ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ BÍCH
SỰ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH QUẢN TRỊ
CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI THỊ BÍCH
SỰ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH QUẢN TRỊ
CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa khọc: PGS. TS Ngô Huy Cương
XÁC NHẬN CỦA CTHĐ
XÁC NHẬN CỦA GVHD
đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Bùi Thị Bích
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
1. Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài ............................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ...................................................................... 2
3. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ............................. 3
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài Luận văn ................................................ 4
5. Bố cục của Luận văn ................................................................................ 4
Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ CÁC MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ
PHẦN ................................................................................................................ 5
1.1. Khái luận về các mô hình quản trị công ty cổ phần ............................... 5
1.1.1. Khái niệm, bản chất và đặc điểm của công ty cổ phần ................... 5
1.1.2. Khái niệm và vai trò của quản trị công ty công ty cổ phần ............ 7
1.1.3. Phân loại các mô hình quản trị công ty cổ phần trên thế giới ....... 10
1.2. Định hình các giai đoạn lịch sử phát triển mô hình quản trị công ty cổ
phần ở Việt Nam ......................................................................................... 13
1.2.1. Khái quát chung về lịch sử phát triển công ty cổ phần và mô hình
quản trị công ty cổ phần .......................................................................... 13
1.2.2. Phân chia các giai đoạn lịch sử phát triển mô hình quản trị công ty
cổ phần ở Việt Nam ................................................................................ 19
Chương 2: NỘI DUNG CỦA SỰ PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH QUẢN TRỊ
CHXHCN
2
CTCP
Công ty cổ phần
3
HĐQT
Hội đồng quản trị
4
DNTN
Doanh nghiệp tư nhân
5
CTTNHH
Công ty trách nhiệm hữu hạn
6
ĐHĐCĐ
minh”, việc hoàn thiện pháp luật về quản trị công ty cổ phần có một ý nghĩa
quan trọng làm cho công ty cổ phần trở thành một công cụ đắc lực cho việc
1
phát triển kinh tế - xã hội. Phân tích, tổng kết và đúc rút kinh nghiệm lịch sử
là việc làm không thể thiếu để góp phần cho việc hoàn thiện này.
Vì các lẽ kể trên, tôi xin lựa chọn đề tài “Sự phát triển mô hình quản
trị công ty cổ phần ở Việt Nam” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ luật học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định quản trị công ty cổ phần nói chung và sự phát triển hay lịch
sử của mô hình quản trị công ty cổ phần nói riêng là nội dung quan trọng của
pháp luật thương mại, được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau
quan tâm nghiên cứu. Ở những phạm vi và mức độ khác nhau đã có những
công trình đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề lịch sử của chế
định mô hình quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam. Có thể kể đến một số công
trình tiêu biểu sau:
* “Giáo trình luật thương mại - phần chung và thương nhân” của PGS.
TS. Ngô Huy Cương được xuất bản tại Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2013. Tại đây tác giả đã đề cập tới mô hình quản trị khác nhau của công ty cổ
phần và đôi nét về sự phát triển chế định quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam.
* “Chuyên khảo luật kinh tế” của PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa được xuất
bản tại Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004. Trong cuốn chuyên khảo
tác giả Phạm Duy Nghĩa có giới thiệu những nét lớn của lịch sử phát triển
công ty cổ phần nói chung và mô hình quản trị công ty cổ phần nói riêng ở
Việt Nam.
* “Giáo trình luật kinh tế Việt Nam” do PGS. TS. Nguyễn Như Phát
làm chủ biên được xuất bản tại Nxb. Tư pháp, Hà nội, năm 2013 có đề cập sơ
Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề pháp lý, không đi sâu nghiên
cứu các vấn đề kinh tế, xã hội liên quan tới từng mô hình quản trị công ty cổ
phần.
3
3.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Luận văn
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học và giới hạn về thời
gian, Luận văn chỉ nghiên cứu những vấn đề liên quan trực tiếp tới mô hình
quản trị công ty cổ phần chủ yếu qua các văn bản pháp luật thực định và các
tài liệu luận giải chúng. Luận văn không phân tích sâu các ưu khuyết của các
văn bản này thông qua thực tiễn áp dụng hay điều tra xã hội học và phỏng vấn
chuyên gia.
Luận văn không đi sâu nghiên cứu các cách thức và con đường du nhập
mô hình quản trị công ty cổ phần của các nước trên thế giới vào Việt Nam.
Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu văn bản qui phạm pháp luật thể
hiện sự tổng kết phát triển mô hình quản trị công ty cổ phần của giai đoạn đó.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài Luận văn
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã
hội, như: phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp phân tích, phương
pháp lịch sử… Các phương pháp nghiên cứu đặc thù của khoa học pháp lý
được Luận văn sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật,
phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp mô hình hóa các quan hệ xã
hội… Mỗi phương pháp như vậy được tác giả vận dụng phù hợp với từng nội
dung cụ thể trong Luận văn.
5. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn được cấu trúc bao gồm ba chương:
Chương 1: Khái luận về các mô hình quản trị công ty cổ phần.
mong muốn dễ dàng chuyển nhượng được phần góp vốn của mình. Công ty
cổ phần là loại hình công ty đáp ứng được nhiều nhất các đòi hỏi này, khác
với các loại hình công ty truyền thống của thương nhân như công ty hợp danh
và công ty hợp vốn đơn giản.
5
PGS. TS Ngô Huy Cương cho rằng: Khó có thể đưa ra một định nghĩa
hoàn hảo về công ty cổ phần mà có thể làm thoả mãn mọi người, vì vậy cách
thức tốt nhất để nắm được khái niệm về công ty cổ phần là nêu và phân tích
các đặc điểm của nó [3, tr. 218]. Ông quan niệm công ty cổ phần có bốn đặc
điểm là: (1) công ty cổ phần là loại công ty đối vốn, thuộc chế độ trách nhiệm
hữu hạn; (2) công ty cổ phần có cơ cấu tổ chức quản trị chặt chẽ mà trong đó
mỗi cơ quan đều có quyền hạn riêng; (3) công ty cổ phần được phép phát
hành chứng khoán; và (4) các thành viên hay những người quản trị công ty
đều không có tư cách thương nhân và bản thân công ty mới là thương nhân [3,
tr. 218 - 129]. Trên thế giới, việc nhận thức về công ty cổ phần khá đồng nhất.
Tuy nhiên khi giới thiệu các đặc điểm chủ yếu của công ty cổ phần thì đôi khi
chúng ta thấy có đôi điểm khác biệt bởi chúng được khái quát không giống
nhau. Chẳng hạn Robert Charles Clark cũng quan niệm công ty cổ phần có
bốn đặc điểm cơ bản nhưng không hoàn toàn trùng với bốn đặc điểm nêu trên.
Các đặc điểm đó bao gồm: Tính trách nhiệm hữu hạn của cổ đông; phần góp
vốn vào công ty có thể dễ dàng chuyển nhượng; công ty có tư cách pháp nhân
độc lập (tách khỏi những người đã thành lập nó, liên tục tồn tại, có mục đích
riêng…); và công ty được quản lý tập trung [11, tr. 23].
Các đặc điểm của công ty cổ phần, dù được diễn giải như thế nào, bao
giờ cũng có đặc điểm liên quan tới quản trị công ty. Vì vậy có thể coi quản trị
công ty cổ phần có vai trò quan trọng và là một đặc trưng để phân biệt giữa
công ty cổ phần và các hình thức công ty khác. Do số lượng của cổ đông của
của các cổ đông.
1.1.2. Khái niệm và vai trò của quản trị công ty công ty cổ phần
Quản trị công ty cổ phần có vai trò rất quan trọng bởi một số lý do
xuất phát từ sự khác biệt về hình thức công ty này so với các hình thức công
ty khác như công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh. Các lý do đó
bao gồm:
7
Thứ nhất, trong công ty cổ phần có sự tách bạch giữa chức năng của
chủ sở hữu và chức năng của quản trị công ty. Các cổ đông trong công ty cổ
phần thường không trực tiếp điều hành các hoạt động kinh doanh thường nhật
của công ty. Do đó có thể dẫn tới tình huống có vấn đề là người quản trị điều
hành công ty trái với những lợi ích của chủ sở hữu công ty. Người điều hành
có thể theo đuổi các lợi ích riêng của mình, có thể tiến hành các giao dịch gây
thiệt hai cho công ty.
Thứ hai, giữa các chủ sở hữu của công ty và người quản trị công ty có
sự bất cân xứng về thông tin. Rõ ràng các cổ đông (chủ sở hữu công ty)
không có được những thông tin trực tiếp, chính xác như những người tham
gia vào quản trị công ty bởi họ là những người làm việc trực tiếp hàng ngày
liên quan tới hoạt động kinh doanh của công ty. Sự bất cân đối về thông tin
này có thể dẫn tới sự lạm quyền của người quản trị và dẫn tới các thiệt hại
của các cổ đông.
Thứ ba, những ngành nghề kinh doanh hiện đại và việc mở rộng qui mô
kinh doanh, cũng như nhu cầu gọi vốn lớn đòi hỏi sự chuyên môn hóa sâu sắc
và tính công khai, minh bạch trong quản trị công ty cổ phần.
Quản trị công ty cổ phần tốt sẽ đảm bảo được lợi ích cho các cổ đông
và tất cả những người liên quan, đồng thời tạo ra môi trường kinh doanh lành
mạnh. Quản trị công ty cổ phần tốt có thể làm tăng hiệu quả vốn đầu tư, làm
hành và kiểm soát công ty theo đuổi những mục tiêu nhất định, mà trong đó
phân định rõ chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của các thiết chế như đại hội
đồng cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc điều hành, ban kiểm soát và các
bên có quyền và lợi ích liên quan.
Có quan niệm khá gần gũi với đề tài Luận văn này cho rằng quản trị
công ty cổ phần là việc tổ chức bộ máy điều hành nội bộ công ty theo mô hình
quản trị đơn lớp (one-tier) hoặc song lớp (two-tier) [12, tr. 106]. Tuy nhiên
quan niệm này chỉ thích hợp với những người nghiên cứu chuyên sâu về quản
9
trị công ty cổ phần, tức là người ta chỉ hiểu được định nghĩa khi đã có kiến
thức nhất định về các mô hình quản trị công ty.
1.1.3. Phân loại các mô hình quản trị công ty cổ phần trên thế giới
Hiện nay người ta thường nhắc tới hai cách thức phân loại mô hình
công ty cổ phần sau: (1) phân loại mô hình theo xuất xứ địa lý; và (2) phân
loại mô hình theo chủ thể và đối tượng quản trị.
Các mô hình được phân loại theo xuất xứ địa lý
Thứ nhất, mô hình Hoa Kỳ: Mô hình này xuất hiện trên nền tảng thị
trường vốn phát triển năng động, sở hữu công ty được chia tách nhỏ lẻ cho
nhiều cổ đông khác nhau. Vì cơ cấu sở hữu nhỏ lẻ điều hành công ty chịu sự
chi phối nhiều từ các cổ đông. Khi các cổ đông không đồng ý với hoạt động
điều hành, thì sẽ “bỏ phiếu bằng chân” (voting by feet). Điều đó có nghĩa là
họ bán rẻ cổ phần của mình đi, làm cho giá cổ phần giảm sút, đẩy công ty tới
bờ vực phá sản hoặc tạo ra cơ hội để một nhóm cổ đông có quyền lực thâu
tóm công ty thay thế, bầu ra ban điều hành mới để quyết định chiến lược,
chính sách có hiệu quả hơn. Mô hình quản trị này được gọi là mô hình quản
trị đơn lớp “one-tier”. Tại đây có broad of directors (tức là hội đồng quản trị)
nhưng không có ban kiểm soát như trong mô hình quản trị song lớp. Trong số
trong quản trị công ty. Người lao động có thể tham gia 1/3 ghế trong hội đồng
giám sát được áp dụng cho các công ty cổ phần có hơn 500 lao động hoặc 1/2
ghế trong hội đồng giám sát công ty được áp dụng cho ngành công nghiệp
than và thép, hoặc người lao động tham gia gần như bình đẳng được áp dụng
cho những công ty có nhiều hơn 2000 công nhân [10]. Hội đồng giám sát có
hai chức năng chủ yếu là chỉ định và bãi miễn các thành viên của hội đồng
quản lý; và giám sát hoạt động quản lý.
Thứ tư, mô hình Pháp: Trong mô hình này nhà nước có vai trò quan
trọng đối với quản trị công ty. Chính sách hướng dẫn thương nhân đã gây ảnh
hưởng không nhỏ tới việc điều hành của các công ty cổ phần. Trong công ty
11
có thể có các công chức nhà nước làm việc cho công ty, rồi có thể quay trở
về làm công chức. Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc công ty cổ phần rất có thế
lực, có thể quyết định chiến lược của công ty hoặc thực hiện việc kiểm tra
các hoạt động của công ty mà không gặp phải sự phản đối nào từ bất kỳ ai
trong hội đồng quản trị bởi vị quan chức công ty này có thể chọn thành viên
hội đồng quản trị, ấn định chương trình nghị sự trong các phiên họp của hội
đồng đồng quản trị. Nửa sau thế kỷ XX, công ty cổ phần ở Pháp có thể lựa
chọn mô hình quản trị đơn lớp hoặc song lớp. Đa số các công ty cổ phần ở
Pháp theo mô hình đơn lớp. Trong mô hình này chỉ có hội đồng quản trị có ít
nhất ba người và nhiều nhất không quá 12 người. Trong số thành viên này
có thể có một đại diện của ban giám đốc và một đại diện của người lao động.
Tuy nhiên những thành viên này không phải là những thành viên chính thức.
Còn theo mô hình song lớp, công ty có một ủy ban chấp hành và một hội
đồng giám sát. Trong hội đồng giám sát có cổ đông công ty cùng những
chuyên gia tư vấn, đại diện các ngân hàng và đối tác kinh doanh. Có nhiều
thành viên của hội đồng này không bổ nhiệm theo điều lệ mà bổ nhiệm theo
cảnh cụ thể mà từng mô hình đã có những thành công nhất định. Tuy nhiên
mỗi mô hình đều có những nhược điểm. Do đó khi thiết lập qui chế quản trị
công ty cổ phần trong pháp luật, mỗi quốc gia đều cân nhắc giữa các mô hình
này thuận theo định hướng phát triển kinh tế, xã hội và hoàn cảnh cụ thể của
mỗi quốc gia.
1.2. Định hình các giai đoạn lịch sử phát triển mô hình quản trị
công ty cổ phần ở Việt Nam
1.2.1. Khái quát chung về lịch sử phát triển công ty cổ phần và mô
hình quản trị công ty cổ phần
Công ty cổ phần còn được gọi là công ty vô danh và xuất hiện lần đầu
tiên trong pháp luật Việt Nam tại Bộ luật Dân sự Bắc Kỳ 1931. Được gọi là
hội vô danh (công ty vô danh) theo Bộ luật này bởi không tên một thành viên
13
nào của hội được gắn vào tên hội như các hội đối nhân (công ty đối nhân)
theo truyền thống pháp luật về công ty của các nước trên thế giới, và vốn của
hội được chia thành các cổ phần. Người nắm giữ cổ phần được gọi là các cổ
đông. Mỗi một cổ phần mang lại cho cổ đông một quyền lợi trong hội [3, tr.
217 – 218]. Trước đó, trên thế giới, công ty cổ phần đã manh nha từ thời La
Mã cổ đại. Theo PGS. TS Ngô Huy Cương, các thực thể như sodalitas,
universitas, collegium, societas... từ thời cộng hòa La Mã cho tới khái niệm
persona ficta theo Luật Giáo hội ở thế kỷ XIII đã góp phần tạo lập nên một
thực thể hiện đại mà với nó có ba vấn đề pháp lý lớn phát sinh. Đó là: (1) Có
sự chia tách giữa thực thể nhân tạo này với các tự nhiên nhân cấu thành nên
nó; (2) giới hạn tố quyền chống lại tự nhiên nhân đối với tài sản của họ; và (3)
đặt cơ sở cho tố quyền chống lại thực thể nhân tạo đối với tài sản riêng của
bản thân nó [3, tr. 217]. Đặc biệt tới thời kỳ đầu của nền kinh tế công nghiệp,
công ty cổ phần phát triển nhanh chóng thành một hình thức công ty phổ biến
thế giới có nhu cầu tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng
bởi nền kinh tế đã phát triển khá mạnh trong mọi lĩnh vực. Vì vậy công ty cổ
phần là một trong những công cụ quan trọng đáp ứng các nhu cầu đó. Có ý
kiến rằng “Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích luỹ làm cho số tư bản riêng
lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ
đến ngày nay thế giới vẫn chưa có đường sắt” [5, tr.199].
Ở Mỹ công ty cổ phần nói riêng và công ty đối vốn nói chung được
gọi là corporation trong sự phân biệt rạch ròi đối với hình thức parnership
(là một hình thức kinh doanh không có tên chung với corporation). Ở đây,
vào năm 1989, số lượng các công ty cổ phần chiếm khoảng 31,7% trong
tổng số các doanh nghiệp công nghiệp và chiếm khoảng 92,6% giá trị tổng
sản phẩm công nghiệp. Ngày nay, công ty cổ phần đã chiếm vị trí thống lĩnh
trong các ngành công nghiệp, dịch vụ công cộng và trong các ngành khác
nhau của nền kinh tế Mỹ.
15
Công ty cổ phần rất được ưa chuộng ở Đức, nhưng ít được ưa chuộng
hơn ở Pháp. Ở Đức trung bình công ty cổ phần có mức vốn lớn hơn mức vốn
của công ty trách nhiệm hữu hạn tới 50 lần và thống trị hầu hết các ngành
công nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu như đã được nói tới ở trên, nền kinh tế cần có sự
liên kết hùn vốn lớn, đồng thời về mặt chủ quan, các nhà đầu tư muốn chia sẻ
những gánh nặng rủi ro trong kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận cao hơn đã
dẫn đến sự ra đời của công ty cổ phần và dẫn tới thiết lập các qui chế quản trị
theo những mô hình khác nhau nhằm tới làm công ty cổ phần ngày càng phát
triển để đóng góp nhiều hơn nữa cho xã hội. Vì vậy sự ra đời và phát triển của
công ty cổ phần đòi hỏi cần phải có pháp luật điều chỉnh.
Ở Anh, Luật về công ty được ban hành năm 1844. Theo luật này các
vô danh). Tiếp theo đó năm 1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật
Thương mại Trung Kỳ. Sự ra đời của bộ luật này cho thấy tư tưởng và mô
hình các công ty thương mại của Pháp đã gây ảnh hưởng rất lớn tới Việt Nam.
Đi theo thuyết nhị nguyên trong việc pháp điển hóa luật thương mại. Sau này,
trước khi giải phóng miền Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành
Bộ luật Thương mại 1972 mà trong đó CTCP được gọi là hội nặc danh. Bộ
luật này đã kế thừa và phát triển các qui định tại các bộ luật cũ của Việt Nam.
Vì vậy các qui tắc về quản trị công ty cổ phần được qui định khá chi tiết.
Ở miền Bắc, sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nước và tới mãi
đầu những năm đổi mới xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tầng lớp
thương nhân nói chung và các hình thức công ty, cũng như luật thương mại
nói riêng không có cơ sở kinh tế - xã hội để tồn tại. Do đó hình thức công ty
cổ phần cũng bị xóa bỏ. Trong nền kinh tế lúc bấy giờ chỉ có xí nghiệp công
nghiệp quốc doanh và hợp tác xã. Tuy nhiên để giao lưu đầu tư nước ngoài,
mặc dù Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước CHXHCN Việt Nam (ban
17
hành kèm theo Nghị định 115/CP của Chính phủ ngày 18/4/1977) có đề cập
đến hình thức công ty cổ phần và có quy định “xí nghiệp hoặc công ty hỗn
hợp” có thể thành lập theo hình thức “công ty vô danh” (một tên gọi khác của
công ty cổ phần) nhưng lại không có văn bản pháp luật nào quy định về tổ
chức và hoạt động của hình thức công ty này. Thực tế ở giai đoạn này, không
có công ty hỗn hợp nào được thành lập theo hình thức công ty cổ phần theo
điều lệ đó.
Ngày 21/12/1990 đã đánh một dấu mốc quan trọng, hình thức công ty
cổ phần được qui định cụ thể tại Luật Công ty 1990. Để thi hành luật này
nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã được ban hành ở các lĩnh vực khác
nhau vì quan niệm về bộ chủ quản vẫn chưa bị xóa bỏ. Vì vậy hoạt động của