chế độ pháp lý về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty tnhh một thành viên và thực tiễn áp dụng tại công ty tnhh mtv bca thăng long - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Tên sinh viên: Nguyễn Huệ Du
Mã sinh viên: CQ510615
Lớp : Luật kinh doanh
Ngành : Luật
Chuyên ngành: Luật kinh doanh
Tên đề tài: Chế độ pháp lý về chuyển đổi công ty nhà nước
thành công ty TNHH một thành viên và thực
tiễn áp dụng tại công ty TNHH MTV BCA Thăng
Long
Giáo viên hướng dẫn: Hoàng Xuân Trường
Hà Nội. 2013
1
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nói chung và các công ty nhà nước (CTNN)
nói riêng là một hiện tượng phổ biến không chỉ tại Việt Nam mà còn ở nhiều nước
trên thế giới. Vai trò thiết yếu của các doanh nghiệp đối với nền kinh tế là không thể
phủ nhận. Tuy nhiên, cho đến nay, CTNN của các nước trên thế giới, đặc biệt là các
nước XHCN, đều tồn tại một vấn đề nổi bật, đó chính là sự không rạch ròi về người
sở hữu, khó làm ràng buộc trách nhiệm kinh doanh gắn với nó là sự không rành
mạch, khó thực hiện; lấy giám sát và can thiệp về hành chính thay cho sự ràng buộc
về kinh tế. Ở Việt nam đây cũng chính là vấn đề nổi cộm của các CTNN.Điều này
là nguồn gốc của nhiều điểm bất cập, hạn chế trong cơ chế kinh doanh của các công
ty này.Muốn giải quyết được tình trạng đó, yêu cầu đặt ra hàng đầu là phải tách rời
quyền sở hữu với quyền kinh doanh. Hạt nhân để thực hiện được yêu cầu đó chính
là “công ty hóa” chuyển đổi CTNN thành các loại hình doanh nghiệp thuộc sự điều
2
chỉnh của LDN năm 2005. Trong đó, có công ty TNHH một thành viên đã được

thay đổi đáng kể so với CTNN, kể cả về quản lý tài sản, sản xuất kinh doanh, quản
lý lao động, đơn giá tiền lương,…
3
Bằng việc nhìn nhận lại toàn bộ chặng đường chuyển đổi của Công ty TNHH
MTV BCA Thăng Long như một ví dụ cụ thể của quá trình chuyển đổi các CTNN
thành công ty TNHH một thành viên ở nước ta, bài chuyên đề mong muốn đóng
góp những nhận xét và phân tích về những thành quả đã đạt được và cả những mặt
hạn chế còn tồn tại sau chuyển đổi của công ty, từ đó nhằm đưa ra những giải pháp
giúp công ty nói riêng và các công ty TNHH một thành viên khác thuộc sở hữu Nhà
nước nói chung hoàn thiện cơ cấu tổ chức, tăng tính hiệu quả trong hoạt động quản
lý công ty.
I. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG TY TNHH MỘT
THÀNH VIÊN
1. Khái quát chung
a) Khái niệm và vai trò của công ty nhà nước
a1. Khái niệm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật doanh nghiệp nhà nước (DNNN) năm
2003, công ty nhà nước (CTNN) được định nghĩa là “doanh nghiệp do Nhà nước sở
hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy
định của Luật này.”. Như vậy, CTNN có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, CTNN là một hình thức tổ chức của DNNN.Nói cách khác, nội hàm
của khái niệm CTNN hẹp hơn nội hàm của DNNN.Theo Điều 1 Luật DNNN năm
2003, DNNN có thể được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.Tiếp đó CTNN lại có thể được tổ chức dưới hình
thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước (khoản 1 Điều 3 Luật
DNNN).
Thứ hai, CTNN là tổ chức kinh tế của Nhà nước, là một trong những cơ sở kinh
tế của nền kinh tế quốc dân nhằm thực hiện cùng lúc cả hai chức năng kinh tế và
4
mục tiêu, nhiệm vụ xã hội. Các mục tiêu, nhiệm vụ xã hội thay đổi tùy theo hoàn

Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm rõ lực lượng nòng cốt để hướng nền
kinh tế phát triển theo định hướng XHCN. Đây không chỉ là vai trò kinh tế mà còn
là vai trò chính trị đặc biệt quan trọng của DNNN nói chung và CTNN nói riêng.
5
Hai là, CTNN là một trong những bảo đảm cho điều kiện phát triển, những cân
đối lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân như cân đối cung cầu, cán cân thanh toán
quốc tế, thu chi ngân sách…
Ba là, hệ thống CTNN góp phần quan trọng khắc phục những khiếm khuyết của
cơ chế thị trường. CTNN được thành lập nhằm đầu tư vào những ngành, những lĩnh
vực, địa bàn thiết yếu nhưng các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư,
không thể đầu tư hoặc không đủ khả năng tham gia như việc đầu tư làm đường xá,
cầu cống, đầu tư, phát triển tại các vùng sâu, địa bàn khó khăn…
Bốn là, CTNN là lực lượng xung kích trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo
sự tuân thủ pháp luật, đi đầu và góp phần đẩy nhanh việc ứng dụng tiến bộ khoa học
– công nghệ nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Năm là, CTNN góp phần quan trọng trong việc tích lũy, đóng góp ngân sách nhà
nước.
Sáu là, CTNN góp phần không nhỏ trong việc đảm nhận những trách nhiệm xã
hội như: giải quyết việc làm cho người lao động; nhất là các nhóm xã hội dễ bị tổn
thương; phát triển những vùng khó khăn, kém phát triển; cung cấp dịch vụ bảo đảm
các mục tiêu xã hội.v.v
Bảy là, hiện này các DNNN nói chung và CTNN nói riêng luôn được Nhà nước
dành cho những nguồn lực lớn để sử dụng như những yếu tố mang tính hạt nhân,
nòng cốt trong việc liên doanh, liên kết làm đối trọng trong cạnh tranh trên thị
trường trong và ngoài nước. Qua đó, vừa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, vừa
bào đảm định hướng XHCN cho nền kinh tế.
Trong trường hợp của Công ty Thăng Long trước chuyển đổi, là một công ty an
ninh, công ty có vai trò chủ yếu là sản xuất, kinh doanh các trang thiết bị, phương
tiện kỹ thuật phục vụ công tác của ngành an ninh như nhập khẩu súng, đạn cho
Tổng cục cảnh sát, cung cấp các thiết bị phòng cháy chữa cháy… Công ty được Bộ

Theo Điều 7 và khoản 1, 2 Điều 8 Nghị định 25/2010 ngày 19/3/2010 về chuyển
đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức
quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu,
các CTNN thuộc các đối tượng sau sẽ phải chuyển đổi thành công ty TNHH một
thành viên khi đáp ứng đủ các điều kiện:
“Điều 7. Đối tượng chuyển đổi
1. Công ty nhà nước độc lập.
2. Công ty nhà nước là công ty mẹ tập đoàn kinh tế nhà nước; công ty mẹ
trong tổng công ty nhà nước; công ty mẹ trong tổng công ty thuộc tập đoàn kinh tế
nhà nước; công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con (gọi chung là công ty
mẹ).
3. Công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty nhà nước, tập
đoàn kinh tế nhà nước.
7
4. Đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc tổng công ty nhà nước, công ty mẹ
của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước;
5. Công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, nông trường quốc doanh, lâm
trường quốc doanh.
Điều 8. Điều kiện chuyển đổi
1. Các doanh nghiệp quy định tại Điều 7 Nghị định này được tổ chức lại,
chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khi đáp ứng đủ các
điều kiện sau:
a) Các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 7 Nghị định này
thuộc ngành, lĩnh vực, địa bàn mà Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn; được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt.
Công ty mẹ trong tổng công ty thuộc tập đoàn kinh tế nhà nước và các đối
tượng quy định tại khoản 3 và 4 Điều 7 Nghị định này không thuộc diện Nhà nước
nắm giữ 100% vốn điều lệ, nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển, nắm giữ các bí quyết kinh doanh, công
nghệ, thông tin của tổng công ty, tập đoàn mà tổng công ty, tập đoàn nắm giữ

hữu thì cá nhân đó sẽ trực tiếp
thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của chủ sở hữu theo quy
định của pháp luật. Nếu một tổ
chức là chủ sở hữu thì chủ sở
hữu đó sẽ phải bổ nhiệm một
hoặc một số người đại diện
theo ủy quyền với nhiệm kỳ
không quá 5 năm để thực hiện
quyền và nghĩa vụ của chủ sở
hữu.
- Chủ sở hữu có quyền thay thế
người đại diện bất cứ khi nào.
(khoản 2 Điều 3 Luật doanh
nghiệp 2005
- Nhà nước là chủ sở hữu công
ty nhà nước.
- Chính phủ thống nhất tổ chức
thực hiện quyền, nghĩa vụ của
chủ sở hữu đối với công ty nhà
nước (Điều 62 Luật doanh
nghiệp nhà nước). Ngoài ra, một
số chủ thể khác cũng có thể thực
hiện một số quyền và nghĩa vụ
của chủ sở hữu đối với CTNN
khi được ủy quyền như các bộ
quản lý ngành liên quan. Vì Nhà
nước chỉ là một thiết chế nên
cần có một chủ thể làm đại diện
chủ sở hữu tại CTNN. Ở các

giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. (khoản 2 Điều 10 Luật
DNNN 2003)
Phạm vi chịu
trách nhiệm
Chủ sở hữu công ty chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi số vốn điều lệ
của công ty.
- CTNN có nghĩa vụ “chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và
các nghĩa vụ tài sản khác của
công ty trong phạm vi số tài sản
của công ty.”(khoản 1 Điều 14
Luật DNNN 2003).
- Người đại diện chủ sở hữu nhà
nước chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của công ty trong phạm vi
số vốn của Nhà nước đầu tư tại
công ty.
Sau khi được chuyển sang công ty TNHH một thành viên, nghĩa
vụ của ông chủ nhà nước về tài sản sẽ chỉ giới hạn trong phạm vi
vốn điều lệ của doanh nghiệp. Đây là cơ sở pháp lý cần thiết để
chấm dứt tình trạng dựa dẫm, trông chờ vào sự bảo hộ của Nhà
nước đối với DNNN cũng như đối tác làm ăn của họ; buộc DNNN
phải tồn tại và phát triển bằng chính khả năng của mình.
Huy động vốn Không được phát hành cổ
phiếu nhưng được phát hành

đại diện theo ủy quyền với
nhiệm kỳ không quá 5 năm để
thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của mình theo quy định của
Luật doanh nghiệp và pháp luật
có liên quan:
+ Trường hợp có ít nhất 2
người được bổ nhiệm làm đại
diện theo ủy quyền thì cơ cấu
tổ chức quản lý của công ty bao
gồm: Hội đồng thành viên,
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
và Kiểm soát viên; trong
trường hợp này Hội đồng thành
viên bao gồm tất cả người đại
diện theo ủy quyền
+ Trường hợp có một người
được bổ nhiệm làm người đại
diện theo ủy quyền thì người
đó làm Chủ tịch công ty; trong
trường hợp này cơ cấu tổ chức
quản lý của công ty bao gồm
Chủ tịch công ty, Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc và Kiếm
soát viên.
- Cơ cấu tổ chức quản lý công
ty TNHH một thành viên là cá
nhân:
+ Công ty TNHH một thành
viên là cá nhân có Chủ tịch

Phó tổng giám đốc, kế toán
trưởng và bộ máy giúp việc.
Điểm khác biệt lớn nhất giữa cơ cấu tổ chức của CTNN và công ty
TNHH một thành viên là ở chức danh Kiểm soát viên. Trong các
11
công ty TNHH một thành viên là tổ chức, đặc biệt khi tổ chức đó
là Nhà nước, thì Kiểm soát viên có ý nghĩa vô cùng quan trọng
nhưng pháp luật lại đang bỏ ngỏ nhiều lỗ hổng trong các quy định
đối với Kiểm soát viên.
Hạn chế đối
với quyền của
chủ sở hữu
- Chủ sở hữu chỉ được quyền
rút vốn bằng cách chuyển
nhượng một phần hoặc toàn bộ
số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc
cá nhân khác; trường hợp rút
một phần hoặc toàn bộ vốn đã
góp ra khỏi công ty dưới hình
thức khác thì phải liên đới chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và
nghĩa vụ tài sản khác của công
ty.
- Chủ sở hữu công ty không
được rút lợi nhuận khi công ty
không thanh toán đủ các khoản
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
đến hạn.
Chủ sở hữu không phải chịu hạn
chế gì ngoài các nghĩa vụ đã

khi được chuyển đổi, xét về mặt pháp lý, Công ty Thăng Long đã hoàn tất các thủ
tục để chuyển từ CTNN thành công ty TNHH một thành viên, hoạt động theo Luật
doanh nghiệp 2005. Tuy nhiên, về mặt cơ cấu tổ chức, quản lý trong doanh nghiệp
vẫn chậm được hoàn thiện.
2. Tính tất yếu và ý nghĩa của việc chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty
TNHH MTV
2.1. Cơ sở lý luận
DNNN đã tồn tại phổ biến từ lâu trong nền kinh tế nước ta và luôn giữ vai trò
chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong thời kỳ tồn tại cơ chế kế hoạch
hóa tập trung. Chuyển sang cơ chế thị trường, việc làm thế nào để các CTNN vốn
hình thành trong nền kinh tế kế hoạch trước kia có thể tiếp tục tồn tại và phát triển
đã trở thành một vấn đề cấp bách cần phải giải quyết. Tuy vậy, mãi tới năm 1995,
mới có những nỗ lực đầu tiên để “công ty hóa” về mặt ý niệm đối với DNNN.Cụ
thể là, Luật doanh nghiệp nhà nước 1995 và sau này là Luật doanh nghiệp nhà nước
2003 đã được ban hành. Bước sang thời kỳ mới này, kinh tế ngoài quốc doanh trong
nước phát triển mạnh mẽ, các CTNN mất dần vị trí độc quyền trong các ngành nghề
lĩnh vực. Các CTNN lúc này không những phải đương đầu với các thành phần kinh
tế khác trong nước mà còn phải đương đầu cạnh tranh với hàng hóa và kỹ thuật
nước ngoài. Cải cách CTNN trong bối cảnh đó được coi là khâu trung tâm để xây
dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước. Do đó, Đảng và Nhà nước thực hiện nhiều chủ trương, biện pháptích
cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả của CTNN. Nhưng các CTNN vẫn còn tồn
tại những mặt hạn chế yếu kém nhất định như: quy mô nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất
hợp lý, chưa tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt; trình độ công nghệ còn lạc
hậu; quản lý còn yếu kém; chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất
kinh doanh, kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với sự hỗ trợ ưu đãi của
Nhà nước; v.v
13
2.2. Cơ sở thực tiễn
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có những điều chỉnh với khối CTNN cho phù hợp

bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử giữa các DNNN và
công ty tư nhân, giữa các CTNN với các công ty nước ngoài trong hoạt động kinh
14
doanh. Ngoài ra, các thành viên còn phải cam kết giảm dần vai trò của các DNNN,
còn đối với một số lĩnh vực cần phải giữ lại sự độc quyền của Nhà nước thì phải xác
định lộ trình bãi bỏ và phải thông báo với các thành viên WTO. Có thể thấy, đây
chính là một trong các yêu cầu khách quan của việc chuyển đổi từ mô hình DNNN
nói chung hay CTNN nói riêng.
Do đó, việc cải cách kinh tế là yêu cầu bắt buộc. Trong đó, yêu cầu cải cách toàn
diện khối CTNN cả về cơ cấu và cơ chế quản lý để nâng cao khả năng cạnh tranh
trước hết là trong nước và cao hơn là trên trường quốc tế.
2.3. Ý nghĩa
Việc chuyển đổi các công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên (TNHH) tuy không mang tính đột phá như cổ phần hóa, nhưng là cần
thiết và có ý nghĩa nhất định:
Một là, với việc chuyển đổi doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn thành
công ty TNHH một thành viên, bên cạnh mục tiêu để thực hiện thống nhất một Luật
Doanh nghiệp, còn nhằm mục đích đổi mới tổ chức quản lý, cơ chế hoạt động, tạo
sự bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác. Đây là quá trình “công ty hóa”
các CTNN, tạo vị thế “công ty” cho CTNN – có địa vị pháp lý của một pháp nhân
kinh tế, có tài sản độc lập với cá nhân và tổ chức khác, kể cả với Nhà nước, có
quyền nhân danh công ty tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập, tách bạch
hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các CTNN.
Hai là, việc chuyển đổi sang Luật Doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế, tạo mặt bằng pháp lý với các thành phần kinh tế khác, thực hiện
cam kết WTO là Nhà nước thực hiện các quyền chủ sở hữu tương tự như các chủ
doanh nghiệp hay cổ đông khác không phải Nhà nước.
Ba là, việc chuyển đổi các CTNN góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của
CTNN, từ đó đưa hệ thống DNNN chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời bảo
vệ lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của quốc gia trong hoạt động kinh tế đối

tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh
(như công ty Thăng Long) sẽ được tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của
Luật doanh nghiệp 2005 và quy định riêng của Chính phủ. Tuy nhiên, kết thúc thời
hạn này cả nước mới có gần 4000 doanh nghiệp được cổ phần hóa; Nhà nước còn
nắm giữ 100% vốn ở 1.206 doanh nghiệp, trong đó đã chuyển đổi khoảng hơn 900
doanh nghiệp thành công ty TNHH một thành viên. Số còn lại 300 doanh nghiệp,
hoặc sẽ được tiếp tục cổ phần hóa theo kế hoạch trong năm 2010, hoặc sẽ được
chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên trong tháng 7/2010, số không đủ
điều kiện chuyển đổi sẽ tiến hành cơ cấu lại nợ để chuyển thành CTCP hoặc công ty
TNHH hai thành viên trở lên, nếu không sắp xếp được theo các hình thức trên thì
tiến hành bán hoặc cho phá sản mà không cấp bổ sung vốn.Trong giai đoạn này,
16
Công ty Thăng Long cũng chưa tiến hành chuyển đổi thành CTTNHH một thành
viên.
- Giai đoạn hai: Để tạo khung pháp lý và cơ chế thúc đẩy chuyển đổi các công ty
nhà nước còn lại, chủ yếu là các doanh nghiệp quy mô lớn và các nông – lâm
trường quốc doanh trước ngày 1-7-2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
25/2010/NĐ-CP ngày 19-3-2010 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty
TNHH một thành viên và tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên do Nhà
nước làm chủ sở hữu.
Một số điểm mới đáng lưu ý của Nghị định số 25/2010/NĐ-CP gồm:
• Đơn giản hóa trình tự, thủ tục chuyển đổi. Chỉ những doanh nghiệp mà
Nhà nước giữ 100% vốn thì thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục. Những
doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa nhưng tạm chuyển thành công ty
TNHH một thành viên sau đó tiếp tục chuyển thành công ty cổ phần thì
không phải lập phương án và thực hiện xử lý tài sản, tài chính, sắp xếp lại
lao động, sử dụng đất. Doanh nghiệp là công ty nông nghiệp, công ty lâm
nghiệp, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh thì đất rừng và
các tài sản trên đất rừng được chuyển giao nguyên trạng sang công ty
TNHH một thành viên.

Bài chuyên đề lấy đối tượng nghiên cứu là quá trình chuyển đổi tại công ty
Thăng Long, một công ty nhà nước độc lập, sang công ty TNHH một thành viên
BCA Thăng Long, do đó các chế độ pháp lý dưới đây sẽ chỉ xem xét đối với loại
hình công ty nhà nước độc lập mà không đề cập đến các loại hình khác.
1. Đối tượng và điều kiện chuyển đổi
Theo Điều 7 Nghị định 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 của Chính phủ về
chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên và tổ chức quản
lý công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu (sau đây gọi là Nghị
định 25/2010/NĐ-CP) quy định:
“Điều 7. Đối tượng chuyển đổi
1. Công ty nhà nước độc lập.
2. Công ty nhà nước là công ty mẹ tập đoàn kinh tế nhà nước; công ty mẹ
trong tổng công ty nhà nước; công ty mẹ trong tổng công ty thuộc tập đoàn kinh tế
nhà nước; công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con (gọi chung là công ty
mẹ).
3. Công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty nhà nước, tập
đoàn kinh tế nhà nước.
4. Đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc tổng công ty nhà nước, công ty mẹ
của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước;
5. Công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, nông trường quốc doanh, lâm
trường quốc doanh.”
18
Không phải toàn bộ các CTNN đều có thể chuyển đổi thành công ty TNHH một
thành viên, mà chỉ những CTNN thuộc nhóm các đối tượng trên và đáp ứng các
điều kiện quy định tại Điều 8 Nghị định 25/2010/NĐ-CP mới được phép chuyển
đổi.
“Điều 8. Điều kiện chuyển đổi
1. Các doanh nghiệp quy định tại Điều 7 Nghị định này được tổ chức lại,
chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khi đáp ứng đủ các
điều kiện sau:

doanh thuộc danh mục Nhà nước cần củng cố, phát triển, duy trì 100% sở hữu được
chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên là vì các công ty hoạt động công
ích do còn được Nhà nước giao kế hoạch, được hỗ trợ bù đắp các chi phí nên không
đủ điều kiện “trách nhiệm hữu hạn” của một công ty TNHH một thành viên cũng
như chế độ TNHH của chủ sở hữu công ty, vì vậy không thể trở thành đối tượng
được chuyển đổi.
Đối với những công ty mà Nhà nước không nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ, pháp
luật không cho phép các công ty này được quyền chuyển đổi thành công ty TNHH
một thành viên bởi đặc tính của công ty đó khi chuyển đổi thành công ty TNHH
một thành viên là vẫn không thay đổi bản chất sở hữu mà chỉ thay đổi về hình thức
pháp lý. Vì vậy, việc quy định những đối tượng chuyển đổi chỉ bao gồm những
CTNN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là hợp lý.
Điều đó đồng nghĩa với việc các CTNN thuộc diện giao, bán, khoán kinh doanh,
cho thuê, giải thể, phá sản và các CTNN nằm trong kế hoạch cổ phẩn hóa không thể
là đối tượng được chuyển đổi. Vì các CTNN này thuộc diện chuyển đổi quyền sở
hữu. Điều đó làm mất đi bản chất của việc chuyển đổi từ hình thức CTNN sang
công ty TNHH một thành viên. Tuy nhiên, trong Nghị định 25/2010/NĐ-CP có quy
định các CTNN nằm trong kế hoạch cổ phần hóa nhưng đến ngày 1/7/2010 vẫn
chưa hoàn thành việc chuyển đổi thành công ty cổ phần cũng phải “tạm thời”
chuyển thành công ty TNHH một thành viên rồi sau đó sẽ tiếp tục chuyển thành
công ty cổ phần theo lộ trình, đó là nhằm mục đích đối phó với cam kết đã ký khi
gia nhập WTO.
2. Trình tự và thủ tục chuyển đổi
Về hình thức, chuyển đổi chỉ là sự thay đổi về loại hình công ty. Nhưng về thực
chất, sự thay đổi đó lại dẫn đến hàng loạt sự thay đổi bên trong của CTNN như:
thay đổi cơ cấu phòng ban, vị trí, chức danh quản lý, thay đổi cơ cấu vốn, tài sản
trong công ty… Vì vậy, để đảm bảo được hiệu quả của công việc chuyển đổi, quá
trình chuyển đổi nhất thiết phải được thực hiện một cách khoa học, tuần tự theo một
trình tự, thủ tục chặt chẽ và hợp lý.
20

của công ty trong việc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên.
- Bước thứ ba: Thành lập ban chuyển đổi CTNN thành công ty TNHH một thành
viên (gọi là Ban chuyển đổi)
21
Mục đích của việc thành lập ban chuyển đổi là để có một cơ quan giúp Giám đốc
thực hiện các công việc chuyển đổi. Thành phần gồm:Trưởng ban là Chủ tịch Hội
đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc) công ty; ủy viên thường trực là Kế
toán trưởng; ủy viên Ban chuyển đổi doanh nghiệp có thể gồm Chủ tịch Công đoàn
cơ sở, các trưởng phòng hoặc ban; đổi mới và phát triển doanh nghiệp, kế hoạch,
kinh doanh, tổ chức cán bộ, lao động; có thể mời Bí thư Đảng ủy (chi bộ) tham gia
là ủy viên Ban chuyển đổi.
Danh sách Ban chuyển đổi do chính doanh nghiệp dự kiến. Bộ, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh, Hội đồng quản trị công ty sẽ quyết định thành lập ban chuyển đổi công ty
trên cơ sở danh sách dự kiến do công ty lập.
- Bước thứ tư: Thông báo chuyển đổi
Theo khoản 3 Điều 9 Nghị định 25/2010/NĐ-CP quy định: “Doanh nghiệp
chuyển đổi thông báo cho người lao động trong doanh nghiệp biết về kế hoạch và
lộ trình chuyển đổi trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo quy
định tại khoản 1 Điều này.”. Đây là một thủ tục bắt buộc với CTNN khi chuyển đổi
thành công ty TNHH một thành viên. Pháp luật quy định như vậy nhằm bảo vệ
nhữn người lao động trong công ty – chủ thể chịu nhiều ảnh hưởng nhất của việc
chuyển đổi.
2.2. Xây dựng đề án chuyển đổi (khoản 4, 5 Điều 9 Nghị định 25/2010/NĐ-CP)
Tiếp theo công việc chuẩn bị là xây dựng đề án chuyển đổi. Đây là bước có ý
nghĩa quan trọng trong quá trình chuyển đổi. Một phương án chi tiết, cụ thể, khoa
học mang tính khả thi cao được đưa ra sẽ tạo ra nhiều thuận lợi cho các bước tiếp
theo là thẩm định, phê duyệt, quyết định chuyển đổi và đăng ký kinh doanh.
Ban chuyển đổi công ty cần tiến hành các bước sau:
Thứ nhất, chuẩn bị hồ sơ, tài liệu có liên quan đến chuyển đổi doanh nghiệp;
Thứ hai,kiểm kê, phân loại, xác định vốn, tài sản doanh nghiệp đang quản lý, sử

- Các khoản nợ phải thu: các đơn vị thành viên tổng công ty dự kiến chuyển đổi
và hình thành công ty mẹ có trách nhiệm tiếp nhận các khoản nợ phải thu của doanh
nghiệp chuyển đổi và thu hồi những khoản nợ đến hạn trước khi chuyển đổi. Đến
thời điểm chuyển đổi còn nợ tồn đọng phải thu khó đòi thì xử lý theo quy định hiện
hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn đọng;
- Các khoản nợ phải trả: doanh nghiệp có trách nhiệm kế thừa các khoản nợ phải
trả cho các chủ nợ theo cam kết, kể cả các khoản nợ thuế, ngân sách, nợ cán bộ,
công nhân viên; thanh toán các khoản nợ đến hạn. Các khoản nợ phải trả không có
người đòi, giá trị tài sản không xác định được chủ sở hữu được tính vào vốn chủ sở
hữu. Trường hợp công ty có khó khăn về khả năng thanh toán các khoản nợ quá hạn
thì được xử lý theo quy định hiện hành của Nhà nước về xử lý nợ tồn đọng;
- Doanh nghiệp có trách nhiệm sắp xếp, sử dụng lao động theo quy định của pháp
luật về lao động và sắp xếp lại công ty nhà nước; thực hiện chế độ đối với lao động
23
dôi dư theo nguyên tắc mỗi doanh nghiệp chỉ được Nhà nước cấp kinh phí một lần
để giải quyết chế độ đối với lao động dôi dư; kế thừa mọi quyền, nghĩa vụ đối với
người lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Áp dụng các quy định trên, trong quá trình chuyển đổi của mình công ty Thăng
Long đã thực hiện đầy đủ các phương án xử lý vốn, tài sản, tài chính, lao động. Cụ
thể:
- Về phương án xử lý tài chính: công ty đã kiểm kê và xác định vốn chủ sở hữu
của doanh nghiệp tính đến thời điểm 31/12/2010 là 66.865 triệu đồng. Công ty chịu
trách nhiệm kế thừa và xử lý các khoản nợ chưa thanh toán (trừ các khoản nợ được
xử lý tài chính đối với công ty nhà nước thực hiện chuyển đổi theo quy định). Cục
Tài chính chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan hướng dẫn doanh nghiệp lập
báo cáo tài chính tại thời điểm Công ty TNHH một thành viên BCA – Thăng Long
được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD, hướng dẫn việc quyết toán thuế, đăng ký mã số
thuế và quyết toán chi phí chuyển đổi công ty Thăng Long thành Công ty TNHH
một thành viên.
- Về phương án sử dụng đất: Tổng diện tích đất an ninh, quốc phòng Bộ Công an

Công an nhân dân, Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp Bộ công an và Công ty
BCA – Thăng Long đề xuất bộ máy tổ chức, quản lý nhân sự cụ thể của Công ty
TNHH một thành viên BCA – Thăng Long báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét,
quyết định.
2.3. Thẩm định, phê duyệt và triển khai thực hiện đề án chuyển đổi
Theo điểm a khoản 6 Điều 9 Nghị định 25/2010/NĐ-CP, người quyết định thành
lập doanh nghiệp là người thẩm thẩm định và phê duyệt Đề án chuyển đổi do công
ty trình. Trong trường hợp của công ty Thăng Long, người có thẩm quyền phê duyệt
là Bộ trưởng Bộ công an.
Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp Bộ Công an sẽ có trách nhiệm tổ chức
thực hiện, đôn đốc và giám sát Công ty BCA – Thăng Long trong quá trình thực
hiện đề án chuyển đổi .
2.4. Bổ nhiệm người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu và các chức danh
quản lý, điều hành công ty (khoản 7 Điều 9 Nghị định 25/2010/NĐ-CP)
So với Nghị định 95/2006/NĐ-CP đây là một quy định mới trong điều khoản về
trình tự chuyển đổi nhằm hoàn thiện và làm rõ chủ thể có thẩm quyền bổ nhiệm
người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu và các chức danh quản lý, điều hành.
Theo đó:
- Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm các thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát
viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là
công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ chuyển đổi từ tổng công ty
do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ
quản lý ngành.
- Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bổ nhiệm các
thành viên Hội đồng thành viên, Kiểm soát viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc
Chủ tịch công ty đối với các công ty mà mình được phân công, phân cấp thực hiện
25

Trích đoạn Phân công, phân cấp, thực hiện quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh sau chuyển đổ Xây dựng và duy trì cơ chế giám sát, kiểm soát
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status