Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở việt nam - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN QUANG HUY

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VỀ
QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội – 2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN QUANG HUY

HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ
VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính Ngân hàng
Mã số : 60 34 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG


20

Chương 2. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………..

24

2.1
2.1.1
2.1.2
2.2

24
24
24
26

1.1
1.1.1
1.1.2
1.2
1.2.1
1.2.2
1.2.3

Phương pháp thu thập thông tin..……………………………………
Dữ liệu nghiên cứu ……………………………………………………..
Phương pháp phân tích..………………………………………………..
Phương pháp chấm điểm ……………………………………………..

Chương 3. Đánh giá thực thi khung pháp lý về quản trị công ty đối với

29
29
32
32
39
49
49
51
52
53
54


3.4.4
3.4.5
3.5
3.5.1
3.5.2

công ty đại chúng chưa thực sự tuân thủ chế độ CBTT theo quy định ...
Quyền lợi cổ đông nhỏ chưa thực sự được quan tâm ………………….
Cổ đông nội bộ và người có liên quan còn ảnh hưởng đến tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ……………………………
Nguyên nhân của những hạn chế khi thực thi khung pháp lý về
quản trị công ty đại chúng ……………………………………………
Nguyên nhân khách quan ………………………………………………
Nguyên nhân chủ quan …………………………………………………

56
56

61
63
68
69
69
74
76

KẾT LUẬN ………………………………………………………………………

79

TÀI LIỆU THAM KHẢO ………………………………………………………

80

PHỤ LỤC

4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CTĐC

:

Công ty đại chúng

CTCP


:

Tổ chức thương mại thế giới

SGDCK

:

Sở Giao dịch chứng khoán

UBCKNN :

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

ĐHĐCĐ

:

Đại hội đồng cổ đông

HĐQT

:

Hội đồng quản trị



:


So sánh công ty đại chúng và công ty cổ phần

11

2

Bảng 2.1

Xác định trọng số cho các lĩnh vực quản trị công

26

ty
3

Bảng 3.1

Khung pháp lý về QTCT đối với công ty đại

31

chúng

DANH MỤC HÌNH
STT

Hình

Nội dung


trường vốn. Cùng với sự ra đời và phát triển của TTCK, vấn đề quản trị công ty
(QTCT) đối với công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam
đã cải thiện đáng kể so với những năm đầu nhưng nếu so với tình hình QTCT các
nước trong khu vực và trên thế giới chưa thực sự có bước tiến đáng kể.
Về khung pháp lý, có thể coi là thành công bước đầu trong QTCT ở Việt
Nam khi Luật Doanh nghiệp 2005 là một bước tiến lớn tạo ra thay đổi căn bản trong
quá trình hoàn thiện khung quản trị, cũng như quy định khá đầy đủ và cụ thể các nội
dung hay yếu tố cấu thành của khung quản trị. Ngoài ra, Thông tư 121/2012/TTBTC của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản trị công ty đối với công ty đại chúng
cũng đã tạo một hàng lang pháp lý đầy đủ cho các công ty đại chúng trên TTCK.
Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế khung pháp lý quản trị các công ty đại
chúng nói chung hiện nay ở nước ta phần nhiều còn nhiều vấn đề bất cập, chưa thật
sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông và hệ quả là sự phân hoá sâu
sắc các nhóm cổ đông trong công ty làm nguồn cho các cuộc thâu tóm, sáp nhập có
nguy cơ diễn ra trên diện rộng. Điều này do nhiều nguyên nhân mà một trong số
những nguyên nhân chính lại nằm trong khung quản trị của các công ty đại chúng
trong việc ngăn ngừa các xung đột lợi ích một cách hiệu quả.
Hàng loạt các bất cập liên quan đến cơ cấu tổ chức, đảm bảo quyền và lợi ích
của cổ đông, công khai hoá thông tin và các lợi ích có liên quan, các quy định về kế
toán và kiểm toán đã nảy sinh làm ảnh hưởng đến hoạt động của nhiều công ty; các
nhóm cổ đông bị phân hoá quyền và lợi ích rất sâu sắc; quyền của cổ đông thiểu số
bị lạm dụng... Điều này do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà một trong các nguyên
nhân chính là khung pháp lý về quản trị được ban hành và tuân thủ chưa đầy đủ làm
cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông và nhà đầu tư.

7


Năm 2014, Luật Doanh nghiệp mới (thay thế cho Luật Doanh nghiệp 2005)
đã được Quốc hội thông qua và sẽ có hiệu lực thi hành từ tháng 7.2015. So với Luật
Doanh nghiệp trước đây, các quy định mới tại luật này từng bước đã tiếp cận với

khung pháp lý về quản trị công ty đối với công ty đại chúng tại Việt Nam;
-

Kiến nghị hướng để hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đối với

công ty đại chúng tại Việt Nam theo tinh thần của Luật Doanh nghiệp 2014;
3.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

-

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Hệ thống pháp lý về quản trị công ty đối

với công ty cổ phần đại chúng trên TTCK Việt Nam hiện nay.
-

Phạm vi nghiên cứu:

8


 Về nội dung: Đề tài nghiên cứu thực quản trị công ty của 100 công ty đại
chúng niêm yết có vốn hóa thị trường lớn nhất trên thị trường chứng khoán Việt
Nam năm 2014.
 Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để
nhằm hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng tại Việt Nam.
-

Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến năm 2014.

Chương 4: Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng ở Việt
Nam.

6.

Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về quản trị công ty đại chúng theo

chuẩn mực và thông lệ quốc tế;
- Đánh giá hiện trạng khung pháp lý về quản trị công ty tại Việt nam và thực
trạng áp dụng quản trị công ty đối với các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK.
- Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp để hoàn thiện khung pháp lý về quản trị
công ty tại Việt Nam.

9


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1

Tổng quan nghiên cứu khung pháp lý về quản trị công ty đại chúng

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Việt Nam vẫn là một quốc gia ít được nghiên cứu trong các công trình về
quản trị công ty đại chúng.
Trong giai đoạn từ đầu những năm 2000 trở về trước, sự thiếu vắng các
nghiên cứu về Việt Nam là có thể hiểu được, bởi lẽ thời gian đó Việt Nam mới bắt
đầu tiến trình hội nhập quốc tế, chưa chịu ảnh hưởng mạnh từ những “sự kiện quản

diện nào về QTCT tại Việt Nam được công bố trên các tạp chí khoa học bằng tiếng
Anh.

1.1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về khung pháp lý về quản trị công ty đại
chúng ở cấp độ doanh nghiệp cũng đang trong giai đoạn phát triển. Nghiên cứu nổi
bật nhất phải kể đến Báo cáo thẻ điểm QTCT của Công ty tài chính Quốc tế (IFC)
được thực hiện hàng năm kể từ năm 2010; cho đến này đã có báo cáo 2010, 2011 và
2012. Dựa vào hệ thống 6 nguyên tắc QTCT mà OECD khuyến cáo, IFC đã tiến
hành đánh giá tình hình thực thi các nguyên tắc này ở 100 công ty niêm yết lớn nhất
trên hai sở giao dịch HSX và HNX. Kết quả ba năm đều cho thấy mức điểm QTCT
của các công ty đại chúng lớn nhất Việt Nam chưa vượt qua mức 50% (Tổ chức Tài
chính Quốc tế (IFC) 2011, 2012).
Nghiên cứu của tác giả Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn đăng trên
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 29, Số 1 (2013) 1-10 về
Vấn đề đại diện của các công ty đại chúng ở Việt Nam đã cho thấy sự suy giảm
trong kết quả áp dụng những nguyên tắc quản trị công ty hiệu quả, sự hạn chế hoạt
động giám sát thực thi của các cơ quan quản lý, Ủy ban chứng khoán Nhà nước và
Sở giao dịch chứng khoán đối với các công ty đại chúng. Qua đó, kết luận bản thân

11


các công ty đại chúng chưa làm tròn các trách nhiệm của mình trong việc xây dựng
môi trường đầu tư có chất lượng ở Việt Nam.
Trong năm 2011, một số thành viên nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá
chất lượng QTCT của các CTĐC niêm yết tại Sở giao dịch Hà Nội. Kết quả đánh
giá được đưa ra sau một khảo sát gồm hai bước cho thấy chất lượng QTCT của
doanh nghiệp HNX đang ở mức trung bình (25,73/51), đáp ứng ở mức tối thiểu yêu
cầu của các quy định QTCT hiện hành, tuy nhiên đã xuất hiện một số sự thực thi

nghiệp vẫn dựa vào mô hình doanh nghiệp gia đình, do một vài cá nhân hoặc gia
đình làm chủ, tự bỏ vốn, tự điều hành công việc kinh doanh. Qua thời gian công ty
cổ phần được coi là sản phẩm của một chuỗi quá trình đầu tư, nó đi từ nhu cầu, tâm
lí nhà đầu tư muốn mở rộng việc kinh doanh, hùm hạp làm ăn đến việc gọi vốn từ
các chủ thể khác mà không cần mối quan hệ thân hữu gắn bó như trước kia. Sự phát
triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô
ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt. Các chủ tư
bản đi đến thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn
nữa thế lực kinh tế của mình. CTCP là hình thức kinh doanh thoả mãn được những
nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản, như
nhận định của Các Mác “Qua các công ty cổ phần, sự tập trung đã thực hiện được
việc đó trong nháy mắt”
Dưới sự quản lý cơ quan hành chính. CTCP ra đời sau các loại hình công ty
đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn. Khác với sự ra
đời của hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn – là sản phẩm của các nhà lập pháp
xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành trong hoạt
động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp
luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý.
Kể từ sau Luật doanh nghiệp 1999, bên cạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà
nước cùng việc thay đổi cơ chế cấp phép sang cơ chế đăng ký kinh doanh và hậu
kiểm đã tạo ra làn sóng thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư tư nhân. Năm 2003,
với định hướng xây dựng pháp luật doanh nghiệp thống nhất cho các nhà đầu tư
thuộc các thành phần kinh tế, cùng mục tiêu nỗ lực tham gia Tổ chức thương mại

13


thế giới (WTO) thực hiện các cam kết quốc tế trong quá trình hội nhập Luật Doanh
nghiệp 2005 được thông qua tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa 9 (11/2005) đưa ra
những quy định đầy đủ chi tiết về loại hình CTCP (53 điều) và tiếp tục được ghi



vệ các cổ đông công chúng cũng như hoạt động lành mạnh của thị trường chứng
khoán. Tương tự như pháp luật Anh, Úc, theo pháp luật Mỹ công ty đại chúng có
tên gọi C Corporation nhằm phân biệt S Corporation là hình thứccông ty chỉ phát
hành loại cổ phần duy nhất, số cổ đông không vượt quá 100, cổ đông phải là cá
nhân và mang quốc tịch Mỹ.
Điểm chung từ thuật ngữ “công ty chứng khoán” trong pháp luật Anh, Mỹ và
Úc đều quy định trong Luật Công ty. Tuy nhiên, đối với những nước mà Luật Công
ty không đề cập thì Luật Chứng khoán đương nhiên quy định cụ thể:


Điều 110 Luật Chứng khoán Bugari quy định: “Công ty đại chúng là

công ty: đã phát hành cổ phần của công ty theo các điều kiện của việc phát hành ra
công chúng lần đầu, hoặc đã đăng ký với Ủy ban chứng khoán về việc phát hành
chứng khoán với mục đích tham gia giao dịch tại thị trường chứng khoán được quản
lý”.


Theo Luật Chứng khoán Ba Lan (Khoản 4 Điều 4): “Công ty đại

chúng là công ty có cổ phiếu của ít nhất một lần phát hành được chấp thuận cho
giao dịch nơi công chúng”.
Qua các quy định trên, người viết cho rằng, thuật ngữ “công ty đại chúng” là
thuật ngữ mang tính ước lệ, là tình trạng pháp lý mà doanh nghiệp chạm đến hay rơi
vào, sau khi tiến hành bước “chuyển mình về quy mô vốn và cách thức quản trị”,
ngoài ra, một công ty cũng có thể tổ chức với tình trạng công ty đại chúng ngay từ
khi mới thành lập. Mặt khác, pháp luật các nước đã mở đường “bước chuyển” này
chính những quy định loại hình công ty nội bộ được xem giai đoạn để tích lũy dọn

chứng khoán ra niêm yết.
Chính vì vậy pháp luật Việt Nam đã du nhập và tiếp nhận quy định pháp
luật tiến bộ của các nước đi trước, Luật Chứng khoán 2006 đã xây dựng một
chương riêng về công ty đại chúng. Theo điều 25 Luật Chứng khoán 2006 và Luật
sửa đổi bổ sung một số điều Luật chứng khoán 2010 quy định công ty đại chúng là
công ty cổ phần thuộc ba loại hình sau đây:


Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; đây là hoạt

động phát hành cổ phiếu ra công chúng và được thực hiện theo một trong ba
cách thức: Thông qua phương tiện thông tin đại chúng, kể cả Internet; Chào
bán chứng khoán cho từ một trăm nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu tư
chứng khoán chuyên nghiệp; Chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không
xác định.


Công ty có cổ phần được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán; tức

công ty đưa chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch
chứng khoán.

16




Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không

kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và vốn đều lệ đã góp từ mười tỷ

17


vốn điều lệ được các thành viên góp hoặc cam kết và không bắt buộc chia thành các
phần bằng nhau, phần góp vốn được biểu hiện Giấy chứng nhận góp vốn. Tuy nhiên
khác hoàn toàn cổ phiếu của cổ đông, Giấy chứng nhận này không được xem loại
giấy tờ và không được chuyển nhượng trên thị trường chứng khoán như cổ phiếu
của các cổ đông CTCP.


Về chủ sở hữu công ty và trách nhiệm hữu hạn của chủ sở hữu.

Chủ sở hữu CTCP là các cổ đông – người sở hữu ít nhất một cổ phần của
công ty. Số lượng cổ đông tối thiểu 3 và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông
công ty có thể là cá nhân không thuộc phạm vi điều 39 luật doanh nghiệp 2005. Đối
với tổ chức phải có tư cách chủ thể của pháp luật sở hữu mới có thể trở thành cổ
đông, vì cổ đông là đồng chủ sở hữu công ty. Như vậy, công ty trách nhiệm hữu
hạn, công ty hợp danh, hợp tác xã và công ty cổ phần đều có thể trở thành cổ đông
CTCP. Tuy nhiên, doanh nghiệp tư nhân không thể trở thành cổ đông công ty vì chủ
doanh nghiệp tư nhân sở hữu tài sản đầu tư vào doanh nghiệp tư nhân và tài sản có
được từ hoạt động kinh doanh, còn bản thân doanh nghiệp tư nhân không sở hữu tài
sản này.
Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của công ty trong phạm vi số vốn cổ phần đã góp vào công ty – tính chịu trách
nhiệm hữu hạn cổ đông theo người viết được lý giải bởi CTCP là một pháp nhân
độc lập chính cổ đông thể hiện: CTCP là một chủ thể kinh doanh có sự tách bạch
về tài sản, hoàn toàn độc lập tài sản cổ đông và có cơ cấu tổ chức độc lập được sự
thừa nhận pháp luật qua Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, CTCP phải tự
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của mình trong phạm vi
số tài sản quyền sở hữu tài sản công ty, là nguyên đơn, bị đơn trong các quan hệ tố

-

Cổ động công ty có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần, trừ hai ngoại

lệ. Khả năng tự do chuyển nhượng cổ phần giúp các nhà đầu tư dễ dàng tham gia
vào và rút vốn ra khỏi công ty bằng cách mua hay chuyển nhượng cổ phần, đồng
thời giúp công ty thu hút vốn đầu tư một cách thuận lợi so các loại hình doanh
nghiệp khác.
b. Là tổ chức kinh tế cơ chế quản lý tập trung cao
Với tư cách là một pháp nhân độc lập, trong công ty đại chúng có sự tách
biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản lý. Sự tách biệt triệt để này chính điểm khác
biệt giữa công ty đại chúng và công ty cổ phần theo luật doanh nghiệp 2005. Theo
đó, cơ cấu tổ chức nội bộ của công ty đại chúng theo quy định pháp luật như chủ
tịch hội đồng quản trị không được kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc điều hành,
trừ khi được phê chuẩn tại Đại hội đồng cổ đông thường niên hoặc công ty đại
chúng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khóan (Trung tâm giao dịch chức khoán)

19


bắt buộc quy định chức danh Thư ký công ty. Rõ ràng việc quy định pháp luật như
vậy nhằm tạo sự giám sát trong mối quan hệ nội bộ công ty cũng sự tạo sự kiểm
soát thuận tiện từ phía cơ quan Nhà nước. Để có thể phân biệt cụ thể hơn, mình
trích bản so sánh công ty đại chúng và công ty cổ phần, dưới đây:
Bảng 1.1: So sánh công ty đại chúng và công ty cổ phần tư nhân
TIÊU CHÍ

Đặc trưng

CÔNG TY ĐẠI CHÚNG

+Phát hành công khai

+ Phát hành nội bộ ( chỉ giới hạn trong

+Phát hành nội bộ phải được

các cổ đông sáng lập và những nhóm

UBCKNN phê chuẩn

người được xác định trước). Không

+Không hạn chế (trừ cổ phần ưu đãi

được phát hành cổ phiếu một cách công

biểu quyết. Không cần phải có sự

khai.

đồng ý của các cổ đông khác hoặc

+ Khả năng chuyển nhượng cổ phần là

của công ty

không hạn chế, ngoại trừ cổ phần ưu đãi
biểu quyết, cổ phần của các cổ đông
sáng lập và một vài hạn chế cụ thể khác
được thể hiện trong Điều lệ công ty

xem là ưu điểm và cũng là nhược điểm của loại hình này.
Ưu điểm là do tính đại chúng, công ty được đặt dưới sự kiểm soát của xã hội
thông qua việc công khai các thông tin về hoạt động kinh doanh, trách nhiệm Hội
đồng quản trị và Ban điều hành và người quản lý phải chăm lo cho sự phát triển
công ty. Từ ưu điểm này, cổ đông đặt ra vấn đề nghĩa vụ minh bạch thông tin và
bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty đại chúng (vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập
phần quản trị công ty). Ngược lại, do quá nhiều cổ đông cũng như số lượng cổ đông
thường xuyên thay đổi dẫn đến tình trạng khó quản lý cổ đông cũng như mất tính ổn
định trong quản trị công ty khi có sự thay đổi các cổ đông lớn.
d. Mối liên hệ chặt chẽ thị trường chứng khoán.

Công ty đại chúng là loại hình công ty được thiết kế phù hợp để huy động
vốn từ công chúng đầu tư thì thị trường chứng khoán chính là phương tiện để loại
hình công ty này thực hiện điều đó. Ngoài sự điều chỉnh Luật doanh nghiệp 2005,
công ty đại chúng còn chịu sự điều chỉnh của Luật chứng khoán 2006 và các văn
bản hướng dẫn thi hành, với tư cách luật chuyên nghành. Ngoài ra trong một số lĩnh
vực đặc biệt như ngân hàng, bảo hiểm… còn phải chịu sự điều chỉnh luật chuyên
nghành đó.
Tóm lại, hiểu nắm bắt thuật ngữ “công ty đại chúng” chính là tiền đề quan
trọng để chúng ta có thể thực thi quản trị công ty hiệu quả.
1.2.2 Khái quát quản trị công ty đối với công ty đại chúng
1.2.2.1Đặc điểm của QTCT tại các công ty đại chúng
Khái niệm về quản trị công ty
Thế nào là QTCT là một vấn đề được nhìn nhận từ nhiều phía. Từ góc độ cá
nhân công ty, QTCT là phương thức tối đa hóa mọi giá trị của công ty nhằm đáp

21


ứng những nghĩa vụ pháp lý, trách nhiệm tài chính và trách nhiệm hợp đồng của



vấn đề căn bản của một hệ thống QTCT như ai là người là ra quyết định trong công
ty, các biện pháp nào được áp dụng để điều chỉnh quyền lợi giữa những người có
quyền lợi tài chính trong công ty và cơ chế giám sát mà cổ động thự chiện đối với
ban lãnh đạo ccông ty. Cơ cấu sở hữu bao gồm hai khía cạnh chủ yêu là Mức độ tập
trung quyền sở hữu và thành phần sở hữu.
Mức độ tập trung quyền sở hữu
Mức độ tập trung quyền sở hữu trong công ty quyết định sự phân chia quyền
lực giữa các nhà quản lý và các cổ đông. Việc tập trung hay phân tán sở hữu quyết
định công ty được kiểm soát chặt chẽ bởi một nhóm những cổ đông chính hay bởi
những cổ đông nhỏ lẻ. Mức độ tập trung quyền sở hữu cũng quyết định cơ chế phân
bổ quyền lực và lợi ích giữa những người có quyền lợi tài chính trong công ty và cơ
chế giám sát của các cổ đông.
Sở hữu phân tán trong CTĐC: Khi quyền sở hữu được phân bổ cho một số
lượng lớn các cổ đông nhỏ lẻ thì có nghĩa công ty có một cơ cấu sở hữu phân tán.
CTĐC như đã phân tích ở tren có đặc điểm là sở hữu phân tán. Trong cơ cấu sở hữu
mang tính chất phân tán, việc giám sát của các cổ đông đối với ban lãnh đạo công ty
có khuynh hướng yếu đi. Những cổ đông nhỏ lẻ thường có xu hướng gánh chi phí
quan tấm đến việc giám sát hoạt động của ban lãnh đạo công ty do họ phải gánh chi
phí giám sát rất lớn trong khi phần lợi nhuận được chia sẻ lại nhỏ. Các công ty của
Anh và Mỹ thường có cơ cấu sở hữu phân tán, việc thực thi các quyền của cổ đông
và của các chủ nợ, ngoài việc thông qua các công cụ pháp luật còn được thực hiện
thông qua các thị trường điều hành công ty như thị trường thâu tóm và thị trường sát
nhập.
Trong cơ cấu sở hữu này, vai trò của QTCT đặc biệt quan trọng đối với việc
bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cổ đông nhỏ lẻ. Đối với một cơ cấu sở
hữu magn tính chất phân tán, có chế chủ yếu để bảo vệ các cổ đông là hành lang
pháp lý. Các công ty có cơ cấu sở hữu phân tán được quản trị bằng HĐQT. Các
thành viên của HĐQT được bổ nhiệm thông qua Đại hội cổ đông và nắm toàn

đình nếu có phần đầu tư đáng kể vào công ty thì chắc chắn sẽ có mối quan tâm lớn
đến việc đồng thời nắm quyền kiểm soát và sở hữu công ty. Một nhà đầu tư tổ chức
thì lại chỉ thường quan tâm đến lợi nhuận của công ty hơn là quyền kiểm soát. Một
ngân hàng khi đóng vai trò là cổ đông lớn của một công ty cũng dễ rơi vào tình

24


huống đưa ra những ưu đãi khi cung cấp các khoản vay., không có được những
quyết định dứt khoát trong việc chấm dứt những dự án không sinh lời và thanh lý
công ty. Tình trạng này xuất phát từ sự xung đột quyền lợi sẽ phát sinh khi ngân
hàng vừa là người sở hữu vừa là chủ nợ của công ty.
Các hình thức huy động vốn
Một nhân tố quan trọng nữa ảnh hưởng đến mô hình QTCT là hính thức huy
động vốn của CTĐC. Công ty có thể có nhiều cách để huy động vốn, và đối với mỗi
cách thức huy động vốn, mô hình quản trị của công ty phải có những cơ chế phù
hợp nhằm đảm bảo việc kiểm soát của người cấp vốn đối với các khoản đầu tư cũng
như thực hiện tốt các quyền của mình. Hình thức huy động vốn của công ty chủ yếu
tập trung vào hai dạng chính là huy động vốn từ ngân hàng và từ TTCK là vô vùng
quan trọng và có ý nghĩa sống còn. Việc huy động vốn từ TTCK được thực hiện
dưới hai hình thức là phát hành trái phiếu công ty và phát hành cổ phiếu. Trái phiếu
công ty là những thỏa thuận cho vay có thu nhập cố định giữa một công ty phát
hành và những người nắm giữ trái phiếu (trái chủ). Giống như hình thức huy động
vốn từ ngân hàng, những ngượi phát hành trái phiếu có những nghĩa vụ nhất định
theo hợp đồng như cam kết thanh toán một khoản tiền được xác định trước cho
người cho vay. Đối với những công ty áp dụng hình thức huy động vốn từ thị
trường vốn, vấn đề mấu chốt của QTCT là giải quyết những rắc tối phát sinh giữa
ban điều hành và các cổ đông cũng như trái chủ của công ty. QTCT được thực hiện
bởi các nhà đầu tư theo danh mục thông qua việc cướng chế thực thi các quyền của
cổ đông và trái chủ, và thông qua thị trường thâu tóm và sát nhập công ty.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status