Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin dành lời cảm ơn trân trọng nhất tới các thầy cô giáo
khoa Luật Dân sự, khoa Sau Đại học, trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình
dạy bảo, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập tại trường.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan,
người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, giúp
tôi hoàn thành luận văn.
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều
kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Mặc dù tôi đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên không thể
tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô
và các bạn. Hà Nội, tháng 04 năm 2011
Học viên

Đinh Thị Hồng Minh
MỤC LỤC
Điều 40, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng quy định: “Cha mẹ phải bồi
thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự
gây ra”...............................................................................................................................45
Điều 146. Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ ..................47
Điều 151. Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có
công nuôi dưỡng mình .....................................................................................................49
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bạo lực gia đình là vấn đề mang tính lịch sử toàn cầu, gây nhức nhối cho
nhân loại, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho con người, nhất là đối với
phụ nữ. Bước sang thế kỷ XXI, phòng, chống bạo lực giới đang là một trong

cụ thể của việc phòng, chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên, chưa có công trình
nào nghiên cứu một cách toàn diện và tổng quát về các quy định của Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình và đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu
quả điều chỉnh của pháp luật với vấn đề bạo lực gia đình trong thời gian tới.
Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình ở
Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình.
3. Tính mới của đề tài
Đề tài “Một số vấn đề pháp lý về bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay”
không đi vào nghiên cứu một nội dung cụ thể nào mà chỉ đánh giá chung về
các quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam, tham
khảo quy định của một số nước trên thế giới về vấn đề này. Từ đó, xem xét
thực trạng bạo lực giữa các thành viên trong gia đình và thực trạng áp dụng
pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam trong thời gian qua để
đưa ra kiến nghị về một số giải pháp pháp lý nhằm ngăn chặn có hiệu quả
hành vi bạo lực trên thực tế.
4. Mục đích, phạm vi nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu các quy định của pháp
luật về bạo lực gia đình hiện nay, xem xét thực trạng về bạo lực gia đình để
tìm ra một số giải pháp pháp lý nhằm ngăn chặn có hiệu quả hành vi này.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào các quy định của
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, có xem xét tới các quy định có
liên quan trong các văn bản pháp luật khác.
5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể được tác giả sử dụng khi nghiên cứu đề tài bao
gồm: quy nạp, diễn dịch, phân tích, tổng hợp. so sánh…
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
còn gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về bạo lực gia đình
Chương II: Thực trạng pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình

quan niệm khác nhau về thành viên gia đình.
Thành viên gia đình có thể được hiểu là những người gắn bó với nhau
bằng quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng; hoặc cũng có quan điểm
cho rằng thành viên gia đình là những người cùng được ghi tên trong một sổ
hộ khẩu; hoặc là những người cùng sống trong một gia đình…
Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa truyền thống là tất cả những người
trong cùng dòng họ, trong một đại gia đình từ cụ, kỵ, ông bà, cha mẹ, vợ
chồng, con cái, cháu chắt... (bao gồm cả con dâu, con rể, cháu dâu, cháu rể...)
Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa hiện đại là những người sống trong
cùng một gia đình, có đời sống chung về mặt vật chất và tinh thần như cha mẹ
và con cái, vợ và chồng, những người khác sống cùng như người giúp việc,
giữa những người đã từng là con dâu với cha mẹ chồng, đã từng là con rể với
cha mẹ vợ, giữa những người sống chung với nhau như vợ chồng. Những
người này có một khoảng thời gian sống chung với nhau ổn định, có sự quan
tâm chia sẻ với nhau những công việc của gia đình và xã hội, từ đó hình thành
nên mối liên hệ đặc biệt về tâm lý, tình cảm, tạo nên cách ứng xử giữa họ với
nhau. Theo chúng tôi, đây là quan niệm đúng đắn về thành viên gia đình, có
thể áp dụng trong các quan hệ pháp lý bởi vì sự điều chỉnh của pháp luật trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình cần xuất phát từ mối quan hệ, sự ảnh hưởng,
tác động lẫn nhau giữa những cá nhân là thành viên gia đình chứ không đơn
thuần xuất phát từ những quan hệ như hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng.
1.1.2. Khái niệm bạo lực và bạo lực gia đình
Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là "sức mạnh dùng để cưỡng bức,
trấn áp hoặc lật đổ" [12]. Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các
hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế bạo lực được coi như một phương thức
hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rất
đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, được chia thành
nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và
bạo lực không nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em…
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý

- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ;
- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng
tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các
thành viên gia đình;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính
quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra
tình trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
1.2. Một số yếu tố tác động đến bạo lực gia đình
1.2.1. Phong tục, tập quán
Việt Nam là một nước Á Đông với tư tưởng gia trưởng còn nặng nề,
điều này có ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay.
Tính gia trưởng được chấp nhận trong gia đình và ngoài xã hội đã tạo ra một
vị trí đặc biệt cho những người đàn ông trong gia đình: họ có "quyền" quyết
định những vấn đề quan trọng, quyết định thái độ ứng xử với các thành viên
khác, họ có quyền “dạy dỗ” vợ con theo ý mình... Thậm chí, có người coiviệc
sử dụng bạo lực là ứng xử cần thiết để đảm bảo hạnh phúc gia đình. Đi cùng
với đó là tư tưởng “đèn nhà ai nhà nấy rạng”, " vợ chồng đóng cửa bảo nhau"
nên những việc trong gia đình thì những người khác thường không muốn can
thiệp vào. Đây là những yếu tố gây ra khó khăn rất lớn trong công tác phòng,
chống bạo lực gia đình hiện nay.
Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận những truyền thống tốt đẹp như:
kính già yêu trẻ, con cái phải hiếu thảo với cha mẹ hay những triết lý Nho
giáo tiến bộ “phu thê cung kính như khách” đã và đang có những tác động
tích cực tới việc bảo vệ những thành viên yếu thế trong các gia đình: người
già được kính trọng, trẻ con được yêu thương, vợ chồng tôn trọng lẫn nhau…
Những tư tưởng này nếu được phát huy và áp dụng phù hợp với xã hội hiện
nay thì sẽ góp phần quan trọng, tích cực trong phòng, chống bạo lực trong các
gia đình Việt Nam

không đến trẻ, khỏe không đến già”. Trong xã hội hiện nay, điều này thường
làm phát sinh tư tưởng chống đối ở giới trẻ khiến các mối quan hệ trong gia
đình trở nên căng thẳng, dễ làm phát sinh bạo lực gia đình.
1.2.3. Điều kiện kinh tế xã hội
Điều kiện kinh tế xã hội luôn là yếu tố tác động mạnh tới các mối quan
hệ trong gia đình và ngoài xã hội. Kinh tế khó khăn thường gây nên sự căng
thẳng, tranh chấp trong gia đình, là nhân tố dẫn tới các hành vi bạo lực về thể
chất, tinh thần không đáng có. Việc thiếu thốn về vật chất cũng làm cho các
thành viên trong gia đình không có điều kiện giao lưu, học tập, tiếp cận những
tri thức tiến bộ cũng như không được định hướng về cách ứng xử trong gia
đình, khiến tình trạng bạo lực càng dễ có nguy cơ xảy ra. Tuy nhiên, ở rất
nhiều gia đình, dù điều kiện vật chất đầy đủ nhưng vẫn có hiện tượng bạo lực
gia đình. Điều này có thể được lý giải như sau: khi kinh tế phát triển, các
thành viên trong gia đình có xu hướng thỏa mãn các lợi ích cá nhân mà thiếu
đi sự quan tâm chăm sóc tới nhau; hoặc vì quá ham mê các lợi ích kinh tế mà
phát sinh tranh chấp giữa những người thân trong gia đình. Ở những gia đình
này, bạo lực về tinh thần có xu hướng phát triển hơn bạo lực về thể chất, kinh
tế hay tình dục bởi vì những nhu cầu này đều có thể được đáp ứng phần nào
bằng tiền bạc.
Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố văn hóa bên ngoài, xu
hướng bạo lực có chiều hướng gia tăng trong xã hội Việt Nam: mọi người đều
dễ dàng tìm đến việc sử dụng bạo lực để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh.
Ngoài ra, sự suy giảm các giá trị truyền thống cũng làm gia tăng những hành
vi bạo lực gia đình vốn hiếm gặp trước đây: Vợ đánh chồng, con cái đánh
đập, mắng chửi bố mẹ, bạo lực tình dục trong gia đình, đặc biệt là với trẻ
em…
1.2.4. Định kiến giới
Quan niệm trọng nam khinh nữ đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt
Nam từ hàng ngàn năm nay và thực sự đã và đang cướp đi nhiều quyền lợi
chính đáng của người phụ nữ. Người vợ, người mẹ thường không có được sự

nghĩa của việc phòng, chống bạo lực gia đình
1.3.1. Hậu quả của bạo lực gia đình đối với gia đình và xã hội
Tình hình bạo lực gia đình đang xảy ra khá phổ biến tại khắp các vùng
miền trên cả nước. Hành vi bạo lực dưới nhiều dạng thức khác nhau đều để lại
những hậu quả nặng nề về thể chất, sức khỏe, tinh thần, kinh tế… đối với nạn
nhân. Đặc biệt, với trẻ em thì những hành vi này sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trong
tâm hồn trẻ, chi phối đến sự hình thành nhân cách sau này. Những trẻ em là
nạn nhân trực tiếp của bạo lực gia đình phải gánh chịu nỗi đau về thể xác, tinh
thần lớn lao, rất dễ có những phản ứng tiêu cực. Còn với những em phải
chứng kiến nạn bạo lực giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là bạo lực
giữa bố mẹ chúng thì thậm chí còn bị ảnh hưởng nặng nề hơn, có thể gây nên
những chấn thương tâm thần. đôi khi kéo dài suốt cả cuộc đời. Những đứa trẻ
này thường lo lắng, bất an, khó hòa nhập cuộc sống, từ đó nảy sinh tư tưởng
chán đời, học hành sa sút, dễ mắc các bệnh trầm cảm… Nguy hiểm hơn, đây
chính là mảnh đất để ươm mầm những hành vi bạo lực gia đình trong tương
lai, khi mà những đứa trẻ trưởng thành cũng có xu hướng sử dụng bạo lực để
giải quyết các mâu thuẫn trong gia đình.
Bạo lực gia đình cũng làm phát sinh nguy cơ gây tan vỡ và suy giảm sự
bền vững của gia đình. Báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao cho biết: trong 5
năm (2000-2005), toà án các địa phương giải quyết 352.047 vụ việc về hôn
nhân, gia đình, trong đó gần 200.000 vụ ly hôn do bạo lực gia đình, hành vi
đánh đập, ngược đãi chiếm 53,1% trong các nguyên nhân dẫn đến ly hôn. Còn
theo báo cáo của Bộ Công an, trên toàn quốc cứ 2-3 ngày lại có 1 người bị
chết có liên quan đến bạo lực gia đình. [26]. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi
hành vi bạo lực đã xâm phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ giữa vợ với
chồng, hủy hoại tình cảm yêu thương gắn bó giữa vợ và chồng. Thậm chí hôn
nhân chỉ còn là cái cớ, là vỏ bọc để ngụy biện cho hành vi bạo lực.
Với những tác động tiêu cực như trên đối với mỗi cá nhân, gia đình,
bạo lực gia đình cũng để lại hậu quả nặng nề cho toàn xã hội. Trước hết, nó
làm suy thoái đạo đức nghiêm trọng: khi mà những quan hệ thiêng liêng, bền

cho các thành viên, góp phần đảm bảo cho một gia đình dân chủ, hòa thuận,
hạnh phúc, bền vững. Bắt đầu bằng việc nhận ra hậu quả của hành vi bạo lực,
những quyền và nghĩa vụ của mình với hành vi bạo lực trong gia đình, mỗi
thành viên gia đình sẽ có ý thức sâu sắc hơn việc cần phải tôn trọng lẫn nhau,
cần có những sự quan tâm đúng cách tới nhau, cần có những ứng xử hợp lý
khi nảy sinh tranh chấp... Từ đó, họ cũng sẽ hiểu và trân trọng hơn gia đình và
những người thân của mình.
Phòng, chống bạo lực gia đình không phải là trách nhiệm của riêng ai
mà là trách nhiệm của toàn xã hội: các cá nhân, gia đình, các tổ chức xã hội
và nhà nước. Việc thực hiện các quy định về phòng, chống bạo lực gia đình sẽ
góp phần nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân với cộng đồng, góp phần xóa
bỏ quan niệm “đèn nhà ai nhà nấy rạng”, sự thiếu quan tâm tới hành vi bạo
lực gia đình cũng như thái độ thờ ơ với nạn nhân của bạo lực gia đình. Từ đó,
nhận thức của mỗi người về gia đình, về vai trò của từng thành viên trong gia
đình, đặc biệt là vai trò của người phụ nữ được nâng lên. Đây là yếu tố quan
trọng góp phần đảm bảo bình đẳng giới thực chất trong gia đình và xã hội
cũng như đảm bảo một xã hội dân chủ, văn minh.
1.4. Pháp luật một số quốc gia đối với vấn đề bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình là một vấn đề phổ biến trên tất cả các quốc gia trên
toàn thế giới, ảnh hưởng tới sự an toàn, lành mạnh của cộng đồng và trật tự xã
hội. Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều có các văn bản quy phạm pháp luật
hình sự hoặc hành chính để xử phạt các hành vi bạo lực, trong đó bao gồm cả
bạo lực trong gia đình. Tuy nhiên, bạo lực gia đình có một số đặc thù mà các
thủ tục hành chính, dân sự, hình sự không giải quyết được như: xảy ra trong
bối cảnh riêng tư, mang tính liên tục, nạn nhân không muốn nhờ cậy sự giúp
đỡ từ các cơ quan chức năng vì xấu hổ, sợ bị miệt thị, vì phụ thuộc vào người
có hành vi bạo lực… Chính vì vậy, nhiều quốc gia đã ban hành văn bản pháp
luật riêng về bạo lực gia đình với mục đích giải quyết có hiệu quả tình trạng
bạo lực gia đình, chỉnh sửa các thủ tục hành chính và hình sự cho phù hợp với
những nhu cầu đặc biệt của các nạn nhân bạo lực gia đình. Cụ thể:

những người có bất cứ điều kiện nào sau đây:
- Vợ, chồng (bao gồm cả người có hôn nhân thực tế) hoặc bất cứ người
nào có quan hệ hôn nhân
- Bất cứ người nào đang có quan hệ hoặc đã từng có quan hệ tổ tiên
(bao gồm những người có chung huyết thống hoặc những người được nhận
làm con nuôi một cách hợp pháp)
- Bất cứ người nào có quan hệ là con với cha kế hay mẹ kế hoặc là con
ngoài giá thú của người phụ nữ mà người này lại kết hôn hợp pháp với cha
của người đó
- Bất cứ người nào có quan hệ họ hàng và chung sống cùng nhau [11,
tr. 80]
Việc quy định một cách cụ thể, rõ ràng những đối tượng thuộc phạm vi
điều chỉnh của Luật như vậy làm cho việc áp dụng pháp luật trở nên rõ ràng
và minh bạch hơn, đồng thời giúp những các chủ thể xác định được quyền và
nghĩa vụ của mình.
Tương tự như vậy, hành vi bị coi là bạo lực gia đình ở các nước cũng
được quy định khác nhau. Định nghĩa các hành vi này không có sự thống
nhất, nhưng nhìn chung đều ghi nhận một số hình thức bạo lực: bạo lực về thể
chất; bạo lực về tâm lý; bạo lực về tình dục và một số nước ghi nhận bạo lực
về kinh tế. Tuy nhiên, có một số nước phân biệt rõ ràng các hình thức này,
quy định cụ thể những hành vi thuộc từng hình thức (Hàn Quốc, Camphuchia,
Philippin, Mông Cổ…) nhưng một số nước thì không.
Ví dụ: Luật Chống bạo hành gia đình Mông Cổ ghi nhận:
- Bạo hành về thể xác là làm cho cơ thể bị tổn thương bằng các hành
động như tát, hành hung, đánh đập, xung đột gây ảnh hưởng đến sức khỏe
hoặc dẫn tới tử vong.
- Bạo hành tâm lý có nghĩa là cố tình thực hiện những hành vi gây áp
lực có liên quan đến tâm lý của con người như đe dọa, tống tiền, ngược đãi
hoặc lăng mạ, phỉ báng danh dự và phẩm giá của con người bằng việc đe dọa,
lăng mạ hoặc thư hăm dọa, cô lập với họ hàng và bạn bè, cưỡng ép hay ép

phán, luật sư tham gia giải quyết những vụ việc bạo lực gia đình;
- Cung cấp thông tin cho quần chúng, những người lãnh đạo theo
truyền thống và trong cộng đồng về quyền con người, về bạo lực gia đình –
một sự vi phạm quyền con người;
- Các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng cùng
nhau phối hợp nỗ lực phòng ngừa bạo lực gia đình và giải quyết những yếu tố
kinh tế - xã hội làm tăng nguy cơ bạo lực gia đình. [11, tr. 257]
Do sự nhạy cảm và phức tạp của các mối quan hệ gia đình, theo chúng
tôi, việc sử dụng các biện pháp để phòng ngừa hành vi bạo lực gia đình trước
khi nó xảy ra và để lại những hậu quả đáng tiếc là rất cần thiết và quan trọng.
Tuy nhiên, việc này lại đòi hỏi một quá trình khó khăn và phức tạp. Những
quy định của Đông Timo về vấn này khá cụ thể, hướng tới những chủ thể
quan trọng có khả năng đem lại hiệu quả cao, rất cần được nghiên cứu và học
hỏi.
1.4.3. Thủ tục xác định và báo cáo về những trường hợp bạo lực gia
đình
Do xảy ra trong bối cảnh riêng tư nên những hành vi bạo lực gia đình
thường không bị phát hiện và tố cáo vì nạn nhân thì lo sợ, những người có
thẩm quyền lại không quan tâm đúng mức. Vì vậy, pháp luật một số nước đã
quy định về việc những cán bộ y tế, cán bộ tham vấn hay các nhà chuyên môn
khi có nghi ngờ về bạo lực gia đình hoặc khi được nạn nhân bạo lực gia đình
cho biết về vụ việc thì cần phải có những hành động vì lợi ích của nạn nhân
như: báo với cảnh sát hoặc cơ quan có thẩm quyền ở địa phương trong bất cứ
trường hợp nào (Đài Loan, Đông Timo) hoặc được khuyến khích làm theo
yêu cầu cầu nạn nhân (Nhật Bản).
Một trong những khó khăn khi xử lý bạo lực gia đình là nạn nhân rút tố
cáo, mà điều này thường xuyên xảy ra do sự phụ thuộc của nạn nhân vào
người có hành vi bạo lực, do bị đe dọa hoặc do sức ép từ phía gia đình, cộng
đồng… Tuy nhiên, hành động đó thường không làm thủ phạm hối cải mà
ngược lại càng làm cho họ tin vào quyền lực của mình, nạn nhân có nguy cơ

kiến hành vi bạo lực. Quy định này thực sự cần thiết vì trong nhiều trường
hợp nạn nhân bạo lực gia đình vì sự phụ thuộc với người có hành vi bạo lực
hay do những rào cản từ định kiến xã hội mà không dám hoặc không thể thực
hiện quyền yêu cầu bảo vệ với bản thân mình.
Trong quyết định bảo vệ, người có hành vi bạo lực thường bị áp đặt
một số hành vi: cấm thực hiện bất cứ hành vi bạo lực mới nào; cấm tiếp xúc
với nạn nhân; yêu cầu người vi phạm rời khỏi nhà (Malayxia, Nhật Bản, Đài
Loan); yêu cầu người vi phạm thực hiện cấp dưỡng tạm thời (Philippin,
Camphichia, Đài Loan); quyết định giao trông nom trẻ (Nhật Bản, Đài Loan,
Camphichia); cho phép bắt giữ không cần lệnh bắt giữ nếu cảnh sát nhận
được thông tin rằng quyết định bảo vệ bị vi phạm (Malayxia, Camphuchia).
Những quy định này có ý nghĩa rất lớn với nạn nhân bạo lực gia đình. Bởi vì
nếu chỉ đưa ra lệnh cấm tiếp xúc thông thường thì họ phải đối mặt với rất
nhiều khó khăn, không chỉ từ phía người có hành vi bạo lực mà cả từ gia đình
và cộng đồng xã hội. Họ có thể rơi vào tình trạng không có nơi ở, không có
tiền để sinh sống và không có điều kiện chăm sóc con cái. Những điều này có
thể một lần nữa đẩy họ vào tay người có hành vi bạo lực và lần này mức độ
bạo lực có thể tăng lên rất nhiều.
Thời hạn của quyết định bảo vệ: với quyết định bảo vệ khẩn cấp thì
thời hạn có thể từ 10 ngày (theo khuyến nghị của Luật mẫu của Liên hợp
quốc), 15 ngày (ở Philippin) hoặc lên tới 2 tháng (Capphuchia). Với các quyết
định bảo vệ dài hạn, một số nước không quy định cứng về thời gian mà hiệu
lực của quyết định vô hạn cho đến khi một trong hai bên vợ chồng đề nghị
Tòa án bãi bỏ quyết định đó (Philippin); 12 tháng ở Đài Loan, Malayxia và 6
tháng ở Capphuchia. Việc quy định thời gian bảo vệ là để giúp nạn nhân tránh
khỏi những hành vi bạo lực, hai bên có thời gian xem xét lại hành vi của
mình; răn đe, giáo dục người có hành vi bạo lực. Khoảng thời gian này không
nên quá ngắn nhưng cũng không thể quá dài, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia
đình và sinh hoạt của các chủ thể.
CHƯƠNG II

Pháp luật luôn hướng tới việc ngăn chặn các hành vi phạm tội trước khi
xảy ra để giữ gìn trật tự, tránh những tổn thất cho cộng đồng và xã hội. Riêng
trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình thì việc phòng ngừa càng có ý
nghĩa quan trọng. Bởi vì hành vi bạo lực nếu xảy ra thì ít nhiều đã gây ra
những tổn thương nhất định cho các thành viên trong gia đình, làm xấu đi mối
liên kết và tình cảm gia đình, và việc hàn gắn là không dễ; nếu hành vi bị phát
hiện và xử ký theo pháp luật thì quan hệ gia đình có thể sẽ chuyển biến xấu
hơn nữa. Vì vậy, cần phải lấy phòng ngừa là chính trong hoạt động phòng,
chống bạo lực gia đình.
Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời
theo quy định của pháp luật.
Đây là một trong những nguyên tắc chung của pháp luật. Riêng trong
lĩnh vực bạo lực gia đình, việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành
vi càng có ý nghĩa quan trọng, nếu không thì có thể trở thành "thói quen",
được chấp nhận với cả nạn nhân, người vi phạm và những người xung quanh.
Thực tế cho thấy: nếp sống, nếp nghĩ của người Việt Nam nói chung vẫn cho
rằng những hành vi bạo lực trong gia đình là bình thường, thậm chí đôi khi là
cần thiết. Vì thế, những hành vi bạo lực mà luật quy định thường không được
nhìn nhận, từ đó khó phát hiện, và càng khó ngăn chặn, xử lý. Do đó, quy
định về nguyên tắc này là cần thiết nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của
mọi công dân trong lĩnh vực này.
Bên cạnh đó, hành vi bạo lực càng kéo dài thì càng gây ra nhiều tổn
thương cho nạn nhân, tổn hại tới mối quan hệ gia đình. Điều này sẽ được hạn
chế rất nhiều nếu hành vi bị phát hiện và xử lý kịp thời.
Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; ưu tiên
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và
phụ nữ.
Giúp đỡ các nạn nhân, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ là điều
cần thiết và đã được pháp luật ghi nhận như một nguyên tắc quan trọng, mọi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status