghiệp Việt Nam với những thực tiễn tốt về quản trò công ty theo chuẩn mực của OECD.
10. Cổ đông ở nước ta được hiểu là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít nhất 1 cổ phần của công ty cổ phần. Cổ đông
được chia thành 2 loại, cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi. Cổ đông sáng lập thuộc nhóm cổ đông phổ
thông; đó là những cổ đông phổ thông đã tham gia xây dựng, thông qua và ký vào bản điều lệ đầu tiên của
công ty cổ phần.
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
đông theo nguyên tắc “một cổ phần một phiếu bầu”; bao gồm (i) chiến lược và
đònh hướng phát triển của công ty, (ii) số lượng cổ phần và cơ cấu vốn cổ phần
của công ty, (iii) bổ nhiệm và miễn nhiệm nhân sự của cơ quan quản lý công
ty (HĐQT) và cơ quan kiểm soát nội bộ của công ty (Ban kiểm soát) theo
phương thức dồn phiếu bầu, tiền lương, thù lao và các lợi ích khác đối với họ,
(iv) quyết đònh các giao dòch có quy mô lớn đến mức ảnh hưởng đến cơ cấu
vốn và tài sản, qua đó, có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện chiến lược, kế
hoạch kinh doanh, loại và quy mô hoạt động kinh doanh hiện hành của công
ty; (v) thông qua báo cáo tài chính hàng năm và mức cổ tức, (vi) tổ chức lại và
giải thể công ty,v.v.. Nói tóm lại, cổ đông có quyền tham gia thảo luận và quyết
11. Cổ phần của cổ đông sáng lập bò hạn chế chuyển nhượng trong ba năm đầu; cụ thể là, trong ba năm đầu, kể từ khi
đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập chỉ được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác;
còn nếu chuyển nhượng cho người khác, thì phải được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông.
QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM Quy đònh của pháp luật, hiệu lực thực tế và vấn đề
23
đònh tất cả các nội dung quan trọng trong phát triển và tổ chức hoạt động kinh
doanh của công ty từ đònh hướng chiến lược, vốn và tài sản, nhân sự, kết quả
kinh doanh và sử dụng lợi nhuận, cho đến việc thay đổi hoặc giải thể công ty.
Ngoài ra, các quy đònh về trình tự, thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ (các Điều 97,
98, 99, 100 và 101 Luật Doanh nghiệp) về cơ bản đảm bảo để cổ đông được
đối xử công bằng và bình đẳng trong việc tiếp cận đến các thông tin liên quan
đến cuộc họp cũng như sự chuẩn bò cần thiết của từng cổ đông phục vụ cho
cuộc họp. Các quy đònh đó về nguyên tắc tạo điều kiện cho tất cả các cổ đông
có thông tin như nhau và có chuẩn bò tối đa cần thiết trước khi tham dự họp để
thông qua các quyết đònh quan trọng thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ.
Cổ đông biểu quyết phản đối quyết đònh của Đại hội đồng cổ đông về việc tổ
chức lại, hoặc thay đổi quyền và nghóa vụ của cổ đông đã được quy đònh tại
Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình theo giá
thò trường hoặc giá được tính theo nguyên tắc do Điều lệ công ty quy đònh hoặc
giá do tổ chức đònh giá chuyên nghiệp xác đònh.
tiến hành họp và thông qua quyết đònh của ĐHĐCĐ, nếu xét thấy cần thiết.
ĐHĐCĐ họp đònh kỳ hàng năm và có thể họp bất thường bất cứ khi nào,
HĐQT, Ban kiểm soát và các cổ đông xét thấy cần thiết. Điều kiện về hiệu lực
họp ĐHĐCĐ phụ thuộc vào số lần triệu tập họp đối với cuộc họp đó. Đối với
triệu tập họp lần thứ nhất, thì cuộc họp đó đủ điều kiện tiến hành khi có số cổ
đông tham dự đại diện cho ít nhất 65% số phiếu biểu quyết; đối với triệu tập
lần thứ hai, thì cuộc họp đó có đủ điều kiện về hiệu lực pháp lý khi có số cổ
đông đại diện cho ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết của công ty; và đối với
triệu tập họp lần thứ ba, thì cuộc họp đó luôn có hiệu lực pháp lý, bất kể số cổ
đông tham dự và số cổ phần hay số phiếu biểu quyết mà họ đại diện. Quy đònh
nói trên về điều kiện tiến hành họp ĐHĐCĐ bảo đảm “hiện thực hoá” được
quyền yêu cầu triệu tập họp hoặc triệu tập họp ĐHĐCĐ của cổ đông thiểu số
trong trường hợp cần thiết. Cơ chế đó, nếu được sử dụng hợp lý, sẽ buộc cổ
đông đa số phải tính đến quyền, lợi ích và mối quan tâm của cổ đông thiểu số,
giúp cổ đông thiểu số có cơ hội ảnh hưởng đến các quyết đònh của công ty;
qua đó, cân bằng được mối quan hệ lợi ích với cổ đông đa số, bảo vệ hợp lý
các quyền và lợi ích của cổ đông thiểu số.
Quyết đònh của đại hội đồng cổ đông được chia thành hai loại. Đối với các vấn
đề thông thường, (ngoài các vấn đề quan trọng), thì quyết đònh được thông
qua, nếu được sự chấp thuận của số cổ đông đại diện ít nhất 65% tổng số
phiếu biểu quyết tham dự họp; nếu Điều lệ công ty không quy đònh một tỷ lệ
khác cao hơn. Đối với các vấn đề quan trọng, thì quyết đònh của ĐHĐCĐ được
thông qua, khi có được sự đồng ý của số cổ đông đại diện cho ít nhất 75% tổng
số phiếu biểu quyết dự họp; trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy đònh khác
(điểm b, khoản 3 Điều 104, Luật Doanh nghiệp). Như vậy, trong trường hợp
này Điều lệ công ty có thể quy đònh một tỷ lệ cụ thể cao hơn hoặc thấp hơn
75%, nhưng không được thấp hơn 65% hoặc tỷ lệ khác cao hơn 65% do Điều
lệ quy đònh, là tỷ lệ cần thiết để thông qua các quyết đònh thông thường.