1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT PHẠM NGỌC THÁI
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Nguyên Khánh
Hà nội – 2012 3
Thực trạng yếu kém trong Quản trị công ty ở Việt Nam hiện nay do nhiều
nguyên nhân khác nhau, mà một trong những nguyên nhân chính là khung
pháp lý chưa đủ cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư và ngăn ngừa
các xung đột lợi ích một cách có hiệu quả.
Sau 7 năm thực hiện, Luật Doanh nghiệp năm 2005 (LDN 2005) và các
văn bản hướng dẫn thi hành đã và đang tiếp tục bộc lộ nhiều khiếm khuyết
trong các quy định về quản trị nội bộ của công ty và thực sự chưa giải quyết
đầy đủ những vấn đề phát sinh trong thực tiễn của đời sống kinh doanh.
Hiện nay, khi Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế
thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam “vươn mình” ra sân chơi quốc tế - nơi
mà những yêu cầu về Quản trị công ty dường như là một yêu cầu bắt buộc.
Chính vì vậy, vấn đề xây dựng và hoàn thiện các quy định về quản trị công ty
đang là một yêu cầu cấp thiết
Từ tất cả những lý do trên, đề tài “Chế độ pháp lý về quản trị công ty ở
Việt Nam hiện nay” đã được tác giả lựa chọn nghiên cứu trong khuôn khổ
của một luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, có rất nhiều các công trình nghiên cứu về pháp luật tổ chức kinh
doanh, trong đó có đề cập đến vấn đề quản trị công ty. Cụ thể một số công
trình tiêu biểu như:
(1) Báo cáo tổng hợp nghiên cứu rà soát các văn bản pháp luật về thành
lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp với tư tưởng xây dựng
Luật Doanh nghiệp Thống nhất và Luật Đầu tư chung của Ban
Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ (PMRC) & Chương trình
Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), năm 2005;
(2) Báo cáo tổng hợp dự án Luật Doanh nghiệp Thống nhất của Ban
soạn thảo Luật Doanh nghiệp Thống nhất, Phòng Công nghiệp và
5
hình thành các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản
trị công ty ở nước ta hiện nay.
Để thực hiện mục tiêu trên, Luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công ty và quản trị công ty ;
- Nghiên cứu so sánh về các mô hình quản trị công ty trên thế giới;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị các loại hình công ty ở
nước ta hiện nay;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản
trị công ty ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý về quản trị các loại
hình công ty (công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty
TNHH một thành viên, công ty hợp danh) trên cơ sở những lý luận pháp lý
nền tảng và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, không xem xét đến yếu tố khác
biệt về chủ sở hữu công ty. Trong đó, chủ yếu tập trung vào trọng tâm là loại
hình công ty cổ phần.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được trình bày trên cơ sở vận dụng những quan điểm của chủ
nghĩa Mác-Lênin về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam và Nhà nước ta về hội nhập kinh tế, về tiếp thu có chọn lọc tinh hoa
của các nước phù hợp tình hình thực tế của Việt Nam.
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp kế
thừa có chọn lọc, phương pháp phản ánh thực chứng, đồng thời so sánh đối
chiếu các quy phạm thực định về quản trị công ty hiện nay với pháp luật có
liên quan của các nước trên tinh thần tiếp thu kinh nghiệm của các nước có
xét đến tình hình thực tiễn ở Việt Nam.
6. Bố cục của Luận văn
Luận văn gồm có ba phần: lời nói đầu, 3 Chương và Kết luận.
8
Theo Giáo sư Ira M. Millstein, Trường Quản lý Yale, Hoa Kỳ, quản trị
công ty là việc công ty áp dụng những phương pháp mang tính nội bộ để quản
lý hoạt động của công ty. Nó được thể hiện qua những mối liên hệ nội bộ về
cơ cấu quyền hạn và trách nhiệm giữa các chủ thể góp vốn, Hội đồng quản trị
và các nhà quản lý [23, tr.7, 8, 18]. Quan điểm này khá tương đồng với định
nghĩa về quản trị công ty trong Luật Công ty của Vương quốc Anh năm 1985.
Cụ thể là Luật này đã xác định, quản trị công ty là một thiết chế pháp lý về
mối quan hệ giữa cổ đông, các nhà quản lý và Kiểm soát viên [29, tr.1].
Raymond Mallon, chuyên viên cao cấp của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa
Kỳ (USAID) thì định nghĩa, quản trị công ty được hiểu là các quy trình mà
qua đó Hội đồng quản trị giám sát Tổng giám đốc công ty và những nhà quản
lý khác chịu trách nhiệm quản lý công ty hàng ngày, qua đó thành viên Hội
đồng quản trị chịu trách nhiệm đối với các nhà đầu tư, chủ nợ doanh nghiệp
và các bên có liên quan khác. Mục đích của quản trị công ty là bảo vệ lợi ích
của các bên có liên quan chính trong công ty kinh doanh, mà trọng tâm tập
trung vào bảo vệ lợi ích của người góp vốn vào công ty [22, tr.15].
Còn John và Senbet lại quan niệm rằng, quản trị công ty là cơ chế mà theo
đó cổ đông của một công ty thực hiện quyền kiểm soát đối với các thành viên
nội bộ nhằm bảo vệ lợi ích của chính họ [20, tr.111].
Ở mức độ khái quát, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) lại đưa
ra định nghĩa, quản trị công ty là hệ thống mà thông qua đó công ty được chỉ
đạo và kiểm soát. Cơ cấu quản trị công ty quy định việc phân bổ quyền hạn
và trách nhiệm giữa các thành viên tham gia khác nhau trong công ty như
Hội đồng quản trị, các chức danh điều hành, cổ đông và các bên có quyền lợi
liên quan khác; đồng thời đề ra các quy tắc và thủ tục ra quyết định đối với
các công việc của công ty. Bằng cách này, nó tạo ra một cơ chế xác lập mục
tiêu hoạt động, các phương tiện thực thi và giám sát thực thi các mục tiêu đó
[43]. Cụ thể hóa định nghĩa này, OECD đưa ra một bộ các nguyên tắc mang
pháp của WB. Điển hình là Luật Quản trị Công ty của Vương quốc Bỉ năm
2004 (The Belgian Code on Corporate Governance 2004) xác định ngay trong
lời nói đầu của mình rằng, quản trị công ty là một tập hợp các quy tắc và cách
xử sự mà theo đó công ty được quản lý và kiểm soát. Theo đó, nội dung của
10
luật này không gì khác hơn là điều chỉnh pháp luật về các vấn đề mà OECD,
WB, ADB đã nêu.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “quản trị công ty” còn tương đối mới mẻ, chưa
được sử dụng như một thuật ngữ pháp lý chính thức và thống nhất về nội
dung. Khi nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.
Có quan điểm vì đồng nhất thuật ngữ “quản trị” với thuật ngữ “quản lý”
nên cho rằng “quản trị công ty” bao gồm “quản trị nhà nước” đối với công ty
(quan hệ quản lý nhà nước theo chiều dọc mang tính áp đặt, mệnh lệnh) và
quản trị quan hệ nội bộ công ty (quản lý nội bộ công ty). Tuy nhiên cách sử
dụng này không mang tính phổ biến. Trên thực tế, từ “quản trị” không được
dùng như một thuật ngữ phổ dụng trong quan hệ hành chính giữa nhà nước và
doanh nghiệp, mà chủ yếu dùng từ “quản lý”, hay chính xác hơn là cụm từ
“quản lý nhà nước” để chỉ mối quan hệ này. Trái lại, thuật ngữ “quản trị” trở
nên phổ dụng hơn khi xem xét mối quan hệ nội bộ công ty. Với cách dùng
này thì “quản trị” được hiểu như là một hoạt động cần thiết phải được thực
hiện khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được những
mục tiêu chung [18, tr.11].
Theo luật gia Nguyễn Ngọc Bích, quản trị công ty (lèo lái công ty-
corporate governance) là một tập hợp các cơ chế liên quan đến việc điều hành
và kiểm soát công ty. Nó đề ra cách phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa cổ
đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và những người có lợi ích liên quan
khác như người lao động, nhà cung cấp [9, tr.225]. Cách tiếp cận này tương
đồng với quan điểm của OECD.
Tóm lại, từ tất cả những định nghĩa và phân tích trên có thể cho phép khái
quát rằng, dưới góc độ pháp lý, theo nghĩa rộng, quản trị công ty là tất cả các
quy định, cơ chế nhằm tổ chức công ty một cách có hiệu quả, vì lợi ích của
chủ sở hữu công ty và của xã hội. Theo đó, quản trị công ty (corporate
governance) không liên quan đến hoạt động tác nghiệp điều hành các công
việc hàng ngày của công ty, mà chủ yếu chỉ xác định quyền lợi và trách nhiệm
của các chủ thể quản lý, giám sát công ty, cũng như cơ chế đảm bảo thực hiện
nó [9, tr.225]. Cụ thể là xác định rõ nội dung phân chia các quyền, nghĩa vụ
và trách nhiệm giữa chủ sở hữu công ty, Đại hội đồng cổ đông (công ty cổ
12
phần), Hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành, Ban kiểm soát và những chủ
thể có liên quan khác của công ty (người lao động, chủ nợ,…); đồng thời lập
ra các nguyên tắc và thủ tục để ra quyết định về những vấn đề của công ty.
Các thiết chế pháp lý điều chỉnh các quan hệ này được cụ thể hóa trong các
Luật công ty (Luật tổ chức công ty), Luật quản trị công ty ở một số nước,
Luật thương mại, Luật phá sản và rải rác ở các luật có liên quan khác.
Ở phạm vi hẹp hơn, quản trị công ty được hiểu như là chế định về quản lý
nội bộ công ty. Chúng điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể quản lý, giám
sát trong công ty với nhau và với chủ sở hữu công ty, qua đó ngăn chặn sự
lạm dụng quyền, giảm thiểu những rủi ro không cần thiết cho công ty và chủ
sở hữu công ty.
1.1.2. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ quản trị công ty.
Trong cơ chế kinh tế thị trường hiện nay, sự tồn tại của pháp luật quản trị
công ty bắt nguồn từ chính đời sống kinh doanh, từ thực tiễn tổ chức và vận
hành các tổ chức kinh doanh. Tầm quan trọng của pháp luật quản trị công ty
là cơ sở thực chứng cho sự tồn tại và phát triển của chúng. Các kết quả nghiên
cứu gần đây cho thấy, pháp luật quản trị công ty ngày càng giữ vai trò quan
trọng trong đời sống kinh tế xã hội của các quốc gia, nhất là trong bối cảnh
Do vậy, sự tồn tại của chế định quản trị công ty là một nhu cầu không thể
thiếu trong việc khai thông nguồn vốn xã hội, giúp giảm chi phí vốn vay,
nâng cao hiệu quả kinh tế của công ty và quốc gia. Từ đó, góp phần hạn chế
hiểm họa lãng phí nguồn lực quốc gia, giảm bớt nguy cơ khủng hoảng kinh tế,
tạo tiền đề cho thị trường chứng khoán phát triển, cũng như đảm bảo mục tiêu
tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Đặc biệt, ở các quốc gia có nền kinh tế mới chuyển đổi, pháp luật kinh
doanh còn trong tình trạng “tranh tối tranh sáng”, các “quan hệ ngầm” còn
bao phủ đời sống kinh doanh, thì sự xuất hiện và tồn tại chế định quản trị
công ty còn tạo cơ sở pháp lý để chống lại sự can thiệp không cần thiết của
công quyền vào công việc nội bộ của công ty, giúp minh bạch hóa môi trường
kinh doanh, hạn chế các hành vi giao dịch nội gián và tham nhũng.
Từ góc độ của người kinh doanh, các nhà đầu tư hoàn toàn có quyền đồi
hỏi nhà nước phải đảm bảo một khuôn khổ pháp lý vững chắc cho các tiêu
chuẩn về quản trị công ty tối thiểu. Ở Việt Nam, kết quả khảo sát của Tổ chức
14
tài chính quốc tế IFC và Chương trình phát triển kinh tế tư nhân MPDF năm
2004 cũng cho biết, 88% các công ty cho rằng Nhà nước nên dành ưu tiên cao
cho việc cải thiện công tác quản trị công ty [12, tr.17]. Điều này cho thấy, sự
can thiệp pháp luật vào quan hệ quản lý nội bộ công ty là cần thiết và hoàn
toàn khách quan. Bởi nó xuất phát từ mong muốn của chính những đối tượng
chịu sự điều chỉnh của nó.
Ngoài ra, ở khía cạnh pháp lý, sự điều chỉnh pháp luật về quản trị công ty
còn xuất phát từ nhu cầu hiện thực hóa các quyền hiến định là quyền sở hữu
và quyền tự do kinh doanh. Pháp luật quản trị công ty giúp giải quyết cơ bản
các mâu thuẫn nội tại vốn luôn tiềm ẩn trong bản thân mỗi công ty. Đó là mâu
thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu công ty và người quản lý-người thừa hành, giữa
chủ sở hữu nắm quyền lực kiểm soát công ty (cổ đông nhiều vốn) và chủ sở
tránh khỏi tình trạng không hoàn chỉnh, quyền quyết định những vấn đề mới
phát sinh có thể không được quy định trong hợp đồng. Khi đó, sự thiếu vắng
chế định quản trị công ty nói riêng, Luật công ty nói chung sẽ là một khoảng
trống pháp lý cho nhà đầu tư. Bởi, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh
cũng như việc hoàn chỉnh các hợp đồng này sẽ tạo ra nhiều rủi ro và làm phát
sinh thêm nhiều chi phí cho nhà đầu tư. Điều này tạo tâm lý e ngại đầu tư dài
hạn, gây hiệu ứng không tốt cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Tóm lại, từ những phân tích trên, có thể nói rằng việc điều chỉnh pháp luật
đối với các quan hệ quản trị công ty là cần thiết và không thể thiếu đối với sự
phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia.
1.2. Chế độ pháp lý về quản trị công ty và những đòi hỏi mang tính
nguyên tắc khi xây dựng quy chế pháp lý về quản trị công ty
1.2.1. Chế độ pháp lý về quản trị công ty
Về mặt lý luận, Luật công ty (Luật doanh nghiệp) là loại pháp luật mang
tính tổ chức [8, tr.35, 36], [11, tr.8], [17, tr.1], [28, tr.25]. Thực tại pháp lý của
các nước trên thế giới cũng cho thấy, Luật công ty bao gồm chủ yếu các quy
định về tổ chức các loại hình công ty [8, tr.40]. Do vậy Luật công ty được
hiểu như là Luật về tổ chức công ty hay là Luật về quản trị công ty.
Ở giác độ quản trị công ty, Giáo sư Chiristoph Van Der Elst, Đại học
Ghent, Vương quốc Bỉ, cho rằng “Luật công ty chủ yếu quy định những vấn
16
đề nội bộ công ty (internal affairs)” [8, tr.41]. Nói như các Giáo sư Hoa Kỳ, R.
Robert Rosenberg, William G. Ott, Edward E. Byers, Gordon W. Brown, thì
đó là những quy định về tổ chức quản lý nội bộ công ty [8, tr.40]. Nghiên cứu
vấn đề này, Reinier Kraakman, Giáo sư hàng đầu về Luật công ty, Đại học
Luật Harvard, kết luận rằng “mô hình chuẩn” của Luật công ty là hướng đến
lợi ích của các cổ đông trên cơ sở tôn trọng lợi ích của các chủ thể có liên
quan khác, mà cụ thể là tập trung điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể
Cơ chế giám sát các hành vi của người quản lý nhằm hạn chế sự lạm
dụng quyền lực đối với các nguồn lực của công ty vì mục đích tư lợi;
Quy trình và thể thức ra quyết định công ty.
Các nội dung này được điều chỉnh khác nhau và tương thích với từng loại
hình công ty. Đối với các loại hình công ty đối nhân (theo cách phân loại của
hệ thống Civil Law), nhân thân (danh) của thành viên công ty là căn cứ cơ
bản để xác định vị trí, vai trò của họ trong việc tổ chức quản lý công ty, chứ
không phải dựa vào quy mô giá trị phần vốn góp. Dễ thấy nhất, đối với loại
hình công ty hợp vốn đơn giản, người được quản lý và ra quyết định công ty
là thành viên hợp danh, chứ không phải là thành viên góp vốn (nguyên tắc đối
nhân). Tương ứng với quyền đó, thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm
vô hạn trong khi thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn. Trái lại,
đối với các loại hình công ty đối vốn, mối liên hệ giữa các thành viên công ty
liên quan đến vấn đề tổ chức quản lý công ty dựa trên căn cứ chủ yếu là quy
mô giá trị phần vốn góp của mỗi thành viên trong vốn điều lệ của công ty
(nguyên tắc đối vốn). Việc ra quyết định quan trọng nhất của công ty cũng
dựa trên tỷ lệ giá trị phần vốn góp của người biểu quyết. Nhìn chung, ứng với
mỗi hình thức pháp lý khác nhau là một mô hình pháp lý về tổ chức quản lý
công ty (mô hình quản trị) khác nhau.
1.2.2. Những yêu cầu mang tính nguyên tắc khi xây dựng quy chế pháp lý
về quản trị công ty
Đảm bảo tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh của công ty
Đây là yêu cầu xuất phát từ quyền Hiến định cơ bản của công dân và
nguyên tắc phát triển của kinh tế thị trường - nguyên tắc tự do kinh doanh.
18
Với yêu cầu này, việc tổ chức quản lý nội bộ công ty trước hết và chủ yếu
thuộc quyền quyết định của chủ đầu tư. Pháp luật không cần thiết phải can
thiệp quá sâu và quá chi tiết vào các quan hệ nội bộ của công ty. Sự can thiệp
vốn và cơ cấu thành viên của công ty. Nói chung, chế định quản trị công ty
cần đảm bảo tính thích nghi của cơ cấu quản trị công ty với điều kiện tồn tại
và phát triển của chúng. Đây cũng chính là yêu cầu thứ hai về việc điều chỉnh
pháp luật đối với các quan hệ quản trị công ty.
Đảm bảo hài hòa lợi ích của tất cả các chủ thể có liên quan tới quản trị
công ty
Sự ra đời và tồn tại của chế định quản trị công ty gắn liền với nhu cầu huy
động vốn, giảm thiểu chi phí và rủi ro cho nhà đầu tư. Sự điều chỉnh của pháp
luật quản trị công ty chủ yếu nhằm hướng tới đáp ứng nhu cầu đảm bảo quyền
lợi của nhà đầu tư. Đó cũng chính là yêu cầu thứ ba của việc điều chỉnh pháp
luật quản trị công ty. Với yêu cầu này, trước hết các quy định quản trị công ty
cần ghi nhận, bảo vệ và tạo điều kiện cho việc thực thi các quyền của chủ đầu
tư. Trong đó, bao gồm cả quyền bầu, bãi nhiệm những người lãnh đạo công ty,
quyền quyết định vấn đề trọng đại của công ty, quyền được tiếp cận thông tin
liên quan đến hoạt động của công ty, quyền chất vấn Hội đồng quản trị và
Giám đốc, quyền chuyển nhượng vốn và quyền khởi kiện.
Các nhà đầu tư khác nhau sẽ có những vị thế, lợi ích, mục tiêu và định
hướng đầu tư không hoàn toàn giống nhau. Giữa họ ít nhiều sẽ xảy ra xung
đột lợi ích, nhất là giữa nhà đầu tư thiểu số và nhà đầu tư nắm quyền lực kiểm
soát công ty. Do vậy, khi bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư, pháp luật quản
trị công ty cũng cần nhấn mạnh đến tính công bằng giữa họ với nhau. Bởi, về
bản chất, bản thân pháp luật là hiện thân của sự công bằng. Hơn nữa, chỉ có
như vậy, pháp luật quản trị công ty mới thực sự trở thành hành lang pháp lý
an toàn để thu hút hiệu quả vốn đầu tư. Với yêu cầu này, chế định quản trị
công ty cần quy định cho tất cả các cổ đông cùng loại có các quyền như nhau,
thủ tục và quy trình họp Đại hội đồng cổ đông cần được đảm bảo công bằng
cho tất cả các cổ đông có quyền tham gia. Đồng thời, quy định chặt chẽ các
điều kiện và thủ tục đối với những giao dịch của cổ đông nắm quyền lực kiểm
soát công ty, cũng như cấm các hành vi lạm quyền lực của cổ đông đa số để
đủ các thông tin liên quan một cách kịp thời và chính xác. Nhưng trên thực tế
nhà đầu tư không thể nắm bắt được thông tin nếu không có sự cung cấp của
21
người quản trị. Do đó, để bảo vệ hữu hiệu quyền lợi của nhà đầu tư, pháp luật
không thể không đảm bảo sự minh bạch hóa thông tin cho nhà đầu tư bằng
các quy định mang tính bắt buộc.
Nói chung, việc quản trị công ty một cách hiệu quả phải dựa trên những
nguyên tắc về sự minh bạch, dễ tiếp cận, kịp thời, đầy đủ, và chính xác của
thông tin ở mọi cấp độ. Với việc nâng cao tính minh bạch trong công ty, các
nhà đầu tư sẽ được hưởng lợi khi họ có cơ hội được cung cấp thông tin về
hoạt động kinh doanh và các số liệu tài chính của công ty. Thậm chí dù những
thông tin được công bố mang tính tiêu cực đi chăng nữa thì càng cổ đông
cũng sẽ được hưởng lợi do họ có cơ hội để giảm thiểu rủi ro.
1.3. Các yếu tố tác động đến quy chế pháp lí về quản trị công ty
1.3.1. Cơ chế quản lí kinh tế của mỗi quốc gia
Cơ chế kinh tế tác động chi phối pháp luật quản trị công ty cả về hình thức
lẫn nội dung. Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mọi hoạt động
kinh doanh của công ty đều được thực hiện theo kế hoạch chi tiết và thống
nhất do Nhà nước ấn định. Các công ty (xí nghiệp) hầu như không có quyền
tự chủ trong hoạt động kinh doanh. Trong quan hệ tổ chức của công ty, các cơ
quan công quyền thường can thiệp rất sâu vào vấn đề tổ chức các thiết chế
quản lí, bổ nhiệm, miễn nhiệm người điều hành. ở Việt Nam trong giai đoạn
tập trung bao cấp, không chỉ đối với các xí nghiệp quốc doanh, mà cả với rất
ít các doanh nghiệp công tư hợp doanh, các quan hệ tổ chức cũng chủ yếu dựa
vào các mệnh lệnh hành chính. Điều này làm cho các quy định về tổ chức
quản lý nội bộ công ty mang nặng tính mệnh lệnh hành chính và chứa đựng
chủ yếu các quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực luật công. Với một nền kinh tế
khép kín trong khuôn khổ kế hoạch nhà nước như thế, vai trò của pháp luật về
trình độ sản xuất hàng hóa phát triển ở mức độ cao hơn, nhu cầu liên kết để
mở rộng quy mô kinh doanh cũng như phân tán rủi ro trước cạnh tranh khốc
liệt của thị trường đã không còn dừng lại ở phạm vi những người quen biết,
tin cậy nhau. Chúng mở rộng ra cả các đối tượng không quen biết nhau, hình
thành các công ty đối vốn, mà đỉnh cao là các công ty cổ phần phát hành cổ
phiếu ra công chúng. Từ sự liên kết vốn giữa những người không thân thiết
nhau phát sinh nhu cầu về một cơ chế quản lý và giám sát của chủ đầu tư đối
23
với lượng vốn bỏ vào công ty ngày một mạnh mẽ hơn. Vấn đề đảm bảo quyền
kiểm soát của chủ đầu tư và quyền bình đẳng giữa họ làm cho cơ cấu tổ chức
của công ty ngày một chặt chẽ hơn. Cũng vì thế chế định quản trị công ty
cũng trở nên chặt chẽ hơn.
1.3.3. Các thiết chế bổ trợ cho Luật công ty.
Điều này hoàn toàn có thể chứng minh bởi thực tiễn pháp lý của các nước
trên thế giới. Ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển năng động như
Anh và Mỹ, thông tin thị trường tương đối hoàn hảo, giá cổ phiếu là yếu tố
phản ánh năng lực quản trị công ty và tạo sức ép mạnh mẽ đối với những
người quản trị công ty. Do vậy, để thích ứng với yêu cầu bảo toàn và tăng giá
trị cổ phiếu của cổ đông trước nhạy cảm nhanh chóng của thị trường, Luật
công ty tạo ra một cơ chế linh hoạt với đầy đủ quyền lực cần thiết cũng như
trách nhiệm cho Hội đồng quản trị. Đặc biệt, Tổng Giám đốc điều hành
(CEO) được trao cho nhiều quyền lực tối cao [87], [33]. Bên cạnh đó, sự giám
sát hoàn hảo của thị trường bởi các thiết chế bổ trợ cùng với đặc điểm sở hữu
không tập trung đã giúp cho các cổ đông tiềm năng và cổ đông hiện hữu giảm
bớt chi phí không cần thiết cho hoạt động giám sát công việc quản lý, điều
hành công ty. Với sự hỗ trợ hữu hiệu này, nhu cầu điều chỉnh hoạt động giám
sát của cổ đông bằng Luật công ty cũng vì thế bớt phức tạp và chi tiết hơn [32,
tr.2-6]. Hoạt động quản trị công ty được tập trung dưới một cơ cấu Hội đồng
châu Á bắt đầu tiếp nhận mô hình công ty, song cung cách quản trị của người
Á châu tuy có dấu hiệu hòa đồng, song vẫn có những nét riêng so với lối kinh
doanh của người Âu Mỹ” [26, tr.231]. Quả vậy, đặc điểm kinh doanh của
người phương Đông là dựa trên các mối quan hệ gia đình, thân hữu và niềm
tin. Triết lý kinh doanh của họ làm cho chi phí giám sát (agency cost) không
trở thành trọng tâm của các công ty dân doanh. Việc quản lý nội bộ công ty
được tổ chức theo kiểu gia đình, người góp vốn đồng thời là người điều hành,
hoặc phân chia công việc điều hành cho các thành viên trong gia đình; người
quản trị thâu tóm tất cả các thông tin và tiết lộ nhỏ giọt cho người dưới quyền
để đảm bảo tính gia trưởng của mình [26, tr.301, 366, 367]. Trái lại, người
Mỹ quản trị công ty dựa trên sự minh bạch thông tin, trách nhiệm trung thành
và cẩn trọng của người quản trị đối với cổ đông; mô hình quản trị công ty
chịu ảnh hưởng mạnh bởi tư tưởng phân quyền và chế ước của lý luận tổ chức
25
quốc gia, đồng thời chúng hướng tới giảm thiểu tối đa chi phí giám sát nhưng
vẫn đảm bảo cân đối được động lực của nhà quản lý với cổ đông và kiểm soát
được các giao dịch tư lợi [33, tr.44]. Những khác biệt này làm cho chế định
quản trị công ty của mỗi quốc gia có những nét riêng. Bởi, pháp luật chính là
tấm gương phản chiếu hiện thực xã hội mà nó tồn tại. Điều này dễ dàng thấy
được qua những khác biệt trong chế định quản trị công ty của Nhật Bản và
Mỹ. Các công ty Nhật Bản tập trung quyền lực vào tay một số người thông
qua sự tập trung sở hữu cổ phần và cơ chế sỡ hữu chéo Keiretsu, trong khi
người Mỹ thì lại phân tán cổ phần và đảm bảo quyền lợi của cổ đông thiểu số
[33, tr.46-49], [18]. Kết quả nghiên cứu của các Giáo sư Rafael La Porta,
Florencio Lopez de Silanes, Andrew Shleifer, Đại học Harvad, và Robert
W.Vishny, Đại học Chicago, cũng cho thấy, ở những nơi ít tập trung sở hữu
cổ phần như Anh - Mỹ thì pháp luật bảo vệ cổ đông mạnh mẽ hơn so với ở
những nơi có nhiều tập trung sở hữu cổ phần [18]. Nhìn chung, không có một