I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN TH PHNG LAN
NGUYÊN TắC MINH BạCH
TRONG PHáP LUậT Về QUảN TRị CÔNG TY Cổ PHầN
ở VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN TH PHNG LAN
NGUYÊN TắC MINH BạCH
TRONG PHáP LUậT Về QUảN TRị CÔNG TY Cổ PHầN
ở VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. PHAN TH THANH THY
H NI - 2017
Nguyên tắc minh bạch trong quản trị công ty cổ phần ................ 16
1.2.1. Khái niệm minh bạch trong quản trị công ty ..................................... 16
1.2.2. Các nội dung và tiêu chí đánh giá tính minh bạch trong quản trị
công ty cổ phần .................................................................................. 18
1.3.
Tầm quan trọng và trách nhiệm thực thi nguyên tắc minh
bạch trong quản trị công ty cổ phần .............................................. 19
1.3.1. Vai trò của minh bạch trong quản trị công ty .................................... 19
1.3.2. Tầm quan trọng của nguyên tắc minh bạch trong quản trị công ty
cổ phần ............................................................................................... 20
1.4.
Trách nhiệm thực thi tính minh bạch trong công ty cổ phần ...... 21
1.4.1. Đại hội đồng cổ đông ......................................................................... 22
1.4.2. Hội đồng quản trị................................................................................ 22
1.4.3. Ban giám đốc ...................................................................................... 23
1.4.4. Cơ quan giám sát nội bộ ..................................................................... 23
1.4.5. Thư ký công ty ................................................................................... 25
1.5.
Kinh nghiệm về thực thi tính minh bạch trong quản trị công
ty cổ phần tại một số quốc gia trên thế giới ................................... 26
1.5.1. Hoa Kỳ ............................................................................................... 27
1.5.2. Đức ..................................................................................................... 28
1.5.3. Trung Quốc......................................................................................... 31
Tiểu kết Chƣơng 1 ......................................................................................... 34
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ
TRÁCH NHIỆM THỰC THI NGUYÊN TẮC MINH BẠCH
TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM........ 35
2.1.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BKS:
Ban kiểm soát
CTCP:
Công ty cổ phần
ĐHĐCĐ:
Đại hội đồng cổ đông
GĐ/TGĐ:
Giám đốc/Tổng giám đốc
IFC:
Tổ chức tài chính Quốc tế
LDN 2014:
Luật Doanh nghiệp 2014
OECD:
Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
công ty; các thông tin về định hướng kinh doanh của công ty, về cấu trúc sở
hữu công ty, sự biến động về vốn như cổ phần đa số và quyền biểu quyết,
chính sách thù lao cho thành viên Hội đồng quản trị và người quản lý công ty;
Các giao dịch với các bên liên quan còn là những vấn đề cổ đông khó nắm bắt
hoặc không quan tâm thực trạng hiện nay, quyền tiếp cận thông tin của các cổ
đông cũng chưa được thực thi đầy đủ do người quản lý công ty hoặc các cổ
đông lớn tìm mọi cách che giấu thông tin hoặc do đối xử không công bằng
giữa các cổ đông lớn, nhỏ. Chính sự không minh bạch đó đã làm ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền lợi của các cổ đông trong việc đầu tư và tham gia quản lý
công ty và hiệu quả kinh doanh của công ty một loạt các vụ đại án xảy ra
1
trong thời gian gần đây đều liên quan đến các hành vi tham nhũng, cố ý làm
trái của người quản lý điều hành và người thực thi chức năng giám sát nội bộ
của các công ty cổ phần đại chúng đều bộc lộ rằng việc thực thi nguyên tắc
minh bạch đang bị vi phạm nghiêm trọng ở Việt Nam.
Thực tiễn nêu trên cho thấy, cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật nguyên
tắc minh bạch trong pháp luật về quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam. Đồng
thời tham khảo, so sánh thực tiễn pháp luật nước ngoài, để có những cơ chế
phù hợp để các cổ đông tiếp cận được thông tin một cách đầy đủ nhất mang
lại lợi ích cho các cổ đông.
Chính vì các lý do trên đây, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Nguyên
tắc minh bạch trong pháp luật về quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam” làm
đề tài luận văn thạc sỹ với mong muốn làm sáng tỏ trên hai khía cạnh về lý
luận và thực tiễn của nguyên tắc này trong quản trị công ty cổ phần theo
pháp luật Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về quản trị công ty nói chung, các nguyên tắc quản trị CTCP
Sách cũng giới thiệu và đánh giá nội dung các quy tắc quản trị công ty
được công bố lần đầu tại Anh quốc (lần đầu năm 1992 các đề xuất về thông lệ
quản trị công ty đã được công bố) đến nay các quy tắc QTCT đã có vai trò
ảnh hưởng đến sự phát triển các quy tắc QTCT tại nhiều nước trên thế giới.
Bài nghiên cứu: Một số so sánh về công ty cổ phần theo Luật công ty
Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam, của Nguyễn Thị Lan Hương, Tạp
chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội – số 5/2009. Tác giả xem xét nghiên
cứu pháp luật Nhật Bản trong giai đoạn 2009 (chưa có bộ quy tắc quản trị
công ty) và phân tích, nêu quan điểm: Có những quy định giống nhau giữa
Việt Nam và Nhật Bản: về quyền của cổ đông nhận cổ tức, quyền biểu quyết,
chuyển nhượng cổ phần, tiếp cận thông tin; quy định về tổ chức nội bộ công
3
ty gồm HĐQT, ĐHĐCĐ, BKS. Bảo vệ cổ đông và xây dựng mô hình quản trị
nội bộ phù hợp là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng được pháp luật công ty
của hai nước điều chỉnh. Để nâng cao hiệu quả hoạt động, tránh vai trò có tính
hình thức của HĐQT, BKS, Nhật Bản đã thiết lập mô hình quản trị nội bộ các
ủy ban thuộc HĐQT, trong đó có ủy ban giám sát, thường xuyên hoạt động
nhằm thay thế BKS của mô hình tổ chức cũ.
Bài nghiên cứu: “Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt
Nam” của tác giả Quách Thúy Quỳnh – Tạp chí Luật học Đại học Luật Hà
Nội, số 4/2010. Tác giả trình bày 02 nội dung chủ yếu: Thứ nhất, bảo vệ
quyền lợi của cổ đông thiểu số - vấn đề của quản trị công ty trong các nền
kinh tế chuyển đổi. Thứ hai, quyền cổ đông là phương tiện bảo vệ cổ đông
thiểu số. Tác giả giới thiệu, tại các nước Mỹ, Anh mối quan tâm hàng đầu
của các quy chế quản trị công ty là giải quyết xung đột giữa một bên là
những nhà quản lý chuyên nghiệp và bên kia là các cổ đông của công ty.
Tác giả cho rằng mối quan tâm hàng đầu của quản trị công ty trong bối
kiểm soát. Điều này là hợp lý, bởi ban kiểm soát không điều hành quản lý
doanh nghiệp, mà đóng vai trò giám sát hoạt động của hội đồng quản trị và
ban giám đốc. Ban kiểm soát cần phải được độc lập hoạt động, tránh tình
trạng ban kiểm soát hoạt động vì lợi ích của hội đồng quản trị và ban giám
đốc. Các khoản thù lao của ban kiểm soát phải do đại hội đồng cổ đông quyết
định. Các khoản thù lao này không bị ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị cũng
như ban giám đốc. Điều này sẽ góp phần làm tăng thêm sự độc lập trong hoạt
động của ban kiểm soát, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này.
Ngoài ra, cần hoàn thiện pháp luật về công khai, minh bạch hóa thông
tin trong quản trị công ty cổ phần để tránh những hành vi gian lận, thao túng
công ty và các hành vi gây ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của cổ đông.
Luận văn Thạc sĩ luật học “So sánh pháp luật quản trị công ty cổ phần
của Việt Nam và Ả Rập Xê Út” đã bảo vệ tại Khoa Luật Đại học quốc gia Hà
Nội, (năm 2014) của Vũ Thành Công, nội dung nghiên cứu phân tích thực
5
trạng pháp luật, so sánh làm rõ sự tương đồng và khác biệt của pháp luật quản
trị công ty giữa Việt Nam và Ả Rập Xê Út (ARXU); đưa ra các khuyến nghị,
bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện các quy định về quản trị công ty ở Việt
Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu so sánh là quy định về quản trị công
ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2005 và Luật công ty năm 1965 của
ARXU và các quy tắc, chuẩn mực về quản trị công ty. Các vấn đề pháp luật
được tác giả tập trung nghiên cứu so sánh gồm: cổ đông và đại hội đồng cổ
đông; thành viên HĐQT và trách nhiệm, nghĩa vụ của HĐQT; Ban giám đốc
và quyền hạn trách nhiệm điều hành công ty; công bố thông tin minh bạch và
vấn đề kiểm soát các giao dịch với các bên có liên quan.
Luận Văn Thạc sĩ, so sánh pháp luật về quản trị công ty cổ phần ở
Việt Nam và Nhật Bản của Võ Ngọc Giao, Khoa luật - Đại học Quốc gia
Mục đích chung: Luận văn hướng tới mục đích nhằm làm sáng tỏ
những vấn đề về lý thuyết và thực tiễn thực thi tính minh bạch trong quản trị
công ty cổ phần ở Việt Nam.
Mục đích cụ thể là:
- Phân tích và làm rõ bản chất pháp lý, nội dung và tầm quan trọng của
nguyên tắc minh bạch trong quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam.
- Làm rõ các khía cạnh và nội dung của nguyên tắc minh bạch được thể
hiện trong các quy định của pháp luật về quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam.
- Phân tích và làm rõ các quy định pháp luật về minh bạch và việc thực
thi minh bạch trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam.
- Đánh giá và rút ra các nhận định về các ưu điểm hạn chế của quy định
pháp luật về nguyên tắc minh bạch và thực tiễn thực thi nguyên tắc này và rút
ra các hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các kiến nghị và giải pháp bổ sung sửa đổi pháp luật để nâng
cao hiệu quả thực thi nguyên tắc minh bạch.
7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về
nguyên tắc minh bạch trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam, tập trung vào
Luật Doanh nghiệp 2014 và các quy định có liên quan đến quản trị công ty cổ
phần nói chung và công ty cổ phần đại chúng trong trường hợp cần thiết. Do
việc thực thi nguyên tắc minh bạch trong quản trị công ty cổ phần là một đề
tài rất rộng liên quan đến rất nhiều đối tượng nghiên cứu, không chỉ trong
quản trị nội bộ công ty mà cả quản trị các mối quan hệ mà công ty thiết lập
với những người có liên quan, trong phạm vi của đề tài, luận văn chỉ tập trung
vào nghiên cứu về tính minh bạch và các đòi hỏi về thực thi tính minh bạch
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC MINH BẠCH
TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát về quản trị công ty và các nguyên tắc quản trị công ty
1.1.1. Khái niệm quản trị công ty
Có nhiều định nghĩa, giải thích về quản trị công ty, song định nghĩa được
coi là phổ biến nhất được Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (Organisation
for Economic Co-operation and Development - OECD) đưa ra, đó là:
Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và
kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc,
Hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có
quyền lợi liên quan [36]; [12].
OECD cũng chỉ ra mục tiêu của quản trị công ty là:
Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục
tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những
mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty.
Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được
Ban giám đốc và Hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi
ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện
thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu
quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách
tốt hơn [36]; [12].
Dựa theo định nghĩa trên, Tổ chức tài chính Quốc tế (IFC) thuộc Ngân
hàng Thế giới (World Bank -WB) đã chỉ ra các nội dung chính của quản trị
công ty là:
10
Quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi
Chủ tịch và các thành viên HĐQT, GĐ/ TGĐ phải thực hiện (Điều 166), trách
nhiệm công khai các lợi ích có liên quan của những người quản lý này (Điều
159) mà chưa có quy định cụ thể về các chế tài mà Chủ tịch và các thành viên
HĐQT, GĐ/ TGĐ phải gánh chịu trong trường hợp họ không thực hiện, thực
hiện không đúng các nghĩa vụ nói trên. Do đó các quy định về yêu cầu minh
bạch dường như không có sức nặng, tùy thuộc vào độ tự giác, nề nếp quản trị
của công ty. Chẳng hạn, Khoản 8 Điều 160 quy định trường hợp BKS phát
hiện ra sai phạm của người quản lý công ty, phải thông báo ngay bằng văn
58
bản với HĐQT, yêu cầu người đó chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp
khắc phục hậu quả, nhưng lại không quy định các chế tài áp dụng là gì nếu
HĐQT không có biện pháp xử lý.
- Các văn bản dưới luật chỉ tập trung vào xử lý các hành vi che dấu
thông tin của DNNN và công ty CP đại chúng. Căn cứ vào Nghị định số
81/2015/NĐ-CP ngày 18/9/2015 của Chính phủ quy định về công bố thông
tin của doanh nghiệp, tại Điều 4 của Nghị định quy định về yêu cầu thực hiện
công bố thông tin. Việc công bố thông tin của các doanh nghiệp nhà nước
nhằm bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch về hoạt động của doanh nghiệp,
bảo đảm tính hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động quản lý và giám sát của cơ
quan nhà nước và của xã hội đối với doanh nghiệp nhà nước; Việc công bố
thông tin phải đầy đủ, chính xác và kịp thời theo quy định của pháp luật. Việc
công bố thông tin do người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc
người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện. Doanh nghiệp, trực tiếp là
người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền, chịu trách nhiệm về
tính đầy đủ, kịp thời, trung thực và chính xác của thông tin được công bố.
- Điểm C, khoản 1 Điều 164 quy định kiểm soát viên “Không được giữ
các chức vụ quản lý công ty” là không phù hợp với thực tiễn quản trị công ty,
cho HĐQT. Hậu quả tất yếu là HĐQT sẽ tìm cách để hạn chế quyền lực của
BKS và của thành viên độc lập để HĐQT được “rộng đường”, hạn chế việc
giám sát nội bộ; thậm chí BKS còn hoạt động như cánh tay nối dài của của
HĐQT, hoàn toàn mất tính độc lập, khách quan và không thực hiện chức
năng giám sát như luật định.
Do quan niệm đơn giản về chức năng của cơ quan giám sát nội bộ, các
thành viên BKS, thành viên độc lập HĐQT thường được bầu từ người lao
60
động của công ty, do đó HĐQT và GĐ/ TGĐ dễ dàng gây ảnh hưởng, khống
chế, dẫn đến chức năng giám sát nội bộ chỉ mang tính hình thức. Vai trò hạn
chế, thậm chí vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc minh bạch của của BKS trong
các đại án ngân hàng cho thấy tính hình thức và sự bất lực của cơ quan này
trong thực tiễn quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam.
Thêm nữa, nhiều trường hợp kiểm soát viên, thành viên độc lập HĐQT
không đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ nên thường không có khả năng đánh
giá thông tin tài chính, kinh doanh độc lập mà thượng lấy báo cáo của HĐQT
làm báo cáo của mình. Điều này làm triệt tiêu chức năng giám sát nội bộ.
Các quy định pháp luật về tính minh bạch quyền của cổ đông công ty
cổ phần chưa được một cách đầy đủ và nghiêm túc. Nhiều công ty cổ phần
tiến hành đại hội đồng cổ đông ở những nơi xa xôi, điều kiện đi lại khó khăn,
thủ tục ủy quyền phức tạp nhằm hạn chế sự tham gia của các cổ đông, đặc
biệt là cổ đông thiểu số. Hiện nay chưa có Nghị định hướng dẫn thi hành Luật
Doanh nghiệp 2014 về việc bỏ phiếu từ xa đối với các cổ đông. Căn cứ điều
136, LDN 2014 ĐHĐCĐ họp thường niên mỗi năm một lần. Địa điểm họp
ĐHĐCĐ phải trên lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp cuộc họp ĐHĐCĐ được tổ
chức đồng thời địa điểm khác nhau thì địa điểm họp ĐHĐCĐ được xác định
là nơi chủ tọa tham dự. Và trong LDN 2014 thì không quy định rõ việc được
quản trị công ty của OECD bằng cách đưa các quy định có tính bắt buộc về
việc giám sát hoạt động quản trị nội bộ của công ty cổ phần vào trong pháp
luật về tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần từ Luật Công ty đầu tiên ban
hành năm 1990 cho tới nay. Mặc dù Luật Doanh nghiệp 2014 đã thể hiện một
cách khá toàn diện các nội dung của cơ chế công khai thông tin và giám sát
nội bộ, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế là thiếu các quy định cụ thể về các
điều kiện để thực thi nguyên tắc minh bạch. Thêm vào đó, nhận thức về tầm
quan trọng của nguyên tắ minh bạch của các cổ đông và những người có liên
quan trong công ty còn chưa cao, do đó hoạt động của cơ quan giám sát nội
bộ khá hạn chế, thậm chí không thực hiện, thự hiện không đúng chức năng
nghiệm vụ được pháp luật và điều lệ công ty quy định. Lợi dụng những sơ hở
của luật pháp và sự hạn chế về nhận thức của các cổ đông và người có liên
quan, nhiều công ty cổ phần đại chúng đã cố tình thực hiện các hành vi vi
phạm pháp luật và điều lệ công ty để thực hiện các giao dịch mang tính tư lợi,
xâm phạm lợi ích của các cổ đông, người có quyền lợi liên quan và xâm phạm
trật tự quản lý kinh tế. Điều này cho thấy pháp luật về quản trị công ty cổ
phần ở Việt Nam đang cần được bổ sung sửa đổi để tạo ra cơ sở pháp lý hoàn
chỉnh cho việc thực thi nguyên tắc minh bạch cũng như tạo điều kiện để nâng
cao hiệu quả của việc thực thi nguyên tắc này.
63
Chƣơng 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC THI NGUYÊN TẮC MINH BẠCH TRONG QUẢN TRỊ CÔNG
TY CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện các quy định pháp luật về tăng cƣờng
tính minh bạch trong quản trị công ty cổ phần
Luật Doanh nghiệp và các luật có liên quan cần bổ sung thêm các quy
việc cung cấp thông tin và quy định rõ các hình thức kỷ luật.
b. Quy định các cơ chế đảm bảo cho Ban kiểm soát tiếp nhận các thông
tin về sai phạm của người quản lý điều hành từ các cổ đông và các quy định bảo
đảm cho các kiến nghị của Kiểm sát viên về xử lý sai phạm của người quản lý
điều hành có giá trị thi hành.
Hiện nay, một số công ty thành lập Ban kiểm soát. Tuy nhiên, Ban
kiểm soát chưa làm hết được chức năng nhiệm vụ của mình được quy định
trong Luật Doanh nghiệp 2014 và quy định tại điều lệ công ty. Việc tiếp
nhận thông tin của BKS còn hạn chế, đôi khi những thông tin sai phạm của
cơ quan quản lý được BKS phát hiện ra. Tuy nhiên, những sai phạm đó
không được giải quyết một cách triệt để. Chính vì thế, cần có những cơ chế
để BKS độc lập tiếp cận thông tin, xử lý, phát hiện ra những sai phạm của
cơ quan quản lý để có những biện pháp kịp thời xử lý. Tránh những rủi ro
không đáng có xảy ra.
c. Quy định về quy trình tuyển chọn bổ nhiệm các thành viên độc lập
Hội đồng quản trị, trách nhiệm giám sát việc bổ nhiệm các thành viên độc lập,
và quy trình theo dõi và đánh giá hiệu quả các hoạt động quản trị công ty của
các thành viên này.
65